LUẬN VĂN:
Chính sách lãi suất của ngân
hàng nhà nước Việt Nam từ năm
1986 đến nay
Lời mở đầu
Đất nước ta trong 15 năm đổi mới nền kinh tế đã đạt dược những bước tăng
trưởng đáng kể . Để đạt được sự tăng trưởng đó hệ thống ngân hàng đã đóng góp một
phần không nhỏ thông qua chính sách tiền tệ để điều tiết nền kinh tế vĩ mô một công
cụ quan trọng đó là lãi suất tín dụng .Việc điều chỉnh lãi suất tín dụng có tác động
đến hầu hết các hoạt động của nền kinh tế như mức cung tiền , vấn đề tích luỹ đầu tư
…của các thành phần kinh tế từ đó nó ảnh hưởng đến mức độ tăng trưởng kinh tế
.Công cụ lãi suất ngày càng trở nên quan trọng khi đất nước tiến lên công nghiệp hoá
- hiện đại hoá và ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện
quyền sử dụng của mình cho ngân hàng và ngân hàng là tổ chức trung gian đứng ra
tập hợp vốn để cho các đối tượng cần vay vốnkhi đó người được vay vốn sẽ có trách
nhiệm hoàn trả số vốn gốc vào đúng thời hạn thoả thuận và thêm vào đó là khoản tiền
dôi dư tính cho quyền sử dụng số vốn đó chính là cơ sở xuáat hiện lãi suất.
Như vậy , khi sử dụng bất kì khoản tiền nào , người vay vốn cũng phải trả thêm
một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu.Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêm
này với phần vốn gốc vay ban đầu được gọi là lãi suất.
Vậy: Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất
định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó.
Trong thực tế lãi suất được tính như sau:
Số lợi tức thu được trong kỳ
Lãi suất tín dụng = 100%
Số tiền vay phải trả trong kỳ
II. những vấn đề cơ bản về lãi suất
1. Nguyên tắc xác định lãi suất
a. Căn cứ vào cung cầu tiền tệ Khi cung cầu tiền tệ tăng lên mà nhu cầu vay không tăng hoặc tăng chậm hơn
lượng tiền cung ứng thì lãi suất có xu hướng giảm và ngược lại.Khi cầu tiền tăng lên
mà cung tiền không tăng hoặc tăng chậm hơn lượng tiền mà các chủ thể nền kinh tế
cần vaythì lãi suất có xu hướng tăng.
b. Căn cứ vào thời hạn cho vay
Ta chia ra làm ba loại : Lãi suất tín dụng ngắn hạn, lãi suất tín dụng trung hạn và
lãi suất tín dụng dài hạn.
Trong thực tế lãi suất tín dụng ngắn hạn < lãi suất tín dụng trung hạn < lãi suất tín
dụng dài hạn
c. Căn cứ vào cơ chế lãi suất dương
Để có lãi suất dương tức là hoạt động kinh doanh của ngân hàng đêm lại lợi
Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời
điểm nghiên cứu nói khác đi nó là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỉ lệ lạm phát .
Lãi suất thực tế :là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi
về lạm phát . Có hai loại lãi suất thực :
+ Lãi suất thực tính trước (dự tính ) là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo
những thay đổi dự tính về lạm phát .
+ Lãi suất thực tính sau : là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo những
thay đổi trên thực tế về lạm phát.
Ta có: Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỉ lệ lạm phát
c. Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất
- Lãi suất cố định: là lãi suất dược áp dụng cố định trong suốt thời hạn vay.
- Lãi suất thả nổi: Là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có
thể báo trước hoặc không báo trước.
d. Căn cứ vào phương pháp tính. Có hai loại :
- Lãi suất đơn: Là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt kì hạn vay.
Công thức tính lãi suất đơn: I = Co.i.n Trong đó: I – Số tiền lãi
Co – Số vốn gốc
i – Lãi suất
n – số kỳ hạn gửi vốn
- Lãi suất kép: Là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu dược
trong thời hạn sử dụng tiền vay.
