Tài liệu Đề tài “ Sự hình thành và phát triển của các bộ máy tổ chức kiểm toán Việt Nam “ - Pdf 92



CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: Sự hình thành và phát triển của các bộ
máy tổ chức kiểm toán Việt Nam

của nền kinh tế thị trường. Để giải quyết vấn đề này, đồng thời với việc chuyển
đổi cơ chế quản lí của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, hệ thống bộ máy
tổ chức kiểm toán Việt Nam đã ra đời.
Vậy trong hơn một thập kỉ qua, hệ thống bộ máy tổ chức kiểm toán Việt
Nam đã hoạt động ra sao để góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước? Để trả lời cho câu hỏi này, và cũng để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em
đã chọn đề tài: “ Sự hình thành và phát triển của các bộ máy tổ chức kiểm toán
Việt Nam “
2
KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN
1. Bản chất, chức năng, ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán.
1.1. Bản chất của kiểm toán
Bản chất của kiểm toán , nếu xét ở góc độ chung nhất, chính là sự kiểm tra
độc lập từ bên ngoài được thực hiện bởi một lực lượng có trình độ kĩ năng
chuyên môn cao, chịu trách nhiệm hoàn toàn về mặt pháp lí và kinh tế đối với
các nhận xét của mình về độ tin cậy của các thông tin được thẩm định. Nhà nước
cũng như xã hội sẽ quản lí và giám sát hoạt động kiểm tra này trên ba mặt chủ
yếu: - Các thông tin công khai phải tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực chung
được xã hội thừa nhận.
- Hoạt động kiểm toán phải dựa vào các chuẩn mực chung.
- Mọi cá nhân, tổ chức có liên quan đến các sai sót hoặc xuyên tạc các
thông tin công khai để đánh lừa các pháp nhân hoặc thể nhân trong các mối quan
hệ kinh tế xã hội gây ra các thiệt hại thì pháp luật sẽ can thiệp để buộc các cá
nhân tổ chức có hành vi trên phải chịu trách nhiệm của mình cả về kinh tế và

Đối với các thông tin đã được lượng hoá: Thông thường, việc xác minh
được thực hiện trước hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ. Kết quả cuối cùng khi
đã xác minh được điều chỉnh trực tiếp để có hệ thống thông tin tin cậy và lập các
bảng khai tài chính. Theo đó, kiểm toán trước hết là xác minh thông tin.
Đối với các nghiệp vụ (hoạt động), chức năng xác minh của kiểm toán có
thể được thực hiện bởi hệ thống ngoại kiểm hay nội kiểm. Sản phẩm của hoạt
động xác minh này thường là những biên bản. Ở lĩnh vực này, kiểm toán hướng
vào việc thực hiện chức năng thứ hai là bày tỏ ý kiến.
1.2.2. Chức năng bày tỏ ý kiến
Bày tỏ ý kiến là đưa ra ý kiến nhận xét của kiểm toán viên về tính trung
thực, mức độ hợp lí của các thông tin tài chính kế toán. Chức năng bày tỏ ý kiến
có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thông tin và cả pháp
lí, tư vấn qua xác minh:
- Tư vấn cho quản lí nhà nước trong việc phát hiện sự bất cập của chế độ tài
chính kế toán, qua đó kiến nghị với các cơ quan quản lí nhà nước xem xét,
nghiên cứu, hoàn thiện cho phù hợp.

4
- Tư vấn cho việc quản lí của các đơn vị được kiểm toán. Thông qua việc chỉ
ra những sai sót, yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ, công tác quản lí tài
chính, kiểm toán viên gợi mở, đề xuất các biện pháp khắc phục hoàn thiện đối
với đơn vị. Trong nhiều trường hợp, thông qua kiểm toán, các tổ chức đơn vị
doanh nghiệp đã kịp thời chấn chỉnh hệ thống kiểm soát nội bộ, chế độ quản lí
tài chính ở đơn vị mình. Qua đó khai thác có hiệu quả hơn năng lực tài chính
phát triển đơn vị.
1.3. Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán trong quản lí:
Kiểm toán không phải là hoạt động “tự thân” và “vị thân”. Kiểm toán sinh
ra từ yêu cầu của quản lí và phục vụ cho yêu cầu của quản lí. Từ đó có thể thấy
rõ ý nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt:
Thứ nhất, kiểm toán tạo niềm tin cho “những người quan tâm”. Trong cơ

