Contents
Contents 1
Câu 1: Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ. Liên hệ với
tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua? 6
Câu 2: Phân tích hiện tượng ‘chèn lấn’ các khoản vay của chính phủ đối với đầu tư và xuất khẩu của khu vực tư. Nêu các giải
pháp khắc phục hiện tượng này 8
Câu 3: Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính 9
Câu 4: Những yếu tố tác động trực tiếp đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI)? Phân tích các giải pháp mở rộng thu hút
nhanh vốn FDI tại Việt Nam 14
Câu 5: Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ tham gia vào quản lý hệ thống tài chính bằng các “qui định” (Regulations)? 16
Câu 6: Cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ là do các qui định quản lý của hệ thống tài chính quá lỗi thời. Nhận định này
đúng hay sai? Giải thích? 17
Câu 7: Theo S.Mishkin (2004): … “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính đối với
các doanh nghiêp”…
Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên và nêu ra các giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng
thương mại phát triển bền vững và lành mạnh? 18
Câu 8: Phân tích sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát. Liên hệ thực tiển của Việt
Nam trong thời gian qua 20
Câu 9: Trình bày các quan điểm lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện thông tin bất cân xứng và khuynh hướng tài trợ vốn
của hệ thống tài chính Việt Nam trong thời gian tới. 22
Câu 10: - Phân tích những lợi ích chi phí khi tham gia khu vực đồng tiền chung 23
- Nhưng điều kiện cơ bản khi xây dựng khu vực đồng tiền chung 23
- Nhận định về điều kiện xây dựng đồng tiền chung khu vực Asean 23
Câu 11:- Phân tích lợi ích và chi phí đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 23
- Đánh giá khái quát về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta 23
- Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 23
Câu 12: bắt buộc: Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế các công cụ tài chính-tiền tệ nào chịu tác động mạnh mẽ nhất. Hãy
lấy ví dụ minh họa 26
Các công cụ của chính sách tiền tệ 26
Câu 13: Trình bày xu hướng cải cách chi tiêu công. Thực trạng chi tiêu công tại việt Nam như thế nào? 27
Câu 14: Trình bày điểm giống và khác nhau của các nguồn vốn huy động từ quốc tế. Việt Nam cần làm gì để kiểm soát dòng vốn
hợp các DN đó thu được tiền chuyển nhượng thấp hơn giá trị thực tế của DN hoặc ngược lại hay không? 59
Câu 31: Tại sao nói CPH DNNN là việc thực hiện phân phối lại thu nhập của xã hội, tạo điều kiện cho người thu nhập thấp và
nghèo nâng cao thu nhập? 59
Câu 32: Thị trường CK nên hình thành trước hoặc sau quá trình CPH thì việc CPH sẽ có hiệu quả? 59
Câu 33: Đấu giá công khai và bán qua đấu thầu khác nhau những điểm nào? 61
2
Câu 34: TC công và TCNN giống và khác nhau điểm nào? 63
Câu 35: TC công bao gồm những bộ phận nào? 63
Câu 36: Đánh giá sự phát triển của HTTC và liên hệ thực tiễn VN? 64
Câu 37: Các nhân tố kinh tế nào mà lãi suất chịu ảnh hưởng và chính những nhân tố này ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh
tế? 65
Câu 38: Lãi suất biến động có tác động đến cung cầu tín dụng không? 67
Câu 39: Liên hệ việc điều hành lãi suất VN năm 2010. Việc áp dụng lãi suất thoả thuận có phải là một bước tiến bộ hay không?
67
Câu 40: Các biện pháp nào NHTW sử dụng để can thiệp vào TGHĐ? 70
Câu 41: Việc điều chỉnh TGHĐ có những mặt tích cực và tiêu cực như thế nào? Liên hệ việc điều hành tỷ giá năm 2010 ở VN? 70
Câu 42: Với môi trường kinh tế vĩ mô ở VN không ổn định: lãi suất tăng cao, giá cả hàng hoá tăng cao…thì sẽ ảnh hưởng đến
hoạt động của NH ở những khía cạnh và nghiệp vụ nào? Có gây ra căng thẳng TC cho NH không? 72
Câu 43: Nợ chính phủ của Hy Lạp (diễn biến, nguyên nhân, những hậu quả cho nền kinh tế, tầng lớp dân cư, và các nước cho
vay, từng bước khắc phục như thế nào?) 73
Câu 44: Ở VN có xảy ra khủng hoảng TCTT hay không (nêu rõ biểu hiện ở những mặt nào)? Để ngăn ngừa hay giải quyết khủng
hoảng TCTT, nhà nước ta cần phải dùng những biện pháp gì? 75
Câu 45: Ở VN có xảy ra khủng hoảng TTCK hay không (nêu rõ biểu hiện ở những mặt nào)? Nêu những biện pháp để ngăn ngừa
hoặc giải quyết? 75
Câu 46: Ở VN dòng vốn đầu tư ngắn hạn vào TTCK có tháo lui chưa trong trường hợp chính sách chưa ổn định? 76
Câu 47: Ở VN tình hình thâm hụt NSNN triền miên, khá lớn, hàng năm từ 5%/GDP, nhưng những năm gần đây đã vượt quá
5%/GDP, với tình hình đó sẽ có nguy cơ xảy ra khủng hoảng NS hay không? 76
Câu 48: Nêu các biện pháp để công khai hoá TC và lành mạnh hoá nền TC quốc gia? 77
Câu 49: Nghiên cứu cuộc khủng hoảng TC thế giới năm 2008? 78
Câu 50: Theo quan điểm các nhà kinh tế VN, tại sao tự do hoá TC lại phải kiểm soát chính sách tài khoá? 81
Câu 72: Cải cách khu vực kinh tế nhà nước: thị trường chưng khoán có cần đi trước một bước? 101
Câu 73: Nguyên nhân cổ phần DNNN ở các nước rất nhanh nhưng VN chậm? 101
Câu 74: Nếu NN bán giá thấp hơn giá trị thực của doanh nghiệp. Tiêu cực là gì? 102
Câu 75: Nếu NN bán giá cao hơn giá trị thực của doanh nghiệp. Có lợi là gì? 102
Câu 76: phân tích mối quan hệ lý thuyết kỳ vọng hợp lý và lý thuyết thị trường hiệu quả. Liên hệ lý thuyết thị trường hiệu quả
với thị trường chứng khoán VN.Lý thuyết Kỳ Vọng 102
Câu 77, Chính sách kích cầu của Chính phủ VN 8 tỷ USD sẽ làm bội chi ngân sách 8%GDP. 103
Các nhà kinh tế e ngại sẽ dẫn đến lạm phát. Các anh chị có đồng ý với quan điểm trên không? giải thích? 103
4
Câu 78: theo các anh, chịTrong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu tạo ra những thời cơ và thách thức gì đối với các doanh
nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ làm gì để tận dụng thời cơ và khắc phục thách thức để phát triển 105
Câu 79: Anh, chị hãy cho biêt: 105
- Tự do hóa tài chính là gì? 106
- Lợi ích và chi phí của tự do hóa tài chính 106
- tiến trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam 106
-Giải pháp thúc đẩy tự do hóa tài chính ổn định và bền vững ở Việt Nam 106
Câu 80: sử dụng mô hình "k gian tài khóa" phân tích khả năng quản lý nợ công bền vững ở Việt Nam? 111
Câu 81: phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận/yếu tố của hệ thống tài chính? theo anh/chị, ở Việt Nam hiện nay cần tập trung
củng cố những bộ phận/ yếu tố nào? 113
Câu 82: Cơ chế lan truyền của chính sách tiền tệ. Việc NHNN thắt chặt tín dụng ảnh hưởng đến thị trưởng bất động sản ở VN
như thế nào? 114
Câu 83: Hiện tượng too big too fail, liên hệ đến việc NHNN yêu cầu các NHTMCP tăng vốn điều lệ 120
Câu 84: QUan điểm cho rằng" Nếu người chủ biết đầy đủ thông tin của người quản lý thì không thể xảy ra hiện tượng NGười
chủ- Người đại diện". Bình luận nhận định trên 120
câu 85: Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2007 là do xuất hiên nhiều công cụ phái sinh. Hãy nhân định vấn đề này 121
câu 86: Những điểm lợi và bất lợi của Chính sách tài khóa trong ngắn hạn 122
câu 87: Đa dạng hóa danh mục đầu tư sẽ giảm thiểu rủi ro nhưng điều này có đúng trong trường hợp nhà đầu tư nhỏ lẻ hay
không. giải thích và cho ví dụ minh họa 123
Câu 88: Đánh giá CSTK và CSTT nhằm kiềm chế lạm phát 2012 123
Câu 89: Vì sao tự do hóa tài chính cần nâng cao công tác quản ly tài chính? 124
Câu 108: Chính sách tiền tệ tác động như thế nào đến thị trường tài chính trong và ngoài nước? 145
Câu 109: Nguyên nhân Lạm phát ở VN 147
TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI LTTCTT
Câu 1: Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ.
