BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN TÊN CÔNG TRÌNH:
MỐI QUAN HỆ GIỮA THÔNG TIN PHI TÀI
CHÍNH TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN VÀ
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG THEO KẾ TOÁN,
GIÁ THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014 LỜI CAM ĐOAN
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
II
4.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
II
5. Ý nghĩa của đề tài II
6.
Kết cấu của đề tài
III
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1.
Đo lường thành quả hoạt động bằng thước đo tài chính và thước đo phi
tài chính
1
1.1.1. Thước đo tài chính
2
1.1.1.1. Đặc điểm
2
1.1.1.2. Ưu điểm và nhược điểm
3
1.1.2. Thước đo phi tài chính
5
1.1.2.1. Đặc điểm
5
1.1.2.2. Ưu điểm và nhược điểm
7
1.1.3. Thông tin phi tài chính và vấn đề đánh giá hoạt động
Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
23
2.2. Tổng quan quy trình nghiên cứu
25
2.2.1.
Phân loại các thước đo phi tài chính
25
2.2.2.
Mô hình ước lượng
28
2.2.3.
Phương pháp hồi quy
29
2.3.
Thu thập dữ liệu và đo lường các biến số trong giả thuyết nghiên cứu
30
Tóm tắt chương 2 38
CHƯƠ
NG 3: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU –
BẰNG CHỨNG TỪ CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
3.1. Kết quả thống kê mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu 39
3.2. Kiểm định vi phạm các giả thuyết của mô hình hồi quy 40
3.2.1. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi 40
3.2.2. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
41
3.2.3. Ki
Bảng 1.1: Yêu cầu công bố thông tin CSR tại một số quốc gia trên thế giới 18
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kỳ vọng giả thuyết về tương quan giữa các biến độc
lập và biến phụ thuộc
37
Bảng 3.1: Bảng thống kê mô tả các biến 39
Bảng 3.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập 42
Bảng 3.3: Kiểm
định hiện tượng đa cộng tuyến 43
Bảng 3.4: Kết quả hồi quy – Biến phụ thuộc: ROE, ROA 46
Bảng 3.5: Kết quả hồi quy – Biến phụ thuộc P/E 48
Bảng 3.5: Mức độ công bố thông tin phi tài chính trung bình theo từng ngành
và theo từng phương diện quản lý
51
HÌNH:
Hình 1.1: Nguồn thông tin phi tài chính 7
Hình 1.2: Tỷ lệ doanh nghiệp công bố báo cáo CSR 18
Hình 2.1: Sơ đồ tổng quát lý thuyết nghiên cứu 24
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CSR Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
FEM Mô hình tác động cố định
GAAP Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi
HOSE Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
HNX Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội
thông tin trên TTCK Việt Nam, yêu cầu thông tin ngày càng phong phú từ
nhà đầu
tư cũng như những hạn chế của thông tin tài chính, đề tài nghiên cứu khoa học của
tác giả mong muốn kiểm định giá trị thực tiễn của thông tin phi tài chính công bố
trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Xuất phát từ mục tiêu này, tác giả tiếp
cận nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa thông tin phi tài chính trên báo cáo
thường niên với kết quả hoạt động theo kế toán, giá thị trường của các công ty niêm
yết Việt Nam”.
2.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung:
Công trình tập trung nghiên cứu tác động của công bố thông tin phi tài chính
đến các chỉ số tài chính của kế toán và biến động giá trị thị trường của doanh nghiệp
đồng thời kỳ vọng phát hiện được sự thay đổi theo thời gian của các mối tương quan
kể trên.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa lý thuyết và các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới về vai
trò của thông tin phi tài chính và tính hữu dụng của công bố các thông tin này, từ đó hình
thành các cơ sở lý thuyết về tác động của công bố thông tin phi tài chính đánh giá hoạt
động đến kết quả hoạt động của kế toán và giá trị thị trường của doanh nghiệp.
- Thống kê sơ bộ về tình trạng công bố thông tin phi tài chính trong phạm vi
nhữ
ng dữ liệu được thu thập trong nghiên cứu này.
