BÌA 1
BÌA 2
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên:
Nhận xét chung:
Tp.HCM, ngày … tháng … năm …
Giảng viên hướng dẫn
DANH MỤC BẢNG BIỂU – SƠ ĐỒ
Bảng 3.2.2.1. Số lượng giá trong một nền kinh tế đổi chác và số lượng giá trong
một nền kinh tế dùng tiền tệ
MỤC LỤC
1. Tóm tắt 8
2. Giới thiệu tầm quan trọng của đề tài 8
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, đặc biệt là hoạt động sản xuất, lưu thông, trao đổi
hàng hóa. Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa
và dịch vụ; một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một
vùng phổ biến nhất định. Và đồng tiền từ xưa đến nay ở mỗi quốc gia có một mức
quy ước khác nhau. Một hệ thống tiền tệ của mỗi quốc gia phải trải qua một
khoảng thời gian dài lịch sử, đồng tiền Việt Nam đồng của nhà nước cộng hòa chủ
nghĩa Việt Nam cũng đã có một bề dày lịch sử. Trải qua các giai đoạn khác nhau,
đồng tiền nước ta đã có nhiều thay đổi. Từ đồng Đông Dương mệnh giá 100 đồng
bạc được người Pháp phát hành và lưu thông trong thời gian từ năm 1885 đến năm
1954, cho đến nay đã trải qua các thời kỳ phát triển đáng kể.
2
Đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp thu thập tài liêu từ sách, báo điện
tử, website có liên quan. Sau đó đọc hiểu, dùng phương pháp phân tích, phương
pháp quy nạp đưa ra nhận xét và kết luận.
Qua bài viết này chúng ta có thể hiểu rõ hơn về tiền, về sự ra đời và phát triển của
nó, và nắm được hệ thống tiền tệ của Việt Nam.
2. Giới thiệu tầm quan trọng của đề tài
2.1. Tầm quan trọng của đề tài cần nghiên cứu
Tầm quan trọng của đề tài này ta có thể thấy rõ được và hiểu được tại sao nhân loại
là sử dụng tiền làm vật ngang giá chung rộng rãi, và tiền đã trải qua bao nhiêu hình
thái để có thể phục vụ cho nền kinh tế hiện nay. Nguyên cứu xem đồng tiền Việt
Nam xuất hiện như thế nào, phát triển ra sao. Để hiểu rõ hơn về hệ thống tiền tệ
Việt Nam.
Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình sản xuất, phát triển kinh tế xã hội của
mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trừơng
nền kinh tế được tiền tệ hóa cao độ
2.2. Xác định vấn đề nghiên cứu, đặc biệt làm rõ cái mới cần nghiên cứu
Tiền tệ là một phát minh vĩ đại nhất của nhân loại, vậy nó hình thành ra sao? Tại
sao lại phải sinh ra tiền tệ? Để phục vụ cho nền kinh tế ngày càng phát triển và tiện
lợi hơn trong lưu thông. Đã bao thời kỳ trải qua, tiền tệ theo đó mà phát triển vượt
thái đầy đủ hay mở rộng.
Ví dụ: 1m vải = 10 kg thóc hoặc 2 con gà hoặc 0,1 chỉ vàng hoặc ….
Đây là sự mở rộng hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên. Trong ví dụ trên, giá
trị của 1m vải được biểu hiện ở 10kg thóc hoặc 2 con gà hoặc 0.1 chỉ vàng…Như
vậy, hình thái vật ngang giá đã được mở rộng ra ở nhiều hàng hóa khác nhau.
Hình thái chung của giá trị
Với sự phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội,
hàng hóa được đưa ra trao đổi thường xuyên, đa dạng và nhiều hơn. Nhu cầu trao
đổi trở nên phức tạp hơn, người có vải muốn đổi thóc, người có thóc lại không cần
vải mà lại cần thứ khác. Trong tình hình đó người ta chấp nhận đi đường vòng,
mang hàng hóa của mình đổi lấy thứ hàng hóa được nhiều người ưa chuộng, rồi
đem hàng hóa đó đổi lấy thứ hàng hóa mình cần. Khi đó, thì hình thái chung của
giá trị xuất hiện
Ví dụ: 10kg thóc
Hoặc 2 con gà = 1m vải
Hoặc 0.1 chỉ vàng
…
Ở đây, tất cả các hàng hóa đều biểu thị giá trị của mình ở cùng một thứ hàng hóa
đóng vai trò là vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng hóa nào. Mỗi địa
phương lại có hàng hóa ưa chuộng khác nhau
Hình thái tiền tệ
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất
hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng làm cho trao đổi giữa các địa phương
vấp phải khó khăn, đòi hỏi khách quan dẫn đến phải hình thành vật ngang giá
chung thống nhất. Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và
phổ biến thì hình thái tiền tệ giá trị xuất hiện
4
Lúc đầu có nhiều kimloại đóng vai trò tiền tệ, nhưng về sau được cố định lại ở kim
loại quý: vàng, bạc và cuối cùng là vàng. Đến đây, giá trị trao đổi hàng hóa đã có
một phương tiện biểu hiện thống nhất. Tỉ lệ trao đổi được cố định
Ngày nay, ở nhiều quốc gia, đặc biệt là quốc gia có nền kinh tế thị trường phát
triển,tiền tệ không đơn thuần là phương tiện trao đổi mà người ta còn sử dụng tiền
để đầu tư, để cho vay và xem như một dạng của cải, một đối tượng để sở hữu
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền tệ là bất cứ thứ gì được
chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hóa, dịch vụ và thực hiện
nghĩa vụ tài chính.
5
3.1.3.Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang
giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hện lao động xã hội và biểu
hiện quan hệ giữa người sản xuất hàng hóa.
Tiền tệ ra đời đã làm cho thế giới hàng hóa được phân làm hai cực,một phía là
hàng hóa thông thường,một phía là hàng hóa đặc biệt – hàng hóa tiền tệ. Từ sự
phân tích nói trên cho thấy bản chất của tiền tệ thể hiện qua hai khía cạnh :
Bản chất kinh tế
Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò làm vật ngang giá chung để đo lường
và biểu hiện giá trị của tất cả các hàng hóa khác để làm phương tiện lưu thông,
phương tiện thanh toán và tích lũy giá trị cho mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội
Tiền tệ là sản phẩm tự phát và tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Tiền tệ là một
phạm trù kinh tế - lịch sử gắn liền với sự phát sinh phát triển và tồn tại của nền sản
xuất và trao đổi hàng hóa. Ở đâu có tồn tại sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó sẽ
có sự tồn tại của tiền tệ
Bản chất xã hội
Tiền không chỉ là một vật thể đơn thuần vô tri, vô giác, mà nó còn chứa đựng và
biểu hiện các quan hệ xã hội – đó là quan hệ giữa người với người trong các chế độ
xã hợi còn tồn tại sản xuất và trao đổi hàng hóa. Tiền tệ nằm trong tay cấp nào nó
sẽ phục vụ cho mục đích và quyền lợi của giai cấp đó
3.2. Sự phát triển của tiền tệ.
3.2.1. Hình thức của tiền tệ
Tiền tệ - hàng hóa
gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét
vải tính bằng bao nhiêu kiliogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu
kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối.
Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt
hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có
499.500 giá.
Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/2
Hãy tưởng tượng ra sự khó khăn đến thế nào nếu ta đi mua sắm trong một siêu thị
với 1000 mặt hàng khác nhau. Khi quyết định giá của vật này rẻ hay đắt hơn giá
cuả cái kia rất khó khăn vì giá của 1 kilogam gà được đo bằng 5 kilogam thóc,
trong khi 1 kilogam cá được định giá băng 3 kilogam cà chua. Chắc chắn rằng bạn
có thể so sánh giá của tất cả các mặt hàng, bảng giá của một mặt hàng sẽ phải kê ra
999 giá khác nhau và thời gian dung để đọc chúng rất lâu làm cho chi phí giao dịch
tăng đáng kể.
Giải pháp cho vấn đề này là đưa tiền vào nền kinh tế và dùng tiền để thể hiện giá
ch tất cả các mặt hàng, như vậy chúng ta có thể dễ dàng so sánh được giá gạo, vải
hay muối. Nếu chỉ có 3 mặt hàng trong nền kinh tế thì điều này sẽ không có nghĩa
lớn so với nền kinh tế đổi chác vì chúng ta chỉ có 3 giá khi giao dịch. Tuy nhiên,
với số lượng hàng hóa lớn hơn thì tầm quan trọng của tiền lúc này sẽ rất lớn, với
10 mặt hàng bây giờ chúng ta chỉ cần 10 giá, 100 mặt hàng chỉ cần 100 giá. Tại
siêu thị có 1000 mặt hàng thì nay chỉ cần 1000 giá để xem chứ không phải 499.500
giá.