Công thức tính lãi suất kép: C = Co( 1+ i )
n
Trong đó: C- Số tiền thu được theo lãi gộp sau nhiều kỳ
Co – Vốn gốc ban đầu
i – Lãi suất
kinh tế khác cho trước.
Lượng cầu tiền biến đọng ngược chiều với sự biến động của lãi suất
đường
cầu tiền là đường dốc xuống
Đường cung và đường cầu tiền tệ cắt nhau tại điểm cân bằng làm hình thành lên
mức độ lãi suất trên tiền tệ.
Lãi suất
MS
MD
Lượng tiền (M)
- Các nhân tố làm dịch chuyển đường cầu tiền tệ
+ Thu nhập thực tế khi nền kinh tế tăng trưởng thu nhập tăng
các chủ thể
muốn giữ thêm tiền làm nơi dự trữ giá trị đồng thời muốn chi tiền cho tiêu dùng
nhiều hơn làm cho cầu tiền tăng
đường cầu tiền dịch sang phải và khi nền kinh tế
nhập khẩu của quốc gia trong từng thời kỳ ảnh hưởng đến thu chi cán cân thanh toán
quốc tế. Lãi suất tín dụng còn là công cụ hiệu quả để chống lạm phát, ổn định sức mua của
đồng tiền.
Từ những tác động to lớn của lãi suất tới các yếu tố của nền kinh tế vĩ mô nên lãi
suất được coi là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô
4.2. Lãi suất tín dụng là công cụ điều chỉnh vốn từ nơi tạm thời dư thừa vốn sang nơi
thiếu vốn từ đó góp phần tạo nên mặt bằng giá cả hợp lý, tạo điều kiện cho sản xuất
kinh doanh phát triển bình thường. Ngoài ra lãi suất còn là công cụ để củng cố và
tăng cường chế độ hạch toán trong từng doanh nghiệp.
4.3. Lãi suất là công cụ khuyến khích sự cạnh tranh giữa các NHTM
Trong nền KTTT, các NHTM là các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn
khổ pháp luật. Thực chất của hoạt động cạnh tranh này là phân chia khối lượng tiền
gửi và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng ra thi trường. Để tồn tại và đảm
bảo ngày càng mở rộng trong cạnh tranh đòi hỏi các ngân hàng phải tìm mọi giải
pháp để giảm chi phí quản lý và chi phí nghiệp vụ để có thể chấp nhận được một lãi
suất tiền gửi cao nhất và một lãi suất cho vay thấp nhất. Quá trình cạnh tranh này sẽ
tạo lơị ích thiết thực cho khách hàng, doanh nghiệp, ngân hàng và toàn bộ nền kinh
tế.
4.4. Lãi suất là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.
Ta có: Thu nhập = tiêu dùng + tiết kiệm
Từ đây ta có thể tính được thu nhập của mỗi gia đình, doanh nghiệp hay cả quốc
gia.
Như vậy để tăng tỷ lệ tiết kiệm từ đó nâng cao lượng vốn đầu tư thi biện pháp
hiệu quả nhất là tăng lãi suất tiền gửi. Khi lãi suất tiền gửi thực tế tăng cao thì sẽ là
cơ sở để mọi người yên tâm gửi tiền vì được đảm bảo bằng mức lợi nhuận cao và an
toàn từ việc tăng nguồn tiền gửi đã làm tăng mức cung ứng vốn dẫn đến tạo điều kiện
tốt để mở rộng đầu tư.
hiện chính sách tiền tệ thắt chặt NHTƯ sẽ nâng lãi suất tái chiết khấu để ngăn cản các NHTM, tổ chức tín dụng vay vốn từ NHTƯ từ đó sẽ hạn chế mức đầu tư. Như vậy lãi
suất tía chiết khấu sẽ ảnh hưởng gián tiếp nên thị trường qua các NHTM.
Căn cứ vào thực tế của tình hình kinh tế Việt Nam Ngân hàng nhà nước Việt Nam
đã lựa chọn và từng bước thay đổi công cụ lãi suất cho phù hợp với sự biến động của
thị trường.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tạp chung do chưa nhận thức hết tầm quan trọng
của lãi suất chúng ta đã duy trì lãi suất cố định rất thấp so với lợi nhuận trong một
thời gian dài.
Trong nền kinh tế thị trường lãi suất tác động một cách rất nhạy cảm đối với các
hoạt động kinh tế vì vậy đòi hỏi nhà nước phải có chính sách lãi suất phù hợp tạo
điều kiện cho các NHTM và các doanh nghiệp chủ động kinh doanh. Đầu năm 1989
chính phủ đã quyết định thay đổi một cách cơ bản chuyển từ cơ chế lãi suất âm sang
lãi suất dương và đạt được lãi suất dương đầy đủ vào cuối quý I năm 1993. Để phù
hợp với cơ chế mới và đảm bảo giá trị đồng tiền đồng thời kích thích tăng trưởng
kinh tế, NHNN luôn bám sát sự biến động của lạm phát để điều chỉnh lãi suất. Trong
việc điều hành lãi suất có những chuyển biến tích cực như:
Thực hiện xoá bỏ sự phân biệt lãi suất giữa các thành phần kinh tế nhưng có sự
ưu đãi với vùng núi, hải đảo, cho hộ nghèo vay vốn.
Thu hẹp khoảng cách chênh lệch lãi suất cho vay bằng nội tệ và ngoại tệ.
Cuối năm 1997 luật NHNNVN và luật các tổ chức tín dụng ra đời đánh dấu một
bước phát triển mới trong hoạt động ngân hàng. Trong điều 18 luật NHNN có ghi:
NHNN xác định và công bố lãi suất cơ bản, lãi suất tía cấp vốn. Đầy là căn cứ pháp
lý để NHNN thực hiện những cải cách mới trong chính sách điều hành lãi suất, tăng
cường tính hướng dẫn. Nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động phức tạp, trong
từng thời kỳ phát triển NHNNVN đã điều hành lãi suất như thế nào ?
Chương II: Thực trạng điều hành lãi suất tín dụng ở Việt nam hiện nay và định
hướng điều hành lãi suất tín dụng trong thời gian tới
+ Giai đoạn từ sau ngày 01 – 01 – 1996.
1. Giai đoạn từ trước tháng 3 – 1989.
Đây là thời kỳ điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất âm. Trong giai đoạn này tuỳ
từng thời gian NHNN có điều chỉnh lãi suất nhưng do lạm phát phi mã (tỷ lệ lạm phát
năm 1986 là 747,7%, năm 1987 là 301,3%) nên lãi suất luôn ở tình trạng âm:
+ lãi suất tiền gửi nhỏ hơn mức lạm phát.
+ Lãi suát cho vay thấp hơn mức lãi suất huy động.
Hệ thống lãi suất âm có nhiều tiêu cực:
+ Khả năng huy động vốn đi với yêu cầu rút bớt tiền trong lưu thông, giải toả áp
lực của tiền đối với giá cả hàng hoá bị hạn chế nhiều.
+ Nhu cầu vay vốn tăng lên không thực chất tạo lợi nhuận giả cho doanh nghiệp.
+ Ngân hàng bao cấp cho khách hàng qua lãi suất tạo lỗ không đáng có cho ngân
hàng, ngân hàng không thể kinh doanh bình thường, lãi suất hoàn toàn do Nhà nước
quyết định theo ý muốn chủ quan.
Từ đó hình thành nên các kết quả tría ngược nhau, bất hợp lý giữa người gửi tiền,
ngân hàng và người vay vốn. Người ta đã ví việc gửi tiền tiết kiệm như là việc bán
một con trâu lấy tiền gửi vào ngân hàng, khi rút tiền tra thì số tiền ấy chẳng mua nổi
cái dây thừng.
2. Giai đoạn từ tháng 3 – 1989 đến tháng 10 – 1993.
Thời kỳ này NHNN đã chủ động sử dụng cong cụ lãi suất, chuyển từ lãi suất âm
sang lãi suất dương. Để thu hút tiền thừa trong lưu thông về, kiềm chế lạm phát,
NHNN đã nâng lãi suất huy động lên rất cao trong một thời gian ngắn: lãi suất không
kỳ hạn là 9% / tháng tức là 108% / năm, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng là 12% /
tháng tức là 144% / năm. Việc làm đó dã thu hút một khối lượng tiền lớn trong lưu
thông, tăng nguồn vốn tín dụng, giảm áp lực lạm phát. Siêu lạm phát bị chặn đứng
nhanh chóng, sau đó xảy ra hiện tượng giảm lạm phát vào tháng 5 – 7 năm 1989,
được ổn định với mức thấp cho tới tháng 6 – 1990. Giá vàng, đô la Mỹ giảm đáng kể
chứng tỏ lòng tin của dân cư đối với đồng nội tệ được phục hồi.
Chính vì vậy chưa khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh
doanh một cách bình đẳng.
3. Giai đoạn từ 01- 01 – 1993 đến 01- 01- 1996.
NHNN vừa áp dụng lãi suất trần cho vay vừa áp dụng lãi suất thoả thuận.
a. Lãi suất trần:
Lãi suất trần cho vay doanh nghiệp Nhà nước là 1,8% / tháng, cho vay thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh là 2,1% / tháng.
b. Lãi suất thoả thuận;
Trường hợp vác ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay theo lãi suất quy
định phải phát hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn thì được áp dụng lãi suất thoả
thuận: lãi suất huyv động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn là 0,2% /
tháng và cho vay cao hơn mức tràn 2,1%/ tháng.
Trrên thưch tế khoảng 20 – 60% tổng dư nợ lúc bấy giừo là từ các khoản cho vay
bằng lãi suất thoả thuận và phần lớn là cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ
nông dân với lãi suất phổ biến là 2,3% - 3,5%/ tháng.
Với mức lạm phát năm 1993 là 5,2%, lãi suất của ta trở lên quá cao ( lãi súât tiền
gửi tiết kiệm là 11,6% / năm, lãi suất thực cho vay theo lãi suất trần là 20% / năm) lãi
suất tiền gửi tiết kiệm của ta coa gấp 1,1 lần của Hàn Quốc, 3,7 lần của Mỹ, lãi suất
cho vay cao gấp 1,5 lần của Đức và 4,2 lần của Mỹ.
Vào cuối năm 1995, mức lãi suất trần của Việt Nam là 2,1% / tháng (25,2%/ năm)
sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát 12,7% còn 12,5% / năm trong khi lợi nhuận bình quân
của toàn bộ nền kinh tế chưa vượt mức 6,5% / năm cho nên nhiều ngân hàng thương
mại trở lên thừa vốn, dù kinh tế còn rát thiếu vốn nhưng lãi suất cho vay quá cao,
vượt quá lhả năng thanh toán so với lợi nhuận. Một số ngân hàng thương mại bán
hàng trả góp thậm chí đầu tư vào trái phiếu NHNN hàng nghìn tỷ đồng với lãi suất
thấp để “ tiêu thụ” vốn với giá mua vò nhưng an toàn. Nhiều doanh nghiệp và nhà
đầu tư dã chuyển vốn sang nhập hàng trả chậm lấy tiền Việt Nam, gửi tiết kiệm lấy
lãi cao, ngày càng có xu hướng khuyến khích nhập khẩu, kìm hãm xuất khẩu, doanh
+ Trần lãi suất cho vay đối với của quỹ tín dụng đối với các thành viên: là trần lãi
suất cho vay cao nhất do quỹ tín dụng mới lập để thí điểm, quy mô nhỏ bé, chi phí
hoạt động cao.
Về mức khống chế 0,35%/ tháng đối với chênh lệch bình quân giữa vốn cho vay
(đầu ra) và huy đọng vốn (đầu vào) ở mỗi ngân hàng. Từ đó đã hình thành ra một
hành lang vận động hợp pháp của vốn tín dụng về phương diện giá cả của nó đó là
hành lang mà đường biên cứng là lãi suất trần cho vay còn đường biên còn lại thì
không dược cố định mà mà được thay thế bằng mức chênh lệch bình quân giữa lãi
suất cho vay và lãi suất huy động của một chu kỳ kinh doanh tín dụng ở mỗi ngân
hàng không được quá 0.35%/ tháng.
Tuy vậy kiểm chứng trên thực tế qua hơn một năm thực hiện, khống chế trực tiếp
đối với NHTM đẫ bộc lộ nhiều tồn tại, vướng mắc và hạn chế về hiệu lực thi hành.
Thứ nhất: Theo tài liệu về tình hình chênh lệch lãi suất năm 1996 và và 6
th
áng đầu
năm 1997 cho thấy phần lớn ở NHTM có mức chênh lệch thực tế bình quânđật dưới
0,35%/ tháng là do: chất lượng tín dụng chưa cao, nợ khó đòi phát sinh làm giảm
doanh thu, vốn huy động tăng mạnh, nhưng tín dụng tăng trưởng chậm do tỷ lệ nhu
cầu vay vốn của tổ chức kinh tế và cá nhân không đủ điều kiện cần thiết cao, NHTM
bị ứ đọng vốn tạm thời chi phí tăng mà doanh thu giảm, tiền gửi 3 tháng chiếm tỷ
trọng lớn đã làm cho số lãi phải trả, dư nợ cho vay tăng khá nhưng lãi suất cho vay
giảm, nhiều NHTM cho vay chủ yếu bằng ngoại tệ với mức chênh lẹch lãi suất thấp
(2% - 2,5%/ năm ) chiếm khoảng 30% tổng dư nợ cho vay.
Như vậy nội dung kinh tế của chỉ tiêu chênh lệch lãi suất chỉ phản ánh thu nhập thực
tế của NHTM, không phản ánh tình hình chi phí và việc khống chế chi phí theo mức
chênh lệch lãi suất 0,35%/ tháng.
Thứ hai: Để chấp hành đuúng mức khống chế 0,35% các ngân hàng phải căn cứ
vào cơ cấu nguồn vốn tại thời điiểm quyết định cho vay để xác định lãi suất huy động
bình quân từ đó mới có thể xác định lãi suất cho vay, việc đó hết sức phức tạp và
bình quân ) bị khống chế tối đa là 0,35%, nghĩa là các ngân hàng có chênh lệch lãi suất càng thấp càng tôt sẽ không khuyến khích các ngân hàng cạnh tranh bằng uy tín
và hiệu quả kinh doanh và thay vào đố là nâng cao lãi suất huy động vốn.
+ Không khuyến khích NHTM tập trung huy động vốn đầu tư mở rộng cho vay
trung - dài hạn mà tập trung cho vay ngắn hạn để tránh rủi ro. NHTM sẽ giảm thu lãi,
tăng chi lãi huy động vốn vào những tháng cuối năm để nhằm không chế chênh lệch
lãi suất dưới 0,35% làm kết quả kd của ngân hàng không được phản ánh chính xác,
luân chuyển vốn tín dụng bị ách tắc.Do vậy hạn chế tính năng động trong hoạt đọng
tín dụng, gây nên tình trạng khó khăn cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng.
Như vậy việc khống chế lãi suất huy động bình quân và cho vay bình quân trong
một mức chênh lệch cố địnhthì vai trò - công dụng về mặt quản lý tài chính rất hạn
chế, hiệu lực thi hành không cao,kết quả không đạt như mong muốn, trái lại nó gây
tiêu cực đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.
4.2. Cơ chế điều hành lãi suất trần và không quy định mức chênh lệch lãi suất tín
dụng:
Tại kỳ họp thứ hai, tháng 12- 1997,Quốc hội khoá IX cho phép bỏ mức chênh
lệch lãi suất 0,35%/ tháng đồng thời thu hẹp sự cách biệt giữa mức lãi suất cho vay ở
thành thị và nông thôn, NHNN quy định mức lãi suất mới, rút từ 4 trần lãi suất xuống
còn 3 trần lãi suất:
+ Trần lãi suất cho vay ngắn hạn 1,2%/ tháng.
+ Trần lãi suất cho vay trung - dài hạn 1,25%/ tháng.
+ Trần lãi suất quỹ tín dụng cho vay thành viên 1,5%/ tháng.
Việc điều hành theo cơ chế lãi suất trần có nhiều ưu điểm như:
+ Trong phạm vi trần các tổ chức tín dụng được tự do ấn định mức lãi suất cho
vay và tiền gửi cụ thể, linh hoạt phù hợp với điều kiện kinh doanh, tự chủ trong kinh
doanh, cạnh tranh lành mạnh từng bước tự do hoá lãi suất.
+ Tạo mặt bằng chung về lãi suất chung trong cả nước, xoá bỏ lãi suất thoả thuận
nhân dângiữa nguyên trần lãi suất cho vay là 1,5%/ tháng. Ngày 01/9/1999, Thống đốc NHNNVN ra chỉ thị số 05/1999CT- NHNN1 hạ mức
lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam xuống mức 0,95%/ tháng ở khu vực thành thị
đồng thời ra quyết định số 307/1999/QĐ - NHNN1 quy định lãi suất tái cấp vốn là
0,7%/ tháng.
Tại nhiều NHTM nhất là các NHTM quốc doanh tiền gửi vẫn không ngừng tăng
lên nhưng cho vay không hết. Các NHTM quốc doanh phải đầu tư hàng ngàn tỷ đồng
vào trái phiếu Kho bạc Nhà nước thời hạn một nămvà công trái xây dựng Tổ quốc
thời hạn 5 năm mặc dù lãi suất thấp. Trước tình hình đó các NHTM đồng thời hạ lãi
suất để chống lỗ với mức độ khác nhau. Đến đầu tháng 10 năm 1999, lãi suất tiền gửi
không kỳ hạn chỉ còn 0,3%/ tháng so với lãi suất 0,5%/ tháng đầu năm 1999, tính ra
giảm 40%, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng chỉ còn 0,5%/ tháng so với 0,7%/ tháng
vào đầu năm 1999 đã giảm 34%.
Ngày 22/10/1999,Thống đốc NHNNVN ra quyết định số 383/1999/QĐ-NHNN1
mức lãi suất trần cho vay bằng đồng Việt Nam ở khu vực thành thị là 0,85%/ tháng,
khu vực nông thôn là 1%/ tháng. Đồng thời ra quyết định số 382/1999/QĐ-NHNN1
điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn của NHNN đối với các tổ chức tín dụng là 0,5%/tháng
có hiệu lực từ ngày 01/11/1999.
Trên cơ sở mức lãi suất đó các tổ chức tín dụng đã ra quyết địnhđiều chỉnh giảm
các mức tiền gửi và huy động vốn của mình. Kể từ ngày 25/10/1999 mức lãi suất tiền
gửi của hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam trong toàn quốc điêù chỉnh
giảm: Không kỳ hạn còn 0,15%/ tháng, kỳ hạn 3 tháng còn 0,3%/ tháng, kỳ hạn 6
tháng còn 0,4%/tháng và kỳ hạn 12 tháng là 0,5%/ tháng.
a. Cơ sở điều chỉnh:
Việc điều chỉnh lãi suất nhều như vậy không hẳn do ý định chủ quan của NHNN,
nó xuất phát từ cơ sở sau:
+ Năm 1998 tỷ lệ lạm phát đột ngột tăng lên 9,2% làm lãi suất huy động thực
giảm còn 2,2%/ năm vẫn cao gấp 2 lần so với thế giới. Trái lại trong 6 tháng đầu năm
gian gần đây: Đơn vị tính :% Th
ời
điểm
Lãi suất
01/7/19
97
21/1/19
98
1/2/199
9
1/6/199
9
1/8/19
99
4/9/19
99
25/10/1
1,25
1,15
1,15
1,05
0,95
0,85
0,8
Khu v
ực nông
thôn
1,2
1,25
1,25
1,15
1,05
1,05
1,0
0,85
0,85
0,7
0,5
0,4
Trong 6 tháng đầu năm 2001 NHNN tiếp tục thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản đối
với VNĐ giảm lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn cho phù hợp với thực tiễn
cụ thể lãi suất tái cấp vốn giảm từ 0,5% xuống còn 0,4%/tháng lãi suất tái chiết khấu
giảm từ 0,45%/tháng xuống còn 0,35 %/tháng.
b. Mục đích điều chỉnh lãi suất:
+ Đảm bảo tính phù hợp giữa mặt bằng lãi suất với tình hình lạm phát:
+ Giảm bớt khó khăn cho người vay, góp phần kích nền kinh tế phát triển , đảm
bảo cân đối cung- cầu về vốn tín dụng , đẩy mạnh cho vay vốn các tổ chức tín dụng
đói với nền kinh tế , tạo khuôn khổ đủ rộng đẻ tổ chức tín dụng thuộc các loại hình
khác nhau, năng lực tài chính khác nhau, đọ rủi ro khác nhau định ra mức laaix suất
huy động cho vay và hợp lý.
+Giảm bớt các trần lãi suất chuẩn bị đièu kiện tiến tới áp dụng cơ chế điều hành
theo lã suất cơ bản như Luật NHNN Việt Nam quy định .
c. Tác động của điều chỉnh lãi suất tín dụng thời gian vừa quy: Thứ nhất: NHNN đã thiết kế một mặt bằng lãi suất áp dụng chung cho cả vay
phải đối phó với việchạ trần lãi suất lần sau.Các ngân hàng e dè trong huy động vốn
nhất là vốn dài hạn vì sợ lãi suất tiếp tục hạ làm ngân hàng lỗ nhiều hơn.
+ Các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn nông thôn do địa bàn hoạt động
khó khăn, cho vay món nhỏ, chi phí lớn, nguồn vốn hạn hẹp hơn các tổ chức tín dụng
khác.Từ đó bắt buộc các tổ chức tín dụng này giảm chi phí, tiết kiệm và nâng cao
chất lượng phục vụ nông nghiệp và nông thôn với lãi suất thấp.
+ Khách hàng nảy sinh tâm lý chần chửtong vay tiền ngân hàng, họ chờ một mức
lãi suất thấp hơn nữa.
+ Lãi suất tái cấp vốn giảm khuyến khích các NHTM vay vốn từ NHNN.
Thứ ba: Hiệu quả của hạ lãi suất với việc “kích cầu” nền kinh tế:Kích cầu là một
giải pháp kích thích khuyến khích tiêu dùng và mục tiêu cuối cùng là tăng tổng câù,
tổng cung hàng hoá xã hội để thúc dẩy sản xuất phát triển.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa
nhu cầu về vốn rất cao của doanh nghiệp và nông dân với sự dư thừa của nguồn vốn
tồn đọng trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, bằng việc hạ lãi suất cho
vay nhà nước muốn khai thông tín dụng từ đố kích thích tiêu dùng ( bao gồm tiêu
dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt đời sống ).
Hạ lãi suất có liên quan đến bố trí lại cơ cấu đầu tư, chi tiêu ngân sách là một
trong hàng loạt các “kích cầu” mà nhà nước đã áp dụng như sau: giảm khung thuế
tiêu thụ đặc biệt, giảm thuế luân chuyển, bỏ thuế sát sinh, giảm một số thuế suất
khác, tăng ưu đãi tín dụng, điều chỉnh phụ cấp lương, bảo hiểm xã hội, tài trợ mạnh
hơn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, xoá đói giảm nghèo. Nhưng có lẽ lãi suất
chưa có hiệu quả mạnh mẽ đến việc kích thích nền kinh tế phát triển. Có đề cập đến
một số nguyên nhân:
+ Lãi suất giảm nhưng do giảm phát nên ở các công ty, doanh nghiệp hàng hoá
tồn kho nhiều, tín dụng đang bí đầu ra, doanh nghiệp cạnh tranh kém sản xuất trì trệ
(riêng 17 tổng công ty 90 – 91 đã ứ đọng 6000 tỷ đồng). Trong điều kiện làm ăn thua