– II –
- Sử dụng các mô hình hồi quy với dữ liệu bảng để đánh giá tác động của công
bố thông tin phi tài chính, sự thay đổi theo thời gian của các mối tương quan, so sánh với
cơ sở lý thuyết nhằm phát hiện khác biệt. Tìm hiểu lý do cho những khác biệt này.
- Trình bày một số gợi ý đối với nhà quản trị các công ty niêm yết cho vấn đề
công bố thông tin phi tài chính và cho những đề tài sau này liên quan đến hướng nghiên
trường của doanh nghiệp thông qua việc nhà đầu tư sử dụng thông tin này để ra quyết
định. Từ đó, giúp nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng
của thông tin phi tài chính trong quá trình kiể
m soát hoạt động và công bố ra bên ngoài.
Ba là, kết quả nghiên cứu gợi mở giải pháp quản lý cho nhà quản trị. Nhà quản trị
xem xét xây dựng thước đo phi tài chính như thế nào hợp lý để có được thông tin phi tài
chính phục vụ quá trình kiểm soát, cải thiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cuối cùng là, đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng
viên, sinh viên về lý thuyết thông tin phi tài chính. Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tài
liệu tham khảo cho nh
ững dẫn chứng của các công trình nghiên cứu kế tiếp.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu của đề tài được chia thành bốn
chương. Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết về thông tin phi tài chính và tác động
của nó đến kết quả hoạt động theo kế toán và giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Chương thứ hai tác giả trình bày phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu, kiểm định và
lựa chọn mô hình. Chương thứ ba trình bày kết quả mô hình hồi quy và các ki
ểm
định khuyết tật của mô hình. Chương cuối cùng tóm tắt kết quả nghiên cứu, trình
bày những đề xuất của tác giả đối với nhà quản trị và đề xuất các hướng nghiên cứu
tiếp theo. Tên của các chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả kiểm định – bằng chứng từ các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
- Chương 4: Kết luận và hàm ý cho nhà quản trị
– 1 –
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
- Là một kênh thông tin giúp chiến lược của tổ chức thông suốt qua các cấp.
– 2 –
Công tác đánh giá thành quả hoạt động được thực hiện bằng cách xác định và
đo lường các chỉ tiêu phù hợp với đặc điểm hoạt động và mục tiêu của tổ chức. Các
chỉ tiêu này phản ánh nhân tố quyết định đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp và
có thể nằm dưới dạng các thước đo tài chính và phi tài chính.
1.1.1. Thước đo tài chính
1.1.1.1. Đặc điểm
Các thước đo tài chính là những chỉ tiêu đánh giá có thể trình bày bằng đơn vị
tiền tệ hoặc là những hệ số tài chính được tính toán từ những chỉ tiêu tiền tệ. Khi
nhắc đến các chỉ tiêu đo lường hoạt động bằng đơn vị tiền tệ của một doanh nghiệp,
chúng ta có thể thấy hầu hết những chỉ tiêu đó đều nằm trong báo cáo tài chính và
bắt buộc công bố trong GAAP trên toàn th
ế giới. Ở Việt Nam, những chỉ tiêu tiền tệ
về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ
đều được yêu cầu trình bày đầy đủ trong bộ báo cáo tài chính định kỳ của doanh
nghiệp. Có thể kể đến những chỉ tiêu mà người sử dụng thông tin thường quan tâm
như tổng tài sản, vốn luân chuyển, vốn chủ sở hữu, doanh thu, lợi nhuận, cổ tức và
lợi nhuận chưa phân phối
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các hệ số tài chính được phân thành
nhiều nhóm chỉ tiêu đặc trưng, phản ánh nội dung cơ bản theo mục tiêu phân tích
của doanh nghiệp. Nhưng nhìn chung có 4 nhóm chỉ tiêu cơ bản sau:
- Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán: Nhóm chỉ tiêu này thể hiện được năng
lực thanh toán của doanh nghiệp. Đây là nhóm chỉ tiêu được nhiều người quan tâm
như: các nhà đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật li
ệu,… bởi lẽ họ
luôn đặt ra câu hỏi là hiện doanh nghiệp có đủ khả năng trả các món nợ tới hạn
không. Nhóm chỉ số này bao gồm các chỉ tiêu như: hệ số khả năng thanh toán hiện
trưởng, biến động qua thời kỳ) hay theo chiều dọc (so sánh cơ cấu từng bộ phận trên
tổng thể toàn công ty, công ty so với đối thủ hay toàn ngành). Hay các hệ số trong
nhóm chỉ tiêu sinh lời được tổng hợp trong mô hình phân tích Dupont giúp tiếp cận,
chỉ ra các nguyên nhân của hiện tượng đó thông qua phân tích một tỷ lệ sơ cấ
p (phản
ánh hiện tượng), thành tích của các tỷ lệ thứ cấp (phản ánh nguyên nhân). Doanh
nghiệp có thể chuyển hóa các thông tin này thành hệ số phục vụ cho từng mục tiêu
trong công tác đánh giá hoạt động của mình.