7
Số lượng giá trong một nền kinh tế đổi chác và số lượng giá trong một nền kinh tế
dùng tiền tệ được thể hiên qua bảng sau:
SỐ LƯỢNG MẶT
HÀNG
SỐ LƯỢNG GIÁ
TRONG NỀN KINH TẾ
ĐỔI CHÁC
dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền
đúc đủ giá trị.
Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình
trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi
8
hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu
thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền
nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của
tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự
ra đời của tiền giấy.
Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công
nhận trong phạm vi quốc gia.
Phương tiện cất trữ
Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ
tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái
giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương
tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho
tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu
thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu
thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng
rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.
Phương tiện thanh toán
Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu
hàng Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy
sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức
năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến
kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán.
Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách
thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán
chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ
quan hệ hợp tác quốc tế.
Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát
huy vai trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các
quan hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên
thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế
xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước.
-Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng
chúng.
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan
hệ kinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không
thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiện tiền tệ trở thành công cụ có
quyền lực vạn năng xử lý và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã
hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế. Chính vì vậy mà
tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền
tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền
vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Hệ thống tiền tệ Việt Nam
4.1.1. Lịch sử lưu thông tiền tệ Việt Nam
Thời kì phong kiến ( 9/1888 trở về trước )
Giấy bạc Đông Dương – tờ tiền giấy đầu tiên của Việt Nam
10
Tờ tiền giấy đầu tiên được lưu thông ở Việt Nam là đồng Đông Dương mệnh giá
100 đồng bạc được người Pháp phát hành và lưu thông trong thời gian từ năm 1885
đến năm 1954. Trên đó có in hình 3 thiếu nữ với trang phục truyền thống của 3
nước Lào, Campuchia và Việt Nam.
Giấy bạc Đông Dương in hình 3 thiếu nữ với trang phục truyền thống Lào,
Campuchia, Việt Nam
Thời kì thuộc địa nữa phong kiến ( 10/1958 – 8/1945 )
Giấy bạc Cụ Hồ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945
12
Tờ bạc 200 với dòng chữ răn đe "Hình phạt khổ sai những kẻ nào giả mạo giấy bạc
do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành ra”
Tiền giải phóng sau năm 1975
Sau giải phóng đất nước 30/4/1975, tiền lưu hành ở miền Nam mất giá và được đổi
tên thành tiền giải phóng. Đến năm 1978, sau khi Nhà nước ổn định và thống nhất
về tài chính, tiền Việt Nam tiếp tục thay đổi. Ở miền Bắc, 1 đồng giải phóng đổi 1
đồng thống nhất, ở miền Nam 1 đồng giải phóng đổi 8 hào thống nhất. Đồng thời
nhà nước cũng phát hành thêm các loại tiền 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20
đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng.
1 đồng in hình nhà máy Gang thép Thái Nguyên
5 hào in hình cây dừa ở Bến Tre
13
10 đồng in hình vụ thu hoạch mía
Thời kì thống nhất tổ quốc
Tiền đồng những năm 1985
Năm 1985, trước diễn biễn phức tạp của nền kinh tế và tình hình khan hiếm
nghiêm trọng tiền mặt trong thanh toán, Nhà nước công bố đổi tiền theo tỉ lệ 10
đồng thống nhất đổi 1 đồng tiền mới phục vụ cho cuộc cách mạng về giá cả và
lương. Ngân hàng quốc gia Việt Nam đã ban hành các loại tiền 10, 20, 50 đồng.
Tiền đồng những năm 1985
Tiền giấy thế kỷ XX
Các tờ tiền giấy cotton có mệnh giá 10.000 và 20.000 được in năm 1990, tờ 50.000
được phát hành từ 15/10/1994 còn tờ 100.000 từ ngày 1/9/2000. Trong khi đó, tiền
xu có một vài năm xuất hiện trên thị trường nhưng không phù hợp với phong cách
tiêu tiền của người Việt Nam nên nhanh chóng bị xếp thành loại vật dụng lưu niệm.
Chắc hẳn không ai xa lạ với những tờ tiền giấy này.
14
Tiền polymer hiện tại
Hiện trên thế giới đã có 23 nước lưu hành đồng tiền in trên chất liệu polymer, trong
Chế độ song bản vị là chế độ tiền mà vàng và bạc đều được sử dụng với tư cách là
tiền tệ.Vàng và bạc đều là vật ngang giá đều thực hiện chức năng thước đo giá trị
và phương tiện lưu thong với “ quyền lực ngang nhau “.
Gồm hai loại :
-Bản vị song song : là bản vị mà theo đó tiền vàng và tiền ,bạc lưu thong trên thị
trường theo giá trị thực tế của nó,Nhà nước không can thiệp.
-Bàn vị kép : là song bản vị,nhưng tiền vàng và tiền bạc lưu thong trên thị trường
theo tỷ giá đã được Nhà nước quy định,tỷ giá giữa vàng và bạc do Nhà nước quy
định gọi là tỷ giá pháp định,có hiệu lực trong cà nước.
Chế độ bản vị vàng (Gold Standard )
Bản vị vàng là chế độ tiền tệ điển hình của chủ nghĩa tư bản.Trong chế độ này một
trong lượng vàng nhất định được Nhà nước quy định làm tiêu chuẩn giá cả ( tiêu
chuẩn đo lường ).
Chế độ bản vị vàng có 3 đặc điểm :
-Tiền vàng được đúc tự do : Theo tiêu chuẩn giá cả mà Nhà nước quy định và được
thanh toán không hạn chế.
-Tiền giấy ( kỳ phiếu ngân hàng-tiền ngân hang) được tự do đổi lấy tiền vàng theo
giá trị danh nghĩa ( mệnh giá ) của tiền giấy ,nghĩa là đổi ngang giá.
-Vàng được tự do luân chuyển giữa các nước,mọi người được tự do xuật nhập khẩu
vàng.
4.1.3. Hệ thống tiền giấy
Nguyên nhân ra đời, bản chất và hình thức
Nguyên nhân ra đời : Là sự xuất phát từ những đòi hỏi của thực tế về lưu thông
hàng hóa và lưu thông tiền tệ ( chủ nghĩa tư bản phát triển, lực lượng sản xuất phát
triển, khan hiếm tiền kim loại ). Nguồn gốc quan trọng hơn cà cho quá trình ra đời
các loại dấu hiệu giá trị nằm ngay trong đặc điểm của tiền tệ khi thực hiện chức
năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán.
16
Bản chất :
-Tiền giấy là những phương tiện có thể thay thế được cho vàng trong chức năng
phải tuân theo một quy luật nhật định.
Các hệ thống tiền giấy
Chế độ lưu thông tiền giấy khả hoán ( Tín tệ khả hoán – Convertible Money ) :
-Tín tệ khả hoán hoàn toàn ( tự do chuyển đổi ra vàng ) : Đây là loại tiền giấy được
chuyển đổi ra vàng một cách tự do và không hạn chế số lượng
17
-Tín tệ khả hoán hạn chế :
.Tiền giấy được chuyển đổi ra vàng nhưng bị hạn chế về đối tượng và mức độ tối
thiểu khi chuyển đổi.
.Chế độ bản vị Bảng Anh – GBP ( Gread Britain Pound ).Thức chất chế độ tiền tệ
này là chế độ bản vị vàng thoi và bản vị hối đoái vàng.
.Chế độ bản vị Dolla Mỹ ( Hệ thống tiền tệ Bretton Woods )
Chế độ lưu thông tiên giấy bất khả hoán ( Tín tệ Pháp định ‘- Fiat Money ) : Sự sụp
đổ của chế độ bản vị USD đã phá bỏ mối liên hệ giữa tiền giấy với vàng về mặt
pháp lí.Đứng trước cuộc khủng hoảng triền mien của hệ thống tiền tệ quốc tế ,ở
mỗi quốc gia đều áp dụng chế độ lưu thông tiền giấy không đổi được ra vàng,
Đặc điểm :
-Tiền giấy do ngân hàng Trung ương phát hành, được sử dụng với tư cách là
phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán,không hạn chế về mặt số lượng.
-Tiền tệ song vàng vẫn được sữ dụng với tu cách là thước đó giá trị,phương tiện
tích lũy và tiền tệ thế giới.
-Các nước vẫn coi trong dự trữ vàng và ngoại tệ.
-Trung ương các nước đều thực thi một chính sách tiền tiền tệ nhằm ngăn chặn và
kiềm chế lạm phát đảm bảo cho lưu thông tiền tệ của quốc gia được ổn định .
5. Kiến nghị và kết luận
5.1 Kiến nghị
Đối với nhà nước, cần đưa ra các biện pháp theo dõi thường xuyên biến động của
nền kinh tế. Đưa ra hình phạt đối với các dổi tượng in ấn và sử dụng tiền trái phép.
Có các buổi hội thảo nhằm tuyên truyền đến người dân về việc phân biệt tiền giả -
thật, cách sử dụng đồng tiền hiệu quả, tăng giá trị đồng tiền và tăng lòng tin của