số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự
nghiệp, các đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể, các tổ chức xã hội có sử
dụng kinh phí do ngân sách cấp.
- Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm toán đã được thủ tướng
chính phủ phê duyệt và những nhiệm vụ kiểm toán đột xuất do thủ tướng chính
phủ giao, báo cáo kết quả kiểm toán cho thủ tướng chính phủ, quốc hội và uỷ
ban thường vụ quốc hội, cho các cơ quan nhà nước khác theo quy định của
chính phủ.
- Thông qua việc kiểm toán, thực hiện công tác tư vấn, góp ý kiến với các
đơn vị được kiểm toán sửa chữa, khắc phục sai sót, vi phạm, chấn chỉnh công
tác kế toán của đơn vị để đảm bảo chỉ tiêu tiết kiệm và hiệu quả nhất. Đồng thời
đề xuất với thủ tướng chính phủ việc sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lí tài chính kế
toán cần thiết.
2.2. Kiểm toán độc lập ( KTĐL )
KTĐL là quá trình kiểm tra các số liệu, tài liệu của các doanh nghiệp
(DN) do các kiểm toán viên độc lập thực hiện để xác nhận tính trung thực, hợp lí
của các báo cáo tài chính và cung cấp kết quả kiểm toán cho những người trả phí
kiểm toán
Các số liệu, tài liệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị đã được
kiểm tra, xác nhận của KTĐL là căn cứ tin cậy đáp ứng yêu cầu của đơn vị, của

6
các cơ quan quản lí nhà nước và của tất cả các tổ chức, cá nhân có quan hệ và
quan tâm tới hoạt động của đơn vị. Ngoài chức năng chính là kiểm tra xác nhận
tính trung thực, hợp lí của các thông tin trong BCTC, các tổ chức KTĐL còn
được thực hiện các chức năng như:
- Giám định tài chính kế toán
- Thực hiện các dịch vụ tư vấn về quản lí tài chính kế toán, thuế
- Xác định giá trị vốn của DN trong các trường hợp góp vốn liên doanh, cổ
phần hoá, phá sản......

những mặt trái của cơ chế thị trường cũng ngày càng bộc lộ rõ nét và gây ảnh
hưởng không nhỏ, thậm chí có một số biểu hiện đáng lo ngại về kinh tế xã hội.
Mặc dù chúng ta có nhiều cố gắng ngăn chặn và xử lí, song tình trạng buôn lậu,
tham nhũng, hoạt động kinh doanh trái pháp luật, trốn thuế,...gây thất thoát ngân
sách, tài sản nhà nước ngày càng lớn và khá phổ biến ở nhiều nơi. Ví dụ : Vụ
Tamexco thất thoát khoảng 400 tỉ đồng, vụ Tân Trường Sanh khoảng vài nghìn
tỉ đồng, vụ Epco-Minh Phụng tới nhiều nghìn tỉ đồng...
Một nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên, đó là: Khi đi vào kinh tế thị
trường chúng ta đã quá chậm và chưa tập trung đúng mức cần thiết cho việc
hình thành và tăng năng lực hệ thống kiểm toán bao gồm: KTNN, KTĐL và
KTNB các đơn vị kinh tế cơ sở, trước hết là doanh nghiệp nhà nước. Kinh
nghiệm thế giới cho thấy là ở mọi nước kinh tế thị trường phát triển đều cần phải
có hệ thống kiểm toán mạnh. Có thể nói đây là một công cụ đắc lực không thể
thiếu để quản lí kinh tế của mỗi quốc gia.
Bên cạnh đó, chặng đường gần hai mươi năm chuyển từ nền kinh tế hoạt
động theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hoạt động theo cơ
chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, tuy ngắn ngủi nhưng đã tạo ra sức
sống cho nền kinh tế, mở ra những cơ hội mới, những thách thức mới cho các
nhà doanh nghiệp Việt Nam. Các DN phải hoạt động theo những quy luật của
nền kinh tế thị trường để có thể tồn tại và phát triển. Trong quá trình hoạt động,
các DN cần phải có trách nhiệm trong việc tổ chức và huy động vốn sao cho có
hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính tín dụng và chấp
hành luật pháp. Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ
giúp cho các DN, các cơ quan cấp trên, cơ quan chủ quản, những nhà đầu tư,

8
những công ty liên doanh liên kết....thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, xác
định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
tình hình tài chính của đơn vị. Mà đứng ở những góc độ khác nhau, mỗi cơ quan
đơn vị tìm hiểu về khía cạnh tài chính khác nhau nhằm có những quyết định

toán khác, KTĐL ra đời xuất phát từ nhu cầu khách quan kiểm tra và xác nhận
độ tin cậy của BCTC theo các chuẩn mực và nguyên tắc đã được xây dựng.
KTĐL ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. ở
nước ta, hoạt động KTĐL đã hình thành và phát triển từ trước ngày giải phóng
miền Nam: Các văn phòng hoạt động độc lập với các kế toán viên công chứng
hoặc các giám định viên kế toán và cả văn phòng kiểm soát quốc tế như SGV,
Arthur Andersen, Price Waterhouse.....Sau thống nhất đất nước, trong cơ chế kế
hoạch hoá tập trung, KTĐL không tồn tại. Vì vậy, có thể nói KTĐL mới thực sự
xuất hiện từ sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế. Từ khi chuyển sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lí của nhà nước, nhu cầu kiểm toán các đơn vị có vốn đầu
tư đầu tư nước ngoài theo luật đầu tư nước ngoài, các chương trình tín dụng,
phát triển, viện trợ quốc tế là khách quan và ngày càng tăng. Sự phát triển nhanh
chóng của các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần, ngân hàng tư nhân, sự xuất hiện thị trường chứng khoán....và xu hướng cổ
phần hoá một số DNNN cũng đòi hỏi phải có dịch vụ KTĐL.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế, ngày 13/5/1991,
theo giấy phép số 957/PPLT của thủ tướng chính phủ, Bộ Tài chính đã kí quyết
định thành lập 2 công ty: Công ty kiểm toán Việt Nam với tên giao dịch là
VACO ( quyết định 165-TC/QĐ/TCCB ) và công ty dịch vụ kế toán Việt Nam
với tên giao dịch là ASC ( quyết định 164-TC/QĐ/TCCB ), sau này đổi tên là
công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán - AASC ( quyết định 639-
TC/QĐ/TCCB ngày 14/9/1993 ). Sự ra đời và hoạt động có hiệu quả của VACO
và AASC đánh dấu sự mở đầu tốt đẹp của dịch vụ KTĐL ở Việt Nam. Với
cương vị là các công ty đầu ngành, VACO và AASC đã có nhiều đóng góp
không chỉ trong việc phát triển công ty, mở rộng địa bàn kiểm toán mà cả trong
việc cộng tác với các công ty và tổ chức nước ngoài phát triển sự nghiệp kiểm
toán Việt Nam. Cũng trong năm 1991, công ty Ernst and Young là công ty kiểm
toán nước ngoài đầu tiên được nhà nước Việt Nam cho chấp nhận lập văn phòng

10


11
toán tuân thủ, kiểm toán soát xét, kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư
XDCB), mở rộng dịch vụ tư vấn (như tư vấn kế toán, tài chính, tư vấn quản lí,
thuế, tư vấn đầu tư, luật; tư vấn sáp nhập, giải thể DN....), dịch vụ tin học, dịch
vụ thẩm định, định giá tài sản, dịch vụ tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ,
cung cấp thông tin.....
Trong hơn 10 năm qua, ngành kiểm toán tuy còn rất non trẻ song đã có
những tiến bộ đáng kể. Hoạt động kiểm toán đã phát triển nhanh về số lượng và
quy mô từng công ty kiểm toán cũng như nâng cao năng lực chuyên môn, chất
lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Hầu hết các dịch vụ cung cấp cho
khách hàng ngày càng được tín nhiệm, được xã hội thừa nhận. Thông qua các
hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính, kế toán, các công ty kiểm toán
đã góp phần phổ cập cơ chế chính sách kinh tế tài chính, ngăn ngừa lãng phí,
tham nhũng, góp phần thực hiện công khai minh bạch BCTC, phục vụ đắc lực
cho công tác quản lí, điều hành kinh tế tài chính của nhà nước và hoạt động kinh
doanh của các DN.
Thông qua dịch vụ kiểm toán và kế toán, đặc biệt là kiểm toán BCTC, các
công ty đã góp phần giúp các DN, các dự án quốc tế, các đơn vị hành chính sự
nghiệp nắm bắt được kịp thời, đầy đủ và tuân thủ đường lối , chính sách kinh tế
tài chính, loại bỏ được chi phí bất hợp lí, tạo lập được những thông tin tin cậy,
từng bước đưa công tác quản lí tài chính, kế toán trong các doanh nghiệp vào nề
nếp...., hoạt động KTĐL đã xác định được vị trí trong nền kinh tế thị trường và
góp phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hoá môi trường đầu tư và nền tài
chính quốc gia.
Thực trạng hoạt động và phát triển của một số công ty KTĐL tiêu biểu ở
Việt Nam
a. Công ty kiểm toán Việt Nam VACO:
VACO là công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam được thành lập. Qua 6
năm hoạt động, phát triển và hợp tác, đến tháng 10/1997, VACO đã trở thành

ngang tầm với chất lượng dịch vụ của các công ty danh tiếng quốc tế.
Trong quá trình hoạt động của mình, VACO luôn luôn theo sát các chủ
trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các chỉ tiêu định
hướng và sự chỉ đạo trực tiếp của bộ Tài chính. Cùng với sự hợp tác chặt chẽ với

Trích đoạn Một số giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện các bộ máy tổ chức kiểm toán Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status