1.1.1.2. Ưu điểm và nhược điểm
Ưu điểm của thước đo tài chính:
Thước đo tiền tệ và các hệ số tài chính có lợi thế chính là có tính so sánh được
cao, không chỉ có khả năng đánh giá tính hiệu quả và năng lực của những bộ phận
khác nhau trong cùng một tổ chức (như marketing, sản xuất, kỹ thuật ) mà còn có
thể giúp so sánh các công ty hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau, từ những
doanh nghiệp bán lẻ đến các công ty bưu chính viễn thông hay các hãng lữ hành
– 4 –
Cũng chính nhờ lợi thế đồng nhất này, thông tin tài chính có thể được biến tấu
thành nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng rất đa dạng để phục vụ công tác đánh giá
thành quả cũng như phân tích hoạt động của doanh nghiệp.
Nhược điểm của thước đo tài chính:
Thứ nhất, thước đo tài chính truyền thống không cung cấp đầy đủ các thông
tin để đo lường, đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp. Đánh giá thành quả
hoạt động của doanh nghiệp theo thước đo tài chính truyền thống được thể hiện qua
các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, báo cáo tài chính được xây dựng
trên những chứng từ và dữ liệu của các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh. Do đó, các
báo cáo tài chính chỉ thể hiệ
n được những thành quả trong quá khứ của doanh
nghiệp, không phản ánh được tiềm năng của doanh nghiệp trong tương lai để đánh
giá đúng tiềm năng và triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai. Bên cạnh đó,
Thứ ba, giá trị thực đơn vị tiền tệ của thướ
c đo tài chính có thể biến động theo
thời gian do ảnh hưởng của các nhân tố như lạm phát, suy thoái và tỷ giá hối đoái.
Chính lý do này khiến việc so sánh giữa các tổ chức và so sánh thành quả hoạt động
qua thời gian có thể bị bóp méo. Hiện nay, tại Việt Nam chưa có chuẩn mực kế toán
cho ảnh hưởng của lạm phát. Trên thế giới, chuẩn mực kế toán số 29 về Báo cáo tài
chính trong những nền kinh tế có mức lạ
m phát cao đã được công bố từ tháng 1 năm
1990. Tuy nhiên, chuẩn mực chỉ yêu cầu báo cáo tài chính của công ty phài điều
chỉnh lại hoàn toàn khi tỷ lệ lạm phát trong 3 năm gần nhất vượt mức 100%. Trong
bài nghiên cứu “Exploring the effect of Inflation on Financial Statements through
Ratio Analysis”, Itner (2000) đã so sánh báo cáo tài chính được điều chỉnh theo lạm
phát với báo cáo không được điều chỉnh của một công ty giả định với các dòng sự
kiện liên quan đến tình hình tài chính của công ty trong 3 năm, với chỉ số l
ạm phát
2%/ tháng tương đương 26,82%/ năm. Itner (2000) nhận thấy những chỉ tiêu phi tiền
tệ và hệ số tính toán từ các chỉ tiêu phi tiền tệ trên báo cáo tài chính như doanh thu,
giá vốn hàng bán, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, hệ số vốn luân chuyển đều tăng.
