Khóa luận tốt nghiệp: Chính sách quản lý ngoại hối của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính - Pdf 14



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHI PHÍ
TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Trần Thị Tuyết Nhung
Lớp : Anh 4
Khóa : 45B - QTKD
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng


QUẢN LÝ CHI PHÍ TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM 54
3.1. Giải pháp từ phía Nhà nƣớc 55
3.1.1. Xây dựng mô hình kinh tế quản trị tại Việt Nam 55
3.1.2. Một số giải pháp cho việc xây dựng kế toán quản trị trong doanh
nghiệp 58
3.2. Giải pháp từ phía các công ty cổ phần Việt Nam 60
3.2.1. Xây dựng dự toán ngân sách cho các công ty cổ phần Việt Nam có
quy mô nhỏ và vừa 60
3.2.2.Áp dụng phương pháp ABC cho các doanh nghiệp nhỏ 63
3.2.3. Xây dựng ý thức tiết kiệm chi phí 69
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 74
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng 1. Số lượng công ty cổ phần theo các năm 36
Bảng 2 . Số công ty cổ phần theo quy mô vốn tại thời điểm 31/12/2009 37

Sơ đồ 1 : Hệ thống dự toán chi phí sản xuất kinh doanh 16
Sơ đồ 2. Quản trị chi phí theo Sakurai 21
Sơ đồ 3. Chi phí mục tiêu và các giai đoạn sản xuất sản phẩm 22
Sơ đồ 4. Phương pháp chi phí mục tiêu ở Toyota được trình bày bởi Sakurai 23
Sơ đồ 5. Doanh thu thuần của các công ty cổ phần Việt Nam 38
Sơ đồ 6: Cơ cấu bộ phận kế toán trong doanh nghiệp 58
Sơ đồ 7. Hai giai đoạn của phương pháp ABC 65

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo, tới khoa Quản Trị Kinh
Doanh trường Đại học Ngoại Thương đã dìu dắt và dạy dỗ em trong suốt 4 năm học

tính đến là việc quản lý chi phí và tiết kiệm chi phí ngày càng hiệu quả hơn để sản
phẩm, dịch vụ của mình có giá cả phù hợp với khách hàng nhưng chất lượng luôn
được đảm bảo và không ngừng được cải thiện quản lý chi phí là một cách để kiểm
soát hoạt động doanh nghiệp hiệu quả nhất.
Và chính trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay, loại
hình công ty cổ phần được đánh giá là loại hình doanh nghiệp có nhiều ưu điểm nổi
bật và là xu hướng phát triển tất yếu trong thời kỳ này. Chính vì vậy Nhà nước ta đã
có rất nhiều chính sách khuyến khích cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và
tạo điều kiện để loại hình công ty này phát triển. Số lượng công ty cổ phần được
hình thành và hoạt động ngày càng nhiều, cùng cạnh tranh bình đẳng với các loại
hình doanh nghiệp khác góp phần tạo ra sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất
nước. Trong điều kiện đó việc để các công ty cổ phần hoạt động ngày càng hiệu quả
để bắt kịp và giữ vững vị thế trong nền kinh tế hội nhập thì việc nâng cao chất
lượng quản lý chi phí ở mỗi công ty càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Từ thực tiễn trên em đã chọn đề tài : “ Hoạt động quản lý chi phí tại các công
ty cổ phần Việt Nam”.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Lý luận chung về chi phí và quản lý chi phí.

2
- Nghiên cứu thực trạng quản lý chi phí tại các công ty cổ phần Việt Nam (
chủ yếu các công ty có quy mô vốn vừa và nhỏ ), từ đó đưa ra một số đề xuất để các
công ty cổ phần áp dụng các biện pháp quản lý chi phí hiệu quả hơn.
Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp biện chứng duy vật
- Phương pháp logic
- Phương pháp tổng hợp phân tích
- Phương pháp khảo sát
Kết cấu của luận văn
Chương I: Những lý luận chung về chi phí và quản lý chi phí

cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Từ định nghĩa như vậy, phân tích qua khái niệm về chi phí, có thể thấy ngay
kiểm soát và tiết kiệm chi phí tốt sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Chi
phí là một trong những thông tin quan trọng hàng đầu trong quá trình tổ chức điều
hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị và đứng trên góc độ kế
toán, các thông tin mà các nhà quản trị cần hầu hết đều liên quan đến chi phí.
Dưới góc độ quản lý hay dưới góc độ kế toán quản trị, chi phí không đơn
giản được nhận thức theo quan điểm của kế toán tài chính như trên, mà nó được
nhìn nhận theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng thông tin một cách toàn
diện cho các nhà quản trị trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định. Theo
đó chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất
kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, chi phí cũng có thể là những phí tổn ước
tính để thực hiện một dự án hoặc những lợi nhuận bị mất đi do lựa chọn phương án,
hy sinh cơ hội kinh doanh.
1.1.2. Đặc điểm của chi phí:
Có nhiều tiêu thức phân loại chi phí, mỗi tiêu thức đều có ý nghiã khác nhau
đối với quá trình quản trị doanh nghiệp.
a. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí:

4
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mối quan hệ của chi phí và kết quả sản
xuất kinh doanh, chi phí chia thành 2 dạng cơ bản:
* Chi phí biến đổi hay còn gọi là biến phí là các khoản chi phí biến đổi theo
kết quả sản xuất hay quy mô hoạt động, các khoản chi phí này thường tỷ lệ thuận
với kết quả sản xuất hay quy mô hoạt động, ví dụ chi phí vật liệu chính dùng để sản
xuất sản phẩm…
Chi phí biến đổi có đặc điểm là tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm sản
xuất, nhưng khi tính cho một đơn vị kết quả thì cố định. Do vậy để kiểm soát các
khoản chi phí biến đổi các nhà quản trị doanh nghiệp thường xây dựng định mức
chi phí biến đổi cho mỗi đơn vị kết quả sản xuất.


6
- Định phí thuộc tính đó là các khoản chi phí cố định thường gắn với hoạt
động của các bộ phận trong tổ chức doanh nghiệp, ví dụ như chi phí thuê nhà xưởng
của các phân xưởng, chi phí quảng cáo, nghiên cứu, giao dịch,… Do vậy khi các bộ
phận không tồn tại thì định phí thuộc tính cũng mất đi.
- Định phí bắt buộc là các khoản chi phí thường gắn với cấu trúc của một
tổ chức kinh tế, do vậy khi các bộ phận không tồn tại thì định phí bắt buộc vẫn phát
sinh, ví dụ tiền thuê văn phòng hoạt động của doanh nghiệp. Hai đặc điểm cơ bản
của định phí bắt buộc:
+ Chúng tồn tại lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
+ Chúng không thể cắt giảm đến bằng không trong một thời gian ngắn.
Các nhà quản trị kinh doanh muốn kiểm soát các khoản chi phí cố định
thường căn cứ vào mức độ của quy mô hoạt động và công suất của các tài sản đang
sử dụng.
* Chi phí hỗn hợp đó là các khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và
định phí. Thường ở mức độ hoạt động căn bản thì chi phí hỗn hợp thể hiện định phí,
khi vượt khỏi mức độ hoạt động căn bản thì chi phí hỗn hợp bao gồm cả biến phí.
Trong thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí hỗn hợp thường thể
hiện như chi phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí bán hàng, chi
phí quản lý doanh nghiệp.
Việc phân loại chi phí theo cách ứng xử giúp:
- Doanh nghiệp thiết kế, xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ
giữa chi phí - khối lượng – lợi nhuận.
- Phân tích chi phí, phân tích điểm hòa vốn để ra quyết định kinh doanh
nhanh chóng.
- Xác định đúng đắn phương hướng sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng
các loại chi phí.
b. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động:

thông hàng hóa, nhằm đảm bảo đưa hàng đến tay người tiêu dùng. Chi phí bán hàng
thường bao gồm nhiều yếu tố chi phí như: chi phí lương nhân viên bán hàng; chi phí
nguyên nhiên vật liệu dùng trong bộ phận bán hàng …
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp thường bao gồm nhiều yếu tố chi phí – tất cả

8
những chi phí liên quan đến công việc hành chính, quản trị ở phạm vi toàn
doanh nghiệp.
Cách phân chia chi phí theo chức năng hoạt động và từng yếu tố chi phí có ý
nghĩa đối với các nhà quản trị kinh doanh trong việc xây dựng các dự toán chi phí
nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh.
c. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với kỳ tính kết quả kinh doanh:
- Chi phí sản phẩm đó là các khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất
hay quá trình mua hàng. Đối với một đơn vị sản xuất chi phí sản phẩm chính là chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
Đối với một đơn vị kinh doanh thương mại chi phí sản phẩm chính là giá mua và
chi phí mua hàng. Chi phí sản phẩm phát sinh và ảnh hưởng đến nhiều kỳ báo cáo,
nói cách khác, sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm trải qua nhiều
kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau. Vì vậy khi xác định chi phí sản phẩm, chúng ta
cần xem xét đến các giai đoạn chuyển tiếp và mức độ chuyển tiếp của chúng.
- Chi phí thời kỳ thường liên quan và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp trong một thời kỳ. Chi phí thời kỳ không phải là một phần của giá trị sản
phẩm sản xuất hoặc hàng hóa mua vào mà chúng là những dòng chi phí được khấu
trừ vào kỳ tính lợi nhuận. Chi phí thời kỳ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp tồn tại khá phổ biến như chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí quảng
cáo…
Cách phân chia này giúp các nhà quản trị kinh doanh xác định tương đối
chính xác lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ hạch toán.
d. Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí:
- Chi phí trực tiếp đó là các khoản chi phí mà kế toán có thể tập hợp trực

một quá trình liên tục, có hệ thống đòi hỏi các biện pháp phù hợp tính chất của chi
phí, chiến lược, kế hoạch kinh doanh của đơn vị.
Còn nếu hiểu theo quan điểm quản lý trên, quản lý chi phí cũng gồm ba bước
cơ bản: lập kế hoạch chi phí, thực hiện kế hoạch, kiểm soát chi phí.
Lập kế hoạch chi phí là việc ước tính bao nhiêu nguồn lực cần sử dụng để
hoàn thành một sản phẩm, dịch vụ hay một dự án của doanh nghiệp. Dựa trên
những số liệu từ những kỳ kinh doanh trước, nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
và các thông tin liên quan khác, các yêu cầu về nguồn lực sẽ được thiết lập. Từ

10
những yêu cầu về nguồn lực đó, doanh nghiệp sẽ ước tính chi phí cần thiết cụ thể
cho mỗi hoạt động.
Trên cơ sở lập kế hoạch chi phí, doanh nghiệp triển khai thực hiện theo kế
hoạch đã đề ra. Và bước cuối cùng của quy trình quản lý chi phí là kiểm soát chi
phí. Kiểm soát chi phí được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch chi
phí để bảo đảm duy trì chi phí trong giới hạn đã đề ra hoặc có những điều chỉnh để
kế hoạch hợp lý hơn, mà vẫn duy trì được hiệu quả. Để kiểm soát chi phí thật tốt,
thông tin về chi phí phải được cập nhật đầy đủ, kịp thời và chính xác. Thông tin chi
phí chính là nguồn nguyên liệu đầu vào rất quan trọng cho quá trình ra quyết định
của doanh nghiệp ở trong nhiều ngành như là các quyết định về định giá bán sản
phẩm, quyết định tự sản xuất hay mua ngoài, quyết định mở rộng hay thu hẹp sản
xuất, quyết định đầu tư cho một dự án mới, … đều liên quan đến chi phí. Chính vì
vậy tổ chức tập hợp phân tích chi phí chính xác, kịp thời sẽ đem lại hiệu quả cao
cho công tác quản lý chi phí.
1.2.2. Nội dung và vai trò của quản lý chi phí
Từ khái niệm về chi phí, có thể thấy quản lý chi phí bao gồm những nội dung
cụ thể sau:
- Hạch tóan đầy đủ chính xác các khoản chi phí phát sinh trong đơn vị nhằm
cung cấp thông tin về chi phí cho các bộ phận có liên quan;
- Tiến hành phân tích và đánh giá tình hình chi phí phát sinh tại doanh

a.1. Xây dựng định mức chi phí ( định mức phí )
Việc quản lý và kiểm soát các chi phí là rất cần thiết. Nhưng làm thế nào để
biết được doanh nghiệp đang thực hiện những khoản chi đúng? Và nên giảm những
khoản chi nào bao nhiêu là đủ, là hợp lý? Chính vì vậy, trong quản lý và kiểm soát
chi phí, cần quyết định khoản nào cần chi – rồi kiểm soát các khoản chi trong thực
tế để đạt được chi phí định mức đã đề ra.
Định mức chi phí( hay chi phí tiêu chuẩn ) có liên quan đến từng đơn vị sản
phẩm cụ thể. Mỗi sản phẩm chế tạo hoặc dịch vụ đều có một định mức phí.
Định mức phí là khoản chi phí đươc định trước bằng cách lập ra những tiêu
chuẩn gắn với từng trường hợp hay từng điều kiện làm việc cụ thể.
Định mức chi phí không những chỉ ra được một khoản chi dự kiến là bao
nhiêu mà còn xác định nên chi trong trường hợp nào.

12
a.1.1.Công dụng của chi phí định mức:
Định mức phí mang lại nhiều công dụng cho doanh nghiệp sử dụng nó,
những công dụng nổi bật như sau:
- Định mức phí là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán hoạt động vì muốn
lập dự toán chi phí nguyên vật liệu phải cố định mức nguyên vật liệu, chi phí nhân
công phải có định mức số giờ công.
- Định mức phí giúp cho các nhà quản lý kiểm soát hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp vì chi phí định mức là tiêu chuẩn , cơ sở để đánh giá.
- Định mức phí gắn liền trách nhiệm của công nhân đối với việc sử dụng
nguyên vật liệu sao cho tiết kiệm.
Định mức chi phí có thể áp dụng cho mọi khoản chi ở doanh nghiệp, có thể
bao gồm:
- Chi phí lao động trực tiếp
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí chung ( có thể là chi phí cố định hay chi phí biến đổi )
Lưu ý rằng chi phí luôn thay đổi vì vậy các định mức cần phải được xem xét

Về mặt giá nguyên vật liệu: Phản ánh giá cuối cùng của một đơn vị nguyên
vật liệu trực tiếp sau khi đã trừ đi mọi khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng
bán. Định mức về giá nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm là:
- Giá mua ( trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán).
- Chi phí thu mua nguyên vật liệu
Như vậy ta có:
Định mức về chi phí NVL = Định mức lượng*định mức giá
- Xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp:
Định mức về giá một đơn vị thời gian lao động trực tiếp: bao gồm không chỉ
mức lượng căn bản mà còn bao gồm cả các khoản phụ cấp lương, Bảo hiểm xã hội,
Bảo hiểm y tế, Kinh phí công đoàn của lao động trực tiếp. Định mức giá 1 giờ công
lao động trực tiếp ở một phân xưởng như sau:
- Mức lương căn bản một giờ
- Bảo hiểm xã hội
Định mức về lượng thời gian cho phép để hoàn thành 1 đơn vị sản phẩm. Có
thể được xác định bằng 2 cách:

14
- Phương pháp kỹ thuật : chia công việc theo nhiều công đoạn rồi kết hợp
với bảng thời gian tiêu chuẩn của những thao tác kỹ thuật để định thời gian chuẩn
cho từng công việc.
- Phương pháp bấm giờ
Về lượng thời gian để sản xuất 1 sản phẩm được xác định như sau: Thời gian
cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm; Thời gian nghỉ ngơi, lau chùi máy; Thời gian tính
cho sản phẩm hỏng.
Như vậy ta có:
Định mức chi phí NCTT = Định mức lượng*Định mức giá
Định mức chi phí sản xuất chung
 Định mức biến phí sản xuất chung
Cũng được xây dựng theo định mức giá và lượng. Định mức giá phản ánh

đến quá trình quản lý chỉ tiêu để có những điều chỉnh phù hợp.
- Là cơ sở cho việc phân tích tình hình biến động chi phí, xác định rõ nguyên
nhân khách quan cũng như chủ quan trong quá trình thực hiện dự toán. Từ đó thấy
được những mặt mạnh cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục. 16
Dự toán có nhiều loại khác nhau để thích ứng với từng nhu cầu riêng rẽ và
với từng hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp. Trong cùng một dự toán, quá trình
thực hiện dự toán cũng có thể thay đổi. Như vậy dự toán có thể được phân loại theo
những tiêu thức như:
- Dự toán theo đơn vị đo lường ( dự toán sản xuất kinh doanh, dự toán tài
chính…)
- Dự toán theo phương pháp phân loại hoạt động ( dự toán theo nguồn lực,
theo loại hoạt động… );

100% ở Anh và Hà Lan.
1

1.2.4. Xây dựng trung tâm quản lý chi phí
Nắm bắt kịp thời mọi nguồn phát sinh chi phí cũng như những nguyên nhân
gây ra chi phí để từ đó có những biện pháp cắt giảm chi phí luôn gắn với mục tiêu
tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp là việc hết sức cần thiết trong quản lý chi
phí. Bằng cách xây dựng trung tâm quản lý chi phí doanh nghiệp có thể đáp ứng tốt
yêu cầu kiểm soát chi phí một trong các nội dung của quản lý chi phí.
a. Trung tâm quản lý chi phí
Trung tâm quản lý chi phí là nơi xác định, tập hợp chi phí và sau đó gắn nó
với một đơn vị tính phí. Mỗi doanh nghiệp cần xác định các đơn vị tính phí riêng
của mình.
Hay nói cách khác một trung tâm quản lý chi phí là “ điểm “ tập hợp các chi phí. 1
Th.S Nguyễn Phú Giang, Kế toán quản trị và phân tích hoạt động kinh doanh, 2005, NXB Tài chính.

18
Điểm ở đây có nghĩa là : Một phòng ban trong một doanh nghiệp; một nơi
làm việc; một cái máy hay một dây chuyền may; một người, chẳng hạn nhân viên
bán hàng.
Việc phân chia chi phí ra thành nhiều trung tâm quản lý chi phí sec mang lại
những thuận lợi sau:
- Cho phép thu thập thông tin về chi phí dễ dàng hơn;
- Cung cấp thông tin về chi phí phát sinh ở nhiều bộ phận khác nhau của
doanh nghiệp;
- Người quản lý của một trung tâm quản lý chi phí nào đó có thể được cấp
một khoản ngân sách và thông qua đó anh ta có thể kiểm soát được chi phí.

chi phí cho phép chúng ta theo dõi được các chi phí cho từng trung tâm quản lý chi
phí. Vì vậy chúng ta cải thiện được việc kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp và
quản lý chi phí sẽ hiệu quả hơn khi chúng ta nắm chắc được từng nguyên nhân gây
ra chi phí.
Cũng cần lưu ý rằng việc lựa chọn trung tâm quản lý chi phí phụ thuộc vào ý
định kiểm soát chi phí của nhà quản lý. Và không phải lúc nào kiểm soát chi phí
thông qua tất cả các bộ phạn trong doanh nghiệp là phương pháp quản lý tốt nhất.
Tùy theo mục đích quản lý chi phí, doanh nghiệp có thể lực chọn những bộ phận
liên quan và quan trọng nhất làm trung tâm quản lý chi phí.
Như vậy với việc xây dựng trung tâm quản lý chi phí, chúng ta có thể tập
hợp thông tin chi tiết về chi phí của từng đơn vị tính phí theo các nguồn gây ra chi
phí, và từ đó dễ dàng hơn trong việc kiểm soát và quản lý chúng. Điều này cho phép
quyết định cách sử dụng tốt nhất các nguồn lực của doanh nghiệp hay cách tiết kiệm
nguồn lực.
Có thể thấy qua trung tâm quản lý chi phí với hệ thống mã chi phí khoa học
chúng ta có thể dễ dàng hơn trong việc quản lý chi phí, kiểm soát được sự lãng phí
trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
c. Phương pháp chi phí mục tiêu ( Target Cost)
Đây là một trong những phương pháp quản lý chi phí hiện đại của Nhật Bản
được áp dụng ở nhiều nước phát triển. Không ai có thể phủ nhận sự thành công của
các công ty Nhật Bản trên thương trường và một trong các lý do thành công đó là :
người Nhật Bản luôn xem quản lý chi phí là một động cơ quan trọng cho sự thành

20
công của mình. Hầu hết các nhà sản xuất Nhật Bản đều nhấn mạnh đến chi phí mục
tiêu, coi đó là công cụ kiểm soát chi phí cơ bản và hiệu quả.
“ Phương pháp chi phí mục tiêu là tổng thể các phương pháp, công cụ quản
trị cho phép đạt được mục tiêu chi phi và mục tiêu hoạt động ở giai đoạn thiết kế và
kế hoạch hóa sản phẩm mới. Phương pháp cũng cho phép cung cấp một cơ sở kiểm
soát ở giai đoạn sản xuất và bảo đảm các sản phẩm này đạt được mục tiêu lợi nhuận

www.tapchiketoan.com

3
Trương Bá Thanh, Chi phí mục tiêu, Trường Đại học Kinh Tế, Đại học Đà Nẵng www.tapchiketoan.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status