Liên hệ với tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua?
1. Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng, mỗi chính sách có
mục tiêu riêng, nhưng đều cùng theo đuổi mục tiêu chung là tăng trưởng kinh tế bền vững và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nội dung cơ bản của CSTK là kiểm soát thu chi ngân sách do những khoản thu chi này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, lạm
phát và nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô khác. Vì thế, CSTK được coi là một trong những chính sách quan trọng đối với việc ổn định và
thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, một CSTK vững mạnh sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm cơ sở để các doanh nghiệp đưa ra
các quyết định đầu tư lớn. Trong mối quan hệ với giá cả, CSTK là một trong những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một sự nới
lỏng CSTK đều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúc đẩy tăng tổng cầu và tài trợ thâm hụt.
CSTT là công cụ của NHTW để điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng, kết quả là chi phối dòng chu chuyển tiền và
khối lượng tiền để đạt mục tiêu chính sách đề ra. Một CSTT nới lỏng sẽ làm tăng cung tiền, giảm lãi suất, qua đó thúc đẩy tăng
tổng cầu và gây áp lực lạm phát nếu cung tiền tăng quá mức so với sản lượng tiềm năng.
CSTK tác động đến CSTT trước hết qua kênh tài trợ thâm hụt ngân sách: Nếu thâm hụt ngân sách được tài trợ từ vay nước ngoài
sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, nếu tài trợ bằng cách vay từ NHTW thì sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng và mặt bằng giá
cả, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách vay từ các NHTM thì nguồn vốn cho vay các khu vực kinh tế ngoài quốc
6
doanh sẽ giảm, hạn chế năng lực đầu tư của các khu vực kinh tế này và ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra,
CSTK còn ảnh hưởng đến dòng vốn quốc tế và khả năng của NHTW trong việc kiểm soát luồng ngoại tệ, nếu chính sách thu chi
ngân sách không hợp lý thì sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả phân bổ nguồn lực và làm tăng rủi ro liên quan đến dòng vốn quốc
tế.
CSTT tác động đến CSTK tùy theo mức độ điều chỉnh các công cụ CSTT, một CSTT thắt chặt sẽ làm giảm đầu tư, khả năng thu
thuế và nguồn thu ngân sách, một sự giảm giá nội tệ sẽ làm gia tăng khoản nợ Chính phủ bằng ngoại tệ qui đổi, nếu NHTW điều
chỉnh tăng lãi suất thì giá trái phiếu Chính phủ sẽ giảm và ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngân sách.
Các khoản thu chi của Chính phủ được phản ánh rõ qua các giao dịch trên tài khoản kho bạc mở tại NHTW hoặc các NHTM, tiền
gửi kho bạc tăng cao sẽ làm giảm nguồn vốn khả dụng của các NHTM, qua đó làm tăng lãi suất liên ngân hàng. Tiền gửi của
Chính phủ tại NHTW chiếm tỉ trọng lớn trong tiền cơ bản, nên cũng là yếu tố quan trọng làm thay đổi tổng phương tiện thanh
bắt đầu điều chỉnh theo hướng giảm tỉ lệ thâm hụt xuống dưới 3% GDP, cắt giảm 10% chi thường xuyên, v.v.
Từ tháng 10/2008 đến nay, Chính phủ chủ trương nới lỏng CSTT và CSTK để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau khủng hoảng. Đối với
CSTT, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đồng thời tăng cường nguồn vốn huy động,
đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng trong nền kinh tế. Đối với CSTK, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày
11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bao gồm 5 nhóm giải pháp
cơ bản, trong đó kích cầu kinh tế là một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh khoản 36.000 tỉ đồng trái phiếu Chính
phủ và hàng loạt chính sách an sinh xã hội và phát triển hạ tầng nông thôn, miễn giảm một số loại thuế, hoãn thu hồi vốn đầu tư
xây dựng cơ bản ứng trước 2009, phát hành trái phiếu Chính phủ bổ sung, …. Chính phủ đã dùng 1 tỉ USD từ dự trữ ngoại hối
quốc gia để hỗ trợ giảm 4% lãi suất (thời hạn 8 tháng) và 20.000 tỉ đồng (thời hạn 24 tháng).
Về vấn đề kích cầu, NHNN đã thực hiện đúng nguyên tắc với nhiều giải pháp thích hợp nhằm hướng các khoản vay đúng đối
tượng, kiểm soát chặt chẽ việc cho vay hỗ trợ lãi suất và hạn chế rủi ro hệ thống. Nhờ đó, các tổ chức, cá nhân đã tiếp cận được
vốn ngân hàng với chi phí thấp, giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh và việc làm, từng bước khắc phục khó
khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Tính đến ngày 26/11/2009, tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất là 415.886,92
tỉ đồng.
7
Tuy nhiên, với mức thâm hụt ngân sách khá cao để nới lỏng CSTT và CSTK, nguồn vốn trong nền kinh tế dường như đã bị cạn
kiệt, có thể ảnh hưởng đến giá trị VND và gây áp lực tăng lãi suất, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất huy động đến sát trần qui
định 10%, nhất là từ cuối tháng 10/2009, buộc NHNN phải quyết định tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%, bắt đầu có hiệu lực từ
tháng 12/2009.
Thực trạng CSTT và CSTK thời gian qua cho thấy, mặc dù hai chính sách này đã được tận dụng tối đa và phối hợp khá chặt chẽ,
nhưng giới hạn chính sách đang cản trở những tác động tích cực và làm nảy sinh nhiều hệ lụy cho thời gian tới. Điều này cũng do
CSTT linh hoạt hơn so với CSTK, việc thay đổi lượng tiền cung ứng sẽ làm thay đổi mức lãi suất và NHTW có thể tác động đến
đầu tư, xuất khẩu ròng và tiêu dùng trong ngắn hạn. Trong đó, NHNN có thể sử dụng CSTT để điều chỉnh mức lạm phát, gây tác
động lên năng suất lao động và tăng trưởng GDP tiềm năng trong dài hạn. Tuy nhiên, rất khó thay đổi CSTK do Chính phủ lập kế
hoạch chi tiêu, thuế và thâm hụt ngân sách, kế hoạch ngân sách hàng năm do Quốc hội thông qua, điều này tạo ra sự lệch pha so
với CSTT.
Trong điều kiện Việt Nam, áp lực đối với ngân sách nhà nước tồn tại thường xuyên và có xu hướng tăng, cơ cấu và hiệu quả cũng
như khả năng kiểm soát chi tiêu ngân sách nhà nước thể hiện các dấu hiệu thiếu bền vững do các khoản chi tiêu ngân sách không
tạo ra nguồn thu trong tương lai, thậm chí gây sức ép cho chuỗi bội chi mới. Gói kích cầu trong thời gian qua đã có tác dụng loại
trừ nguy cơ đổ vỡ dây chuyền trong khu vực doanh nghiệp và nền kinh tế không bị rơi vào suy thoái trầm trọng, nhưng xu hướng
vực các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Nếu các
biện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và của ngân hàng càng có lãi suất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các
khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh.
Do vậy, vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanh
của nền kinh tế. Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủ thông qua con đường phát hành trái phiếu, tín phiếu bị chính bản
thân giải pháp này cản trở ngay từ nguồn gốc.
Chính vì thế, trong thời kỳ kinh tế đình đốn, hầu như các nước đều tránh các biện pháp có nguy cơ làm giảm khẳ năng tự đầu tư
của các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốc doanh và các tầng lớp dân cư. Biện pháp tài trợ thâm
hụt ngân sách này chỉ nên thực hiện trong trường hợp nền kinh tế là cường thịnh. Nếu ta tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách
8
phát hành trái phiếu, thì trái phiếu sẽ tạo ra cho công dân trách nhiệm nộp thêm thuế trong tương lai để trang trải lãi về các trái
phiếu đấy.
Về nguyên tắc, tháo lui đầu tư, có thể tránh được nếu thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng phát hành tiền, nhưng biện pháp này
lại nhanh chóng dẫn tới lạm phát tăng cao.
- Thoái lui cũng có thể xảy ra do chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi. Vay mượn chính phủ dẫn tới lãi suất cao làm các dòng vốn nước
ngoài chảy vào trong nước (tức là tiền nước ngoài tập trung vào những tài sản phát hành bằng nội tệ). Dưới chế độ tỷ giá hối
đoái thả nổi, việc lưu chuyển dòng vốn này dẫn tới giá đồng nội tệ tăng cao (hay tỷ giá hối đoái giảm) và vì vậy sẽ gây ra thoái
lui xuất khẩu (hàng nội địa trở nên đắt đỏ hơn đối với người sử dụng đồng tiền nước ngoài). Tác động này ngược chiều với tác
động kích cầu của thâm hụt ngân sách, nhưng không có tác động ngược chiều rõ ràng nào tới sự tăng trưởng kinh tế trong dài
hạn.
- Thoái lui trầm trọng nhất khi một nền kinh tế đã gần đạt tới mức toàn dụng. Lúc đó, chính sách mở rộng bằng thâm hụt ngân
sách của chính phủ chỉ dẫn tới giá cả tăng, và cầu tiền tăng. Tác động này lại làm lãi suất tăng cao hơn và làm giảm mong muốn
đầu tư. Ở mức toàn dụng, các doanh nghiệp không còn thị trường vì vậy tác động tăng tốc là không có. Trực tiếp hơn, nếu nền
kinh tế toàn dụng, bất cứ sự gia tăng nào của chi tiêu chính phủ chỉ làm các nguồn lực rời khỏi khu vực tư nhân mà thôi.
Việc tài trợ chi tiêu có thể được thực hiện thông qua phát hành TP (vay nợ) trong nước. Biện pháp tài trợ này có thể chia thành
vay nợ từ công chúng hoặc từ hệ thống các NHTM.
Vay nợ từ công chúng huy động với lãi xuất cao còn làm tăng các khoản trả lãi thêm hàng chục ngàn tỷ đồng/ năm trong tương
lai và làm trầm trọng thêm vấn đề thâm hụt ngân sách.
Nếu chính phủ vay nợ hệ thống ngân hàng thương sẽ gây sức ép đối với dự trữ của các NHTM và các NHTM sẽ đòi hỏi trợ giúp
về khả năng thanh khoản từ NHNN. Nếu những đòi hỏi này được NHNN đáp ứng, cơ sở tiền sẽ tăng làm lạm phát sẽ quay trở lại.
suất mà lãi suất được hình thành trên cơsởthịtrường, vận động theo qui luật cung cầu.
Tựdo hoá lãi suất được hiểu là lãi suất hoàn toàn được điều chỉnh theo yêu cầu của thịtrường. Sựcan thiệp của NHTƯ đối với lãi
suất thịtrường được điều hành thông qua các công cụgián tiếp nhưlãi suất tái chiết khấu hay tái cấp vốn đểtác động lên cung cầu
vốn trên thịtrường tiền tệnhằm xác lập mức lãi suất cân bằng. Nhưvậy tựdo hoá lãi suất có thể được hiểu là việc tháo bỏhoàn toàn
các ràng buộc vềlãi suất trong nền kinh tế, cho phép lãi suất trong nền kinh tế đạt tới điểm cân bằng của nó. Thực chất của tựdo
9
hoá lãi suất là một quá trình loại bỏcác quy phạm, giới hạn bất hợp lý, loại bỏtối đa các kiểm soát vềlãi suất trong kinh doanh tiền
tệcủa khu vực trung gian tài chính và thay thếbằng các biện pháp điều tiết lãi suất gián tiếp của NHTƯthông qua các công cụcủa
chính sách tiền tệ: trong điều hành chính sách lãi suất, NHTƯchỉcông bốcác mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay tái
chiết khấu hoặc tái cấp vốn của mình đối với các tổchức tín dụng. Các mức lãi suất tiền gửi, cho vay cụthểtheo từng thời kỳ, từng
đối tượng của các tổchức tín dụng đối với nền kinh tếsẽdo tổchức tín dụng tự ấn định, dựa trên cung cầu vốn và sựcạnh tranh trên
thịtrường, từ đó hình thành nên mức lãi suất phản ánh đúng nhu cầu thịtrường. Khi muốn điều hành lãi suất kinh doanh của các
tổchức tín dụng trong nền kinh tế, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệtừng giai đoạn, NHTƯsẽthực hiện thông qua điều
hành lãi suất tái chiết khấu của mình đốivới các tổchức tín dụng, từ đó tác động đến lãi suất trên thịtrường tiền tệliên ngân hàng và
cuối cùng sẽtác động đến lãi suất kinh doanh của các tổchức tín dụng.
Tựdo hóa lãi suất góp phần làm cho các dòng vốn trong xã hội được tựdo lưu chuyển đến bất kỳ đâu, tùy thuộc vào ý muốn của
nhà đầu tưmà không phải gặp bất cứsựngăn cản phi kinh tếnào. Lãi suất khi đó tự điều chỉnh linh hoạt và nhạy cảm, phản ánh nhu
cầu đòi hỏi của thịtrường. Nhờcó quá trình tựdo hóa lãi suất mà dòng vốn được lưu chuyển từnơi có lợi nhuận thấp đến nơi có lợi
nhuận cao, từnơi nhiều rủi ro đến nơi mức rủi ro thấp hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện ổn định kinh tếvĩmô,
tăng vốn đầu tưphát triển sản xuất, giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếphát triển mạnh và có hiệu quả.
Lãi suất nếu chưa được tựdo hóa và vẫn bịkiểm soát chặt chẽtrong thời gian dài sẽgây ra những thiệt hại tổng thểcho nền kinh tế.
Trong trường hợp các ngân hàng buộc phải thực hiện cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thịtrường dưới một sức ép nào đó và
phải huy động với lãi suất cao thì chênh lệch lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra sẽkhông đảm bảo bù đắp chi phí hoạt động của
ngân hàng, nhưthếcác tổchức tín dụng sẽkhông phát triển. Mặt khác, khi phải cho vay với lãi suất thấp và huy động vốn với lãi
suất thấp để đảm bảo đủbù đắp chi phí, lãi suất thấp sẽkhông khuyến khích người dân duy trì nguồn vốn tiết kiệm của mình ởtrong
nước từ đó dẫn đến kìm hãm sựtăng trưởng các khoản tiết kiệm và giảm hiệu quảcủa đầu tư.
Khi kiểm soát lãi suất quá chặt chẽ sẽ khuyến khích sựhình thành các công cụtài chính và các trung gian tài chính không chính
thức phát triển đểcạnh tranh với các công cụtài chính và các trung gian tài chính chính thức bịkiểm soát làm cho quá trình phi
trung gian tài chính phát triển và sựtrốn tránh các quy chếkiểm soát.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình điều hành nền kinh tế, nhiều quốc gia đặt ra mức trần lãi suất cho vay nhằm kiểm soát cảlãi
Như đã phân tích trên, tựdo hóa tín dụng không có nghĩa là Chính phủhoàn toàn không còn vai trò đối với việc sửdụng các nguồn
10
lực tài chính, đểmặc cho thịtrường tựđiều chỉnh. Nếu vậy sẽdẫn đến đầu tưsai lệch, các nguồn vốn được tập trung nhiều vào lĩnh
vực đang sinh lợi, còn các lĩnh vực khác thì thiếu vốn do khảnăng sinh lời thấp hay thiếu hấp dẫn thu hồi vốn chậm, nhất là những
ngành đóng vai trò quan trọng đối với sựphát triển của nền kinh tế, liên quan đến lợi ích cho quốc kếdân sinh, lợi ích công cộng.
Tựdo hóa các hoạt động tín dụng không có nghĩa là hoàn toàn tựdo mà cần thiết phải có vai trò của Chính phủ. Tuy nhiên vai trò
đó chỉthểhiện ởnhững dựán lớn theo định hướng phát triển kinh tếcủa quốc gia. Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào lĩnh
vực phân phối tín dụng nhằm tạo điều kiện đểcác dòng vốn tìm đến nơi cần, theo nguyên tắc chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với
phần vốn nhận được, bảo đảm khảnăng thu hồi và có lãi.
Nội dung của tựdo hoá cơchếtín dụng: Một là, bãi bỏhoàn toàn việc ấn định hạn mức tín dụng và các tỷlệcó liên quan. Hai là, xoá
bỏbao cấp trong hoạt động tín dụng. Ba là, mởrộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế đểtận dụng các nguồn lực đang có và tiềm
ẩn trong nền kinh tế. Bốn là, xoá bỏnhững ràng buộc của hệthống ngân hàng trong hoạt động tín dụng, nâng cao tính tựchịu trách
nhiệm và tính tựchủ, tạo môi trường thông thoáng cho việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.
1.4.1.3 Tựdo hoá tỷgiá hối đoái
Tựdo hoá tỷgiá hối đoái là đểcho diễn biến tỷgiá hối đoái trên thịtrường biến động dưới tác động của quan hệcung cầu là chủyếu,
cơquan quản l ý Nhà nước tránh sựcan thiệp trực tiếp và thái quá. Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra rất nhanh chóng.
Việc giao lưu, thông thương hàng hoá giữa các nước ngày một gia tăng. Tỷgiá hối đoái là một trong những nhân tố ảnh hưởng
mạnh mẽvà trực tiếp đến hoạt động đó. Vì vậy, yêu cầu các quốc gia dần phải từbỏcách kiểm soát quá chặt chẽtỷgiá, đưa đồng bản
tệcó khảnăng chuyển đổi cao. Khi Chính phủvà NHTƯtừbỏviệc can thiệp của mình và đểcho tỷgiá được tựdo xác định trên
thịtrường thì nước đó đang theo đuổi chính sách tỷgiá tựdo. Vì vậy, tựdo hoá tỷgiá là một quá trình tiến tới cho phép tỷgiá được
tựxác định trên thịtrường.
Tựdo hoá tỷgiá hối đoái bao gồm những nội dung chính sau: Thứnhất, bãi bỏtỷgiá cố định với việc công bốtỷgiá chính thức.
Thứhai, nới lỏng biên độgiao dịch và tiến tới xoá bỏbiên độgiao dịch tỷgiá trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Thứba,đểcho
tỷgiá biến động theo tương quan cung cầu trên thịtrường và chỉcan thiệp có giới hạn khi xét thấy cần thiết.
Tựdo hoá tỷgiá cũng tiềm ẩn trong đó những bất ổn nhất là đối với những nền kinh tế đang phát triển. Chẳng hạn nhưtỷgiá cao
ảnh hưởng tới việc nhập khẩu, tỷgiá thấp ảnh hưởng tới xuất khẩu … bên cạnh đó còn các vấn đềkinh tếkhác sẽcó những diễn biến
xấu khi tỷgiá thay đổi quá đột ngột nhưtỷlệlạm phát, lượng cung cầu ngoại tệ. Vì vậy, không một cơchếcủa quốc gia nào vềtỷgiá
lại thảnổi hoàn toàn, vì nhưvậy, vai trò điều tiết vĩmô của Nhà nước sẽbịtriệt tiêu. Chính vì vậy, hầu hết các nước áp dụng
cơchếtựdo hoá tài chính, thì tỷgiá cũng sẽ được thảnổi nhưng có quản lý, nghĩa là không thảnổi hoàn toàn.
Đểthực hiện tựdo hoá tỷgiá hối đoái phải có một số điều kiện nhất định: Một là,thịtrường hối đoái phải được hình thành trước và
tiền gửi, cho vay và tự do sử dụng công cụ lãi suất, mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động trung gian tài chính, chấm dứt
những phân biệt đối xử về pháp lý giữa các lọai hình sở hữu và hoạt động khác nhau và tự do hóa các luồng vốn quốc tế. Khi tự
do hóa tài chính các dòng vốn được tự do lưu chuyển từ nơi có hiệu suất sinh lợi thấp sang nơi có hiệu suất sinh lợi cao mà
không bị ngăn cản bởi các qui định phi kinh tế.
Trong môi trường quốc tế hóa một cách mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, VN cũng không thể đứng ngoài tiến trình toàn cầu
hóa, để hội nhập vào xu hướng chung này VN cần từng bước thực hiện tự do hóa trên nhiều phương diện trong đó tự do hóa tài
chính có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển của kinh tế đất nước.
1. Hệ thống ngân hàng VN trong tiến trình thực hiện chính sách tự do hóa tài chính
Hệ thống ngân hàng VN là trung tâm tài chính cốt lõi của nền kinh tế quốc gia, nó là trọng tâm của việc thực thi các chính sách
tài chính tiền tệ của nhà nước, nhìn vào thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng, ta có thể đánh giá được hiệu quả của hệ
thống tài chính và sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
2. Những tồn tại trong tiến trình thực hiện tự do hóa tài chính
2.1 Vấn đề lãi suất
Việc áp dụng cơ chế tự do hóa lãi suất đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng và là bước tiến quan trọng
của quá trình tự do hóa tài chính ở VN. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi tích cực thì việc thực hiện tự do hóa lãi suất trong
thời gian qua cũng nảy sinh một số vấn đề bất cập trong quản lý lãi suất và khó khăn cho hệ thống ngân hàng VN như việc NHNN
công bố lãi suất cơ bản nhằm định hướng lãi suất thị trường trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, các NHTM cổ phần
tiềm lực về tài chính còn hạn chế phải đối mặt khi tiến hành tự do hóa lãi suất.
2.2 Hệ thống pháp lý và kế toán - kiểm toán
- Hệ thống pháp lý: Tuy đã có những sửa đổi nhất định để hoàn thiện hành lang pháp lý, nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu phát triển, hiệu quả kinh doanh của toàn hệ thống còn thấp, sức cạnh tranh còn khoảng cách xa so với các nước trong
khu vực và trên thế giới
- Kế toán - kiểm toán: Chúng ta đã có Luật kế toán và Luật kiểm toán nhưng hoạt động kế toán, kiểm toán ở VN vẫn chưa đạt đến
qui mô mà tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi.
2.3 Điều hành tỷ giá hối đoái
Xung quanh vấn đề tỷ giá ở VN hiện nay, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng: Giá trị đồng VN đã bị đánh giá quá cao so với
ngoại tệ , như vậy, trước hết nó sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa VN trên thị trường quốc tế, ảnh hưởng xấu đến hoạt
động xuất nhập khẩu, sau đó làm NHNN khó điều hành chính sách tiền tệ.
2.4 Hệ thống ngân hàng
Trong thời gian qua, Nhà nước đã có những thay đổi về chính sách giúp cho hệ thống ngân hàng VN tiến gần hơn đến điều kiện
Mặc dù thị trường liên ngân hàng đã được thiết lập và hoạt động được một thời gian, nhưng đối với các NHTM thì thị trường liên
ngân hàng chưa phải là nơi có thể sẵn sàng cung cấp nguồn vốn thiếu hụt, các nghiệp vụ được thực hiện trên thị trường này còn
ít nên chưa hình thành được lãi suất IBOR. Đối với một thị trường liên ngân hàng phát triển, các NHTM phải tính toán kỹ lượng
vốn thừa hay thiếu trong ngắn hạn để có thể xác định mức vay hoặc cho vay của mình trên thị trường liên ngân hàng một cách
chính xác, và khi giao dịch trên thị trường này, bắt buộc phải theo thực hiện lãi suất mình đã công bố. Vì vậy, muốn hình thành
lãi suất IBOR và nó có tác dụng trong việc điều tiết lãi suất thị trường theo đúng mục tiêu thì việc thúc đẩy hoạt động của thị
trường này của NHNN là vấn đề quan trọng.
b. Lãi suất trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở được nhiều nước trên thế giới sử dụng rất hiệu quả trong việc điều tiết thị trường tiền tệ cũng như định
hướng lãi suất trên thị trường do lãi suất trên thị trường này khá sát và nhạy với với lãi suất thị trường, bên cạnh đó các nghiệp
vụ trên thị trường mở dễ dàng được sửa chữa hơn nếu NHNN phát hiện sai sót so với nghiệp vụ trên thị trường liên ngân hàng,
quan trọng nhất là khả năng thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường này có thê đáp ứng yêu cầu về cung ứng vốn, đủ sức điều
chỉnh lãi suất trên thị trường một cách hữu hiệu, nhưng kèm theo đó là điều kiện phát triển của thị trường mở cũng như yêu cầu
hoạt động thường xuyên để NHNN có thể thu thập, xử lý thông tin và thực hiện nghiệp vụ thị trường mở sao cho hoạt động trên
thị trường tiền tệ không vượt quá tầm kiểm soát của NHNN và đi đúng mục đích của chính sách tài chính tiền tệ.
3.2 Cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái
Hiện nay, trên thế giới còn tồn tại nhiều chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, nhưng trong điều kiện hội nhập và quốc tế hóa ngày
nay, xu hướng tiến tới tự do hóa tỷ giá hối đoái đang được Chính phủ các quốc gia theo đuổi. Xét trên bình diện quản lý vĩ mô thì
NHNN VN đang thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt, có sự kiểm soát của Nhà nước, đây có thể nói là một lựa chọn đúng đắn của
Nhà nước trong điều kiện quá trình hội nhập của VN với thế giới còn nhiều cách biệt. Nếu lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi tự do thì
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của chúng ta chưa cho phép, còn nếu lựa chọn chính sách điều hành tỷ giá theo kiểu
“an toàn” thì không thể tránh khỏi những áp đặt mang tính hành chính vào quản lý tỷ giá - điều mà chúng ta đang cố gắng thay
đổi để thích ứng dần với việc điều hành nền kinh tế theo các qui luật phát triển. Điều kiện nêu trên đặt ra những yêu cầu đối với
Nhà nước trong việc lựa chọn và điều hành tỷ giá phải hết sức linh hoạt, thích ứng dần với hội nhập và tạo động lực phát triển
kinh tế.
3.2.1 Xác định đúng giá trị của đồng VN
Từ lâu đồng tiền VN (VND) đã có quan hệ tỷ giá chính thức với đồng đôla Mỹ (USD), để ấn định tỷ giá này, NHNN căn cứ vào tỷ
giá của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để công bố tỷ giá hàng ngày, đây cũng là cơ sở pháp lý để các TCTD đưa ra mức tỷ
giá cụ thể trong giao dịch với khách hàng. Như vậy, tỷ giá VND chủ yếu được đánh giá thông qua sự biến động của VND so với
USD, điều này phản ánh đúng thực trạng giao dịch ngoại hối của VN, các hoạt động thanh toán bằng USD chiếm tỷ trọng cao,
công cụ của chính sách tiền tệ.
- Tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức ngân hàng.
- Xây dựng hệ thống thông tin tài chính hiện đại, đảm bảo cho hệ thống tài chính hoạt động an toàn và hiệu quả, dễ giám sát theo
thông lệ quốc tế.
- Rà soát lại toàn bộ những qui định về việc thành lập, hoạt động của các tổ chức tín dụng trong nước cũng như nước ngoài . .
.áp dụng linh hoạt các công cụ dự trữ bắt buộc, cho vay tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở.
3.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại
Yêu cầu đối với các NHTM là :
- Các ngân hàng phải có qui mô đủ lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao.
- Phân bổ và huy động vốn một cách có hiệu quả.
- Nâng cao năng lực quản lý và tiềm lực tài chính của các NHTM trên cơ sở cơ cấu lại tài chính bao gồm : xử lý nợ quá hạn, đẩy
mạnh tái đầu tư và cơ cấu lại sở hữu nhằm tăng vốn điều lệ.
- Hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, xây dựng và áp dụng cơ chế kiểm tra kiểm soát nội bộ theo thông lệ quốc tế.
- Tạo sức cạnh tranh, mở rộng thị phần trong nước và tranh thủ thời cơ mở thị trường kinh doanh ra nước ngoài.
3.4 Tiến hành cổ phần hóa NHTMQD
Tiến trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và lành mạnh hóa tài chính quốc gia đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ,
các giải pháp lớn cần tiến hành như : xử lý nợ đọng, tăng vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng rất cần sự trợ giúp của Chính
phủ và các cơ quan chức năng, tuy nhiên, để hệ thống ngân hàng có thể giữ được sự phát triển ổn định, đủ sức cạnh tranh trong
môi trường mở cửa, ngăn ngừa sự phát sinh nợ xấu thì bản thân hệ thống ngân hàng cần có những nỗ lực hơn, nhất là các
NHTMQD - những ngân hàng vốn chiếm ưu thế về thị phần và lượng vốn trong hệ thống ngân hàng VN.
Để thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước có thể cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của
NHTMQD với lượng cổ phần tối đa không được vượt quá một tỷ lệ qui định, nhằm tránh tình trạng bị thâu tóm bởi các tập đoàn
tư bản nước ngòai do chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc điều hành cũng như tổ chức hoạt động của một NHTM hiện
đại. Bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngòai, phát triển về vốn hoạt động ngân hàng, chúng ta có thể thuê các tổ chức tài
chính quốc tế thực hiện việc cấu trúc lại hoạt động NHTM theo tiêu chuẩn của NHTM quốc tế hiện đại. Có như vậy, NHTM của
VN mới trở thành một NHTM hiện đại đích thực, có khả năng cạnh tranh và vươn ra thị trường quốc tế.
Xu hướng tất yếu khách quan ngày nay là hòa nhập kinh tế toàn cầu, gắn liền với quá trình tự do hóa thương mại và dòng vốn lưu
chuyển không biên giới. Nếu tách biệt ra khỏi quá trình này, một quốc gia không thể đạt được sự phát triển cao và bền vững. Đối
với VN, đổi mới trong chính sách tài chính là một bộ phận cấu thành của tiến trình hòa nhập kinh tế thế giới nên thành công của
việc thực hiện chính sách tài chính sẽ góp phần không nhỏ vào thành công của công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội có như
đường sắt, đường hàng không, mạng lưới cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tiện ích khác), là điều mong
muốn đối với mọi nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó còn phải kể đến các dịch vụ hỗ trợ khác như hệ thống y t ế, giáo dục, giải
trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo, kỹ thuật, v.v ).
Thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các hoạt động này, môi trường đầu tư cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, hiệu
quả hoạt động của các cơ sở công nghiệp địa phương, sự có mặt của các ngành công nghiệp hỗ trợ, sự tồn tại các đối tác tin cậy
để các công ty nước ngoài có thể liên doanh liên kết cũng là những yêu cầu rất quan trọng cần phải được xem xét đến.
d/ Sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư.
Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh tế chính trị của vốn FDI vượt khỏi sự kiểm soát của chủ
đầu tư nước ngoài. Những bất ổn định kinh tế chính trị sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư, nó không chỉ làm cho dòng
vốn này bị chững lại, thu hẹp, mà còn làm cho dòng vốn từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi mới an toàn và
hấp dẫn hơn.
Hệ thống pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn cho nhà đầu tư. Nội dung của hệ thống pháp
luật càng đồng bộ, chặt chẽ, tiên tiến, nhưng cởi mở, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn của FDI
càng cao.
e/ Hệ thống chính sách đầu tư hấp dẫn, khuyến khích nhà đầu tư
Ví dụ như: Chính sách thương mại thông thoáng; chính sách tiền tệ, lãi suất linh hoạt; chính sách hỗ trợ tín dụng; hệ thống thuế
rõ ràng, đơn giản, dễ áp dụng, mức thuế không quá cao, có ưu đãi…
Phân tích các giải pháp mở rộng thu hút nhanh vốn FDI tại Việt Nam.
Định hướng:
Để có những định hướng cụ thể về việc thu hút FDI, cần xem xét một số thuận lợi và khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt
trong thời gian sắp đến.
- Về thuận lợi: Dòng FDI toàn cầu đã dần vượt qua khỏi đáy của sự suy giảm năm 2009, có thể bắt đầu lấy lại đà tăng
trưởng trong năm 2011 và được dự báo đạt 1,2-1,5 nghìn tỉ USD. Các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi
tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Điều tra triển vọng đầu tư thế giới (WIPS) 2009-2011 của Cơ
quan Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) cho thấy, Việt Nam vẫn được các công ty xuyên quốc gia (TNCs)
đánh giá là 1 trong 15 nền kinh tế hấp dẫn cho đầu tư. Tình hình chính trị ổn định, vị thế quốc tế của Việt Nam đang được nâng
cao cùng với các hoạt động kinh tế đối ngoại tích cực trong năm 2010 của lãnh đạo cấp cao Đảng và nhà nước ta sẽ tiếp tục
củng cố lòng tin và làm gia tăng mối quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài đối với nước ta trong năm 2011 và thời gian tới.
- Về thách thức: Bên cạnh những thuận lợi thì Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế ảnh hưởng đến thu hút FDI như: hệ
thống kết cấu hạ tầng còn yếu kém, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, công tác quy hoạch thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính
c/ Về xúc tiến đầu tư:
- Ðể thu hút dòng vốn FDI đúng mục tiêu và định hướng, công tác xúc tiến đầu tư cần tiếp tục được đổi mới theo hướng bố
trí các nguồn lực để xúc tiến đầu tư theo chuyên đề, theo ngành, lĩnh vực và theo vùng, miền. Không xúc tiến đầu tư theo địa giới
hành chính để bảo đảm tính liên kết vùng, miền, tận dụng tối đa các tiềm năng thế mạnh của vùng, miền và giảm đầu tư theo
phong trào, theo thành tích.
- Cần phải có chiến lược kêu gọi đầu tư, tăng cường các hoạt động đối ngoại, tích cực xúc tiến đầu tư qua mọi phương tiện,
mọi kênh thông tin với các nước trên thế giới thông qua các chuyến thăm, làm việc cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và
Chính phủ; tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo tổ chức trong và ngoài nước
d/ Về cải thiện cơ sở hạ tầng:
- Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài
ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.); hệ thống đường
bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt; sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượng
mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin.
- Ngoài ra cần phải quy hoạch, nâng cấp hệ thống điện, nước sạch và đường truyền Internet băng thông rộng. Giá cước, phí
các loại hàng hoá, dịch vụ công cộng cần phải có sự điều chỉnh tương đương với các nước trong khối Asean nhằm đáp ứng tối đa
các nhu cầu mà nhà đầu tư nước ngoài đã đặt ra.
e/ Về nguồn nhân lực:
Cần nâng cao số lượng cũng như chất lượng nguồn lao động Việt Nam đáp ứng được nhu cầu về nguồn lao động do các
nhà đầu tư nước ngoài đặt ra như: trình độ tay nghề - kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ, sức khoẻ và tác phong làm việc công nghiệp.
f/ Một số giải pháp khác:
- Xây dựng chính phủ điện tử và phổ biến thương mại điện tử. Thúc đẩy thiết kế và xây dựng các website của Chính phủ,
chính quyền địa phương và các doanh nghiệp để các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận các nguồn thông tin FDI ban đầu có chất lượng
và trung thực thông qua mạng Internet.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư của Việt kiều về nước. Chính phủ cần có những chính sách, cơ chế nhằm kêu gọi, thu hút các
Việt kiều về nước đầu tư do họ có những trình độ quản lý, nắm bắt công nghệ phương Tây, thêm nữa giúp quảng bá tốt hơn các
chính sách đầu tư của Việt nam với các đối tác kinh doanh quốc tế của mình.
Câu 5: Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ tham gia vào quản lý hệ thống tài chính bằng các “qui định”
(Regulations)?
Kể từ khi thống nhất đất nước, ban đầu hệ thống tài chính của Việt Nam được tự do hoá hoàn toàn, nhưng dần dần tất cả các loại
Từ năm 1990, đạo luật nào được gỡ bỏ dần dần. Và đến năm 1999, chính quyền Bill Clinton đã thay thế đạo luật này bằng một
đạo luận mới, cho phép các định chế siết chặt lại với nhau, không còn ranh giới (NH có quyền kinh doanh CK, BH cũng vậy…).
Mục đích là tạo ra sự tự do tài chính.
Chính do sự tự do hóa tài chính này dẫn đến việc các NH tham gia vào rất nhiều các hoạt động mang tính rủi ro cao. Cộng với
tâm lý quá lớn để thất bại nên các NH càng liều lĩnh trong các hoạt động của mình. Vì vậy mới gây ra khủng hoảng dây chuyền
năm 2007 ở Mỹ.
Những nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ, đó là:
- Sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng thị trường bất động sản, của các khoản cho vay khổng lồ để thế chấp nhà đất ở Mỹ.
- Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng và sai lệch lớn trong điều tiết tài chính, khi có tình thế xấu xảy ra, hệ thống ngân hàng Mỹ
bị hoảng loạn, lan ra toàn thế giới, gây nên sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn tới sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư.
- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ và nhiều nước đã có những khiếm khuyết lại được thực hiện thiếu nhất quán, đầy đủ và
thiếu cải cách cơ cấu dẫn tới kinh tế vĩ mô mất cân bằng và thiếu bền vững.
- Sự suy giảm giá trị của đồng đô la và khủng hoảng chế độ tiền tệ không bản vị. Từ tháng 8/1971, Mỹ tuyên bố đóng cửa thị
trường vàng và đồng đô la từ đó không còn dùng vàng làm thước đo giá trị nữa. Từ đó, đồng đô la được phát hành vô tội vạ và
giá trị của nó ngày càng giảm đi.
- Kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn giữa việc xã hội hoá vô cùng mạnh mẽ, rộng lớn của sức sản xuất xã hội được cộng
hưởng trong quá trình toàn cầu hoá với quan hệ chiếm hữu tư nhân chật hẹp, ích kỷ, vô trách nhiệm tại các nền kinh tế lớn có
ảnh hưởng toàn cầu, đặc biệt là ở Mỹ và các nước phát triển. Để bảo đảm mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận, giới chủ tư bản và
các tập đoàn tư bản bằng mọi giá thúc đẩy tư nhân hoá, tự do hoá thị trường, cổ vũ chủ nghĩa thực dụng, khuyếch đại chính sách
tư bản giả, chi phối các chính sách kinh tế - xã hội của các quốc gia. Chính vì thế, gần như toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối
sản phẩm đều trong tay giới tư bản tài phiệt, bất khả xâm phạm, không thể kiểm soát.
Những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp nêu trên, bắt nguồn từ một điều cốt lõi nhất, quan trọng nhất dẫn tới cuộc khủng
hoảng này. Đó chính là việc nhận thức và thực hiện sai lệch vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Cuộc khủng
hoảng lần này rõ ràng bắt nguồn trực tiếp từ việc Chính phủ Mỹ và các chính phủ khác ở các nước phát triển đã xử lý sai lầm
quan hệ giữa nhà nước và thị trường, trao quá nhiều quyền cho cơ chế thị trường tự do, buông lỏng sự quản lý và giám sát điều
hành của nhà nước. Cụ thể hơn ở Mỹ là Cục dự trữ Liên bang đã thả lỏng tín dụng trong một thời gian dài cho sự bùng nổ thị
trường bất động sản; thị trường ảo và kinh tế “bong bóng” đã tự do phi mã đến lúc vỡ tung ra. Lỗi quan trọng ở đây là “quá ít
nhà nước, quá nhiều thị trường tự do”.
17
Cắt nghĩa từ cội nguồn vấn đề này cần khái lược lại cơ chế vận hành của nền kinh tế Mỹ và các nước phát triển. Đã có một thời
cổ phần mục tiêu rõ ràng.
Giả thuyết rằng ban quản trị biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin không
cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền
mặt tương lai.
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát hành chứng khoán (nguồn tài chính
bên ngoài). Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giá
cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban
quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài). Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn
này, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếu
như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao.
Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành tiền cho
vay. Điều này khiến các nhà quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu.
Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc phân hạng thị trường. Trước
hết, các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay, và cuối cùng là phát
hành vốn cổ phần.
Tiêu điểm của thuyết này không tập trung vào kết cấu vốn tối ưu nhưng tập trung vào sự quyết định tài chính hiện hành sắp tới.
Tỷ lệ Nợ/Tài sản = f {hoạt động kinh doanh, nhu cầu đầu tư}
Như vậy, Myers và Majluf cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối ưu với các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, tài trợ bằng nợ rẻ hơn vốn cổ phần. Trong trường hợp này, “chi phí” được đề cập ở đây chính là chi phí có thể đo
lường được cho việc huy động vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Với nợ, đó chính là chi phí lãi vay mà doanh nghiệp
phải trả cho khoản vay của mình. Với vốn cổ phần, chi phí sử dụng vốn được hiểu như là quyền đối với thu nhập phải đủ thỏa
mãn được các cổ đông khi họ quyết định góp vốn vào công ty.
Ví dụ, nếu bạn điều hành một doanh nghiệp nhỏ và cần tài trợ khoảng $40,000, bạn có thể hoặc là đi vay ở ngân hàng số tiền
18
$40,000 với lãi suất 10% hoặc bạn có thể bán 25% cổ phần doanh nghiệp cho người hàng xóm với giá $40,000.
Giả sử trong năm sau đó, doanh nghiệp của bạn có thể tạo ra được lợi nhuận hoạt động là $20,000. Nếu ban đầu bạn quyết định
đi vay ở ngân hàng với chi phí lãi vay (hay còn gọi là chi phí tài trợ của nợ) sẽ là $4,000, bạn còn lại lợi nhuận $16,000. Ngược
lại, nếu bạn đã sử dụng tài trợ vốn cổ phần, nghĩa là bạn không hề có nợ và dĩ nhiên là không có chi phí lãi vay nhưng bạn chỉ
được nắm giữ 75% lợi nhuận của doanh nghiệp thôi (25% khác thuộc sở hữu của người hàng xóm nhà bạn). Do đó, lợi nhuận
của bạn bây giờ chỉ có $15,000 (tức 75%*$20,000)
đáng và đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc sử dụng nợ. Phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng là một hình thức vay nợ của
doanh nghiệp.
Giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh
Doanh nghiệp và ngân hàng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài chính
của doanh nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến “sức khỏe” của các ngân hàng. Sau đây là một số giải pháp giúp hệ thống các ngân
hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh trong việc cho vay đối các doanh nghiệp:
- Thẩm định tốt các doanh nghiệp vay vốn bao gồm thẩm định năng lực tài chính thông qua báo cáo tài chính, hỗ trợ
doanh nghiệp tự đánh giá năng lực tài chính của công ty từ đó tính toán hạn mức nhu cầu vốn vay thật sự của doanh nghiệp tránh
tình trạng doanh nghiệp vay số tiền vượt nhu cầu thật sự của mình dẫn đến áp lực trả nợ cao. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cẩn
phải thẩm định tính pháp ly doanh nghiệp, người đại diện công ty trước pháp luật, trụ sở, chi nhánh nhà xưởng máy móc thiết bị
để biết được quy mô hoạt động của doanh nghiệp, quy trình sản xuất cũng như hoạt động tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh
nghiệp. Ngoài ra, thẩm định tài sản (đối với trường hợp vay thế chấp) cũng là một việc quan trọng vì đây là “chốt chặn cuối
cùng” phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng. Việc thẩm định phải đảm bảo nguyên tắc “an toàn” và không chịu áp tăng trưởng dư nợ
cũng như áp lực từ phía khách hàng.
19
- Theo sát dòng tiền của doanh nghiệp sau khi cho vay để có những xữ lý kịp thời cũng nhu cung cấp các sản phẩm dịch
vụ phù hợp cho doanh nghiệp. Ví dụ đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại có uy tín thì ngân hàng có
thể hỗ trợ vốn vay bằng cách cung cấp sản phẩm chiết khấu hoặc bao thanh toán nhằm hỗ trợ khả năng thanh toán cho doanh
nghiệp. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp được phép vay tín chấp thì viêc theo sát dòng tiền là điều kiện tiên quyết bắt buộc đối
với ngân hàng để phòng ngừa rủi ro.
- Bảo mật thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp đang vay vốn tại ngân hàng. Tránh những tiết lộ gây ảnh
hưởng đền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau cho vay.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ để thực hiện tốt công tác thẩm định và chăm sóc khách hàng.
- Thiết kế các sản phẩm dịch vụ phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp và nhu cầu của họ.
- Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập và có tiềm năng phát triển.
- Cân đối lãi suất huy động và cho vay hợp lý để đảm bảo tính thanh khoản và tăng trưởng dư nợ bền vững.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú sốc bất ngờ như khủng hoảng kinh tế, thiên tai…nguyên
nhân gây ra tình trạng nợ xấu nhiều nhất là do các ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phía khách hàng của mình mặc dù đã
có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định . Nói một cách đơn giản, là do cơ chế sàng lọc chưa đủ hiệu lực nên các ngân hàng
Mặc dù bối cảnh kinh tế quốc tế không mấy sáng sủa, nhưng trong năm 2010, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu tăng trưởng
(6,78%) và là một trong số quốc gia có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong khu vực. Hệ thống ngân hàng - tài chính giữ được ổn
định, các công cụ điều hành mang tính hành chính trong giai đoạn chống suy giảm kinh tế dần dần được dỡ bỏ, các công cụ thị
trường đang dần tái sử dụng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hồi phục và phát triển sau tác động của khủng hoảng kinh tế và
tài chính trên thế giới. Có được kết quả trên, nhờ vào việc chỉ đạo quyết liệt, cùng với phương pháp điều hành chính sách vĩ mô
nhanh nhạy, linh hoạt và thận trọng của Chính phủ, trong đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa - tài chính đóng vai trò
quan trọng có quyết định tới ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng.
Thế nhưng, trong năm 2010, mặc dù đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP, song lạm phát đã vượt mục tiêu gần 2 điểm phần trăm.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả không mong muốn này, trong đó sự phối hợp chưa thực sự nhịp nhàng giữa chính sách tài
20
khóa và chính sách tiền tệ cũng đã ảnh hưởng tới kết quả kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua. Sự phối hợp chưa
nhịp nhàng giữa hai chính sách vĩ mô quan trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến kiểm soát lạm phát trong ngắn hạn là do:
- Thứ nhất: Chủ trương duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài, đặc biệt ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, tài
chính thế giới đã đè nặng lên chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở Việt Nam. Với mô hình tăng trưởng chủ yếu nhờ vào
tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước hiện tại hoạt động kém hiệu quả làm chủ đạo và nhờ vào việc bán tài nguyên,
gia công trình độ thấp dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp. Điều này được minh chứng qua số đơn vị cần thiết để tạo ra một điểm phần
trăm tăng trưởng GDP (hệ số ICOR) vào khoảng 6 trong những năm gần đây, dẫn đến quyết định logic về chính sách là để tăng
trưởng cao cần gia tăng đầu tư.
- Thứ hai: Kết cục của mô hình tăng trưởng này dẫn đến Chính phủ phải thực thi chính sách tài khóa mở rộng, chấp nhận
thâm hụt ngân sách (5,8%) và phát hành trái phiếu để bù đắp cho nhu cầu đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Tổng mức đầu tư ban
đầu của các dự án, công trình thuộc danh mục đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003 - 2010 là 246.447 tỷ
đồng. Hầu hết các dự án đều có điều chỉnh tổng mức đầu tư so với phê duyệt ban đầu. Có dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư lên 3
- 4 lần, riêng phần vốn trái phiếu Chính phủ một số dự án điều chỉnh tới trên chục lần, qua tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
tổng mức đầu tư điều chỉnh từ các bộ, ngành, địa phương đã lên tới 558.654 tỷ đồng (tăng 226%). Uỷ ban Tài chính - Ngân sách
cho rằng, tổng mức đầu tư các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn này đã “tăng quá cao so với khả năng cân đối của ngân sách,
ảnh hưởng đến khả năng vay và trả nợ” . Trong khi cơ chế điều hành, quản lý nguồn vốn chưa hợp lý số lượng dự án hoàn thành
còn quá ít, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn.
- Thứ ba: Chinh sách tài khóa với chi tiêu công quá mạnh trong khu vực đầu tư, làm tăng tỷ lệ đầu tư/GDP ở mức 44,2%
năm 2010 - cao nhất châu Á, sau Trung Quốc. Do nền kinh tế kém hiệu quả nên các khoản đầu tư công cũng không mấy hiệu quả
đã tạo ra sự mất cân đối giữa lượng hàng hóa với số lượng tiền trong nền kinh tế và kết quả tất yếu phải xảy ra là lạm phát. Chi
tiền tệ đang tìm cách thắt chặt để kiểm soát lạm phát thì chính sách tài khóa lại nới lỏng cho đầu tư công như thời gian vừa qua.
- Thứ hai: Việc phát hành trái phiếu chính phủ với khối lượng lớn trong năm qua cho chi tiêu công đã dẫn tới hiện tượng
khan hiếm vốn cho khu vực sản xuất, các doanh nghiệp vẫn thiếu vốn và lãi suất cho vay vẫn ở mức cao cho dù chính sách tiền tệ
đã kiểm soát tốt các chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng. Do vậy, để ưu tiên vốn cho khu vực sản xuất
21
kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, Chính phủ cần nghiên cứu giảm phát hành trái phiếu chính phủ cho đầu tư công trong năm
2011 và các năm tiếp theo.
- Thứ ba: Lãi suất phát hành trái phiếu cần được nghiên cứu, tính toán với mặt bằng lãi suất huy động chung của hệ
thống ngân hàng thương mại, hạn chế các ngân hàng thương mại sử dụng vốn huy động để mua trái phiếu chính phủ và cần
tăng cường phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc xác định lãi suất đảm bảo ổn định lãi suất thị
trường.
- Thứ tư: Từng bước giảm bội chi ngân sách theo hướng Chính phủ chỉ đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm
liên quan đến quốc kế dân sinh, khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng
thông qua hình thức đối tác công tư (PPP)
- Thứ năm: Nguyên nhân căn bản của lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua là mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư
nhưng lại kém hiệu quả và thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, và vì vậy, để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian
tới, Chính phủ cần kiên định với mục tiêu ưu tiên ổn định vĩ mô thay vì thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP, thậm chí cần đặt mục
tiêu tăng trưởng thấp hơn (khoảng 6 - 6,5%) để kiểm soát lạm phát ở mức 5 - 6% năm 2011 và duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức 3 -
4% những năm tiếp theo. Làm được như vậy nền kinh tế sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng vững chắc và lâu dài.
- Thứ sáu: Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ngay từ khâu xây dựng và
hoạch định chính sách, trước mắt năm 2011, cả hai chính sách này phải nên được thắt chặt để giảm tổng cầu và ngăn chặn lạm
phát, chính sách tài khóa cần được xây dựng theo hướng giảm dần thâm hụt tài chính tổng thể và thâm hụt ngân sách nên được
duy trì ở mức 4 - 5%/năm.
Câu 9: Trình bày các quan điểm lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện thông tin bất cân xứng và khuynh hướng tài
trợ vốn của hệ thống tài chính Việt Nam trong thời gian tới.
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn
cổ phần mục tiêu rõ ràng.
Giả thuyết rằng ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin
không cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu
lượng tiền mặt tương lai.
22
Không giới hạn qui mô tài trợ vốn
Liên kết và gia tăng tiềm lực đầu tư
Cung cấp nguồn vốn dài hạn
Khắc phục các yếu kém của hệ thông ngân hàng
Câu 10: - Phân tích những lợi ích chi phí khi tham gia khu vực đồng tiền chung.
- Nhưng điều kiện cơ bản khi xây dựng khu vực đồng tiền chung.
- Nhận định về điều kiện xây dựng đồng tiền chung khu vực Asean.
1. Lợi ích – chi phí
• Lợi ích
- Giảm chi phí trong thương mại
- Xóa bỏ thị trường ngoại tệ với các đồng tiền trong khu vực. Ví dụ: thống kê trong EUROZONE khoảng tiết kiệm này lên đến
0.25 -0.5% GDP
- Thúc đẩy TM; gia tăng đầu tư
- Đồng nhất giá cả
- Một đơn vị tiền tệ chung cho hàng hóa trong khu vực => gia tăng TM trong nội khối
- Tăng sự cạnh tranh
- Xu hướng giảm giá sp -> có lợi cho khách hàng.
- Hạn chế sự bất ổn
- Tối thiểu hóa biến động tỷ giá trong TM giữa các nước thành viên => ổn định hoạt động kinh doanh; dễ dàng trong lập KH
kinh doanh và tăng đầu tư
- Lợi ích thu được từ việc sử dụng một đồng tiền quốc tế
- Tăng trưởng kinh tế
• Chi phí
- Dỡ bỏ các ràng buộc thương mại là điều bắt buộc trong nội khối=> nhằm tăng cạnh tranh
- Mất sự độc lập cũng như tự quyết của mỗi nước trong các quyết định liên quan đến chính sách tiền tệ
- Liên minh tiền tệ và cú sốc do sự không cân xứng
- Tác động lên thị trường lao động ?
- Chi phí để các tổ chức và cá nhân thực hiện sự thay đổi, điều chỉnh
- Lạm phát và thất nghiệp
hiện đại hoá, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng của khu vực
sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn ở mức cao.
Thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung có trình độ công nghệ khá tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện
đại. Các khu công nghiệp và khu chế xuất với yêu cầu thu hút vốn FDI đã được hình thành và phát triển và ngược lại, thông qua
đầu tư nước ngoài, hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất đã có sự phát triển khá mạnh và vững chắc. Trong các khu công
nghiệp này, FDI đã giúp Việt Nam hình thành và phát triển những ngành công nghiệp khá hiện đại như khai thác chế biến dầu
khí, lắp ráp xe hơi- xe máy, nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống hiện hữu như may mặc, chế biến lương thực – thực
phẩm, đào tạo huấn luyện nhân lực theo các tiêu chuẩn quốc tế… Nhiều sản phẩm của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã
đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu. Những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân như
viễn thông, dầu khí, du lịch đang phát triển nhanh chóng nhờ có sự đóng góp quan trọng của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hơn thế nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất trong nước
Tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực.
Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới
Tác động lan tỏa của đầu tư nước ngoài đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế: Các cán bộ quản lý và cán bộ
kỹ thuật trong nước được kích thích nâng cao trình độ khi giao dịch với các đối tác nước ngoài.
Đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô.
- Về mặt xã hội:
Đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực.
Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. .
1.2 Chi phí
***Hạn chế
- Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ.
- Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ.
- Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết kịp thời.
- Sự phụ thuộc về kinh tế của các nước nhận đầu tư.
- Rút vốn ồ ạt và bất ngờ có thể gây khủng hoảng.
- Chi phối thị trường, khai thác nguồn tài nguyên và tác động đến môi trường (ô nhiễm).
2. Đánh giá khái quát về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta.
Tính từ 1995 đến 2010, cả nước đã cấp giấy phép đầu tư cho khoảng 11.834 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký là
trội về cơ sở hạ tầng, thuận lợi trong giao thông đường thủy, bộ, hàng không, năng động trong tư duy kinh doanh đã thu hút 7360
dự án với tổng vốn đầu tư đạt 95,51 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn đăng ký. Tp.Hồ Chí Minh với định hướng hình thành trung tâm
dịch vụ cấp cao theo hướng tập trung vào Tài chính-Ngân hàng và các ngành công nghệ cao (như công viên phần mềm Quang
Trung) dẫn đầu cả nước với vốn đăng ký 30 tỷ USD chiếm 30% tổng vốn đăng ký của Vùng; thu hút được 3475 dự án đầu tư.
Tiếp theo thứ tự là Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương (Xem bảng 2.4 Phần Phụ lục). Các tỉnh này đã có sự gia tăng số vốn đăng
kí nhanh chóng trong những năm qua nhờ vào những cải cách hành chính cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng trong khu vực…
Vùng trọng điểm phía Bắc – khu vực Đồng bằng sông Hồng: Với vị thế là trung tâm thủ đô khu vực này đã thu hút 3108
dự án với vốn đầu tư trên 34,7 tỷ USD, chiếm 18% về tổng vốn đăng ký cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu với 1926 dự án, vốn
đăng ký đạt 20,25 tỷ USD. Tiếp theo thứ tự là Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc…
Vùng trọng điểm miền Trung – khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ: Cơ sở hạ tầng, giao thông từng
bước được cải thiện cộng với nhiều chính sách ưu đãi đã đưa vùng này trở thành điểm sáng về thu thu hút đầu tư với những dự án
lọc hóa dầu, các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng đạt chuẩn quốc tế… có quy mô lớn, thu hút được 595 dự án với tổng vốn đăng
ký 40,1 tỷ USD chiếm 21% tổng vốn đăng ký của cả nước. Dẫn đầu khu vực này là Hà Tĩnh thu hút 24 dự án lớn với vốn đăng ký
khoảng 8 tỷ USD, tiếp theo là Phú Yên, Thanh Hóa, Quảng Nam…
Vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): Trong số 10 địa phương dẫn đầu về thu hút FDI từ
trước đến nay thì không có tỉnh miền núi, các tỉnh khu vực Tây Nguyên nào. Thực tế này cho thấy, một số tỉnh miền núi phía bắc,
Tây Nguyên, ĐBSCL thu hút được rất ít dự án FDI mặc dù Chính phủ đã có chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt cho các tỉnh đó và
chính quyền địa phương cũng rất quan tâm đến hoạt động xúc tiến đầu tư.
Nhìn chung vốn FDI có xu hướng ngày càng dịch chuyển vào các vùng trọng điểm phía Nam và miền Trung, giảm dần ở các
vùng miền Bắc. Cơ cấu FDI theo vùng miền chưa thực hiện được mục tiêu là rút ngắn khoảng cách về trình độ cũng như tốc độ
phát triển giữa các vùng mà trái lại còn làm giãn xa hơn. Do đó, trong những năm tới, Nhà nước cần phải điều chỉnh cơ cấu đầu
tư theo vùng lãnh thổ, từng bước phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế
3. Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
3.1. Về chính sách, quản lý nhà nước:
- Tiếp tục duy trì được ổn định chính trị như hiện nay là một trong những yếu tố hấp dẫn nhất đối với nhà đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam so với các nước trong khu vực.
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đầu tư nước ngoài theo hướng đầy đủ, rõ ràng, thông thoáng, thống
nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài và Luật doanh nghiệp áp dụng chung cho cả doanh
nghiệp trong và ngoài nước, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Thủ tục hành chính cần giảm bớt tối đa, tăng cường hỗ trợ
các nhà đầu tư giải quyết các thủ tục.