Trong khi các chỉ tiêu như hệ số thanh toán nhanh, đòn bẩy tài chính, số vòng quay
tài sản giảm nhẹ do mẫu số có chứa các chỉ tiêu phi tiền tệ. Tất cả các ch
ỉ tiêu liên
quan đến lợi nhuận như lợi nhuận biên, ROE, ROA đều giảm mạnh do lạm phát đã
xóa đi gần hết lợi nhuận của công ty. Nghiên cứu cũng kết luận rằng lạm phát càng
cao thì các tài sản tiền tệ càng mất giá trị và chỉ tiêu tiền tệ càng suy yếu. Các công
ty dự trữ nguồn tiền càng dồi dào thì càng bị ảnh hưởng mạnh bởi lạm phát. Kể cả
khi tiến hành áp dụng mô hình nghiên c
ứu tại nền kinh tế có chỉ số lạm phát thấp
như Canada (chỉ số lạm phát sau 3 năm là 6.2%), nghiên cứu cho thấy lạm phát cũng
làm suy giảm lợi nhuận của các công ty.
1.1.2. Thước đo phi tài chính
Theo nghiên cứu về thị trường của Eurosif và Ủy ban hỗ trợ đầu tư bền vững
toàn cầu – Global Sustainable Investment Alliance, đến năm 2011, giá trị của các tài
sản được đánh giá bằng các thông tin phi tài chính trên phạm vi toàn cầu đã vượt
mức 10.5 nghìn tỷ. Trong cuộc khảo sát năm 2013 trên 94 nhà đầu tư đến từ 18 quốc
gia của Hiệp hội kế toán công chứng Anh, kết quả thố
ng kê cho thấy 89% nhà đầu tư
đánh giá trách nhiệm xã hội là thước đo phi tài chính quan trọng, 25% nhà đầu tư
thường xuyên quan tâm tới các thước đo phi tài chính, 92% nhà đầu tư cho rằng
những thông tin phi tài chính được công bố hiện nay không mang tính so sánh. Khảo
– 7 –
sát cũng cho thấy nguồn thông tin phi tài chính quan trọng nhất là từ báo cáo trách
nhiệm xã hội/ báo cáo phát triển bền vững và báo cáo thường niên.
Hình 1.1. Những nguồn thông tin phi tài chính
Nguồn: Nghiên cứu của ACCA (2013).
1.1.2.2. Ưu điểm và nhược điểm
Ưu điểm của thước đo phi tài chính
Ưu điểm đầu tiên của những thước đo đánh giá thành quả phi tài chính là khả
năng lý giải mối liên hệ hay các sự kiện không được trình bày rõ ràng trong báo cáo
tài chính. Ví dụ, báo cáo tài chính không cho thấy bức tranh về quan hệ của doanh
nghiệp với môi trường, với cộng đồng địa phương, hay sự phát triển công nghệ, mức
độ hài lòng của người lao động, vấn đề an toàn lao động và môi trường Đồng thời,
báo cáo tài chính cũng không cung cấ
p cho người sử dụng nhiều thông tin về lợi thế
cạnh tranh hay những điểm mạnh, điểm yếu của công ty so với đối thủ, thị phần, sự
hài lòng của khách hàng, tốc độ phát triển các dòng sản phẩm mới hay công tác quản
lý chất lượng, phát triển thương hiệu và nhiều vấn đề quan trọng khác
Ưu điểm thứ hai của các thước đo phi tài chính là chúng chỉ ra và có thể giúp
gi
nghiên cứu “Kinh tế tri thức và sự cần thiết của kế toán nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp” (2012), Phạm Đức Hiếu đã viết:
“Hệ thống kế toán hiện tại đã bỏ qua vai trò quan trọng của các giá trị nguồn nhân
lực, vì thế các nhà quản lý không có được những thông tin cần thiết để đánh giá tính
hiệu lực và hiệu quả trong đầu tư cho nguồn nhân lực. IASB đã ứng xử đối với hầu
hết các chi phí liên quan đến nguồn nhân lực như là các chi phí thời kỳ thay vì vốn
hóa các chi phí này như tài sản, vì thế công ty càng đầu tư nhiều cho ngu
ồn nhân
lực thì lợi nhuận kế toán lại càng giảm. Ở khía cạnh này, kế toán truyền thống đã
không khuyến khích các nhà quản lý đầu tư cho các nguồn nhân lực của họ”.
– 9 –
Ưu điểm thứ ba, thông tin phi tài chính mang tính khách quan và khó có thể bị
bóp méo so với thông tin tài chính. Thông tin tài chính bị điều chỉnh bởi những
nguyên tắc kế toán như cơ sở dồn tích, tính phù hợp và thận trọng. Những nguyên
tắc ghi nhận doanh thu và chi phí của kế toán tài chính dẫn tới sự chậm trễ trong
thông tin và khả năng phù phép thông tin trên báo cáo tài chính. Trong khi đó thông
tin phi tài chính có thể phản ánh trực tiếp và trung thực kết quả hoạt động qua các
thước đ
o phi tài chính mà không cần quá nhiều những qui định ghi nhận. Thông tin
phi tài chính có thể được cung cấp gần như ngay lập tức, thậm chí ngay khi quá trình
sản xuất đang diễn ra. Ưu điểm cập nhật và kịp thời này làm gia tăng tính hữu ích
của thông tin phi tài chính. Việc theo dõi đồng thời các thông tin phi tài chính bên
cạnh các chỉ tiêu tài chính giúp ngăn chặn những hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay
hành vi làm đẹp báo cáo tài của chính nhà quản trị.
Ngoài ra, khi thảo luận về các
ưu điểm của thước đo phi tài chính, các nghiên
cứu của Itner và cộng sự (1998), Banker (2000), Pangakar và Kirkwood (2006) đều
đồng ý rằng những thước đo phi tài chính tốt hơn, và thậm chí còn là những chỉ tiêu
bởi các giá trị mà những thước đo phi tài chính đo lường (ví dụ như sự hài lòng của
khách hàng và nhà cung cấp, số lượng khiếu nại ). Về tổng thể, các thước đo phi tài
chính chỉ có thể giúp giải thích được biến động của những chỉ tiêu này. Ví dụ, kế
t
quả hoạt động của một công ty có thể phụ thuộc vào thị phần và mức độ hài lòng của
khách hàng. Tuy nhiên, khả năng phản ánh giá trị này còn bị ảnh hưởng nhiều hơn
bởi cách tiếp cận để đánh giá cho từng lợi ích kinh tế. Các thước đo phi tài chính
phản ánh sự thỏa mãn khách hàng chỉ có thể giải thích được biến động trong doanh
số nếu như được sử dụng phố
i hợp với doanh thu được đo lường bởi thước đo tài
chính.
Nhược điểm thứ ba là mức độ tin cậy của thông tin phi tài chính cho các đối
tượng bên ngoài doanh nghiệp nếu chúng được trình bày trong các báo cáo. Mỗi
công ty và mỗi ngành đều có những thang đo khác nhau và nội dung mà chúng phản
ánh rất khác biệt. Bởi vậy, các kiểm toán viên độc lập không thể đảm bảo tính đáng
tin cậy của số lượng lớn các thang đo này do những hạn ch
ế cả về hiểu biết chuyên
môn lẫn áp lực về khối lượng công việc. Itner và cộng sự (2000) đã trình bày về tính
đang tin cậy về mặt thống kê của thước đo phi tài chính. Các thước đo phi tài chính
tham gia vào hệ thống đánh giá có thể được tổng kết từ các cuộc khảo sát như sự hài
lòng của khách hàng hay mức độ nhận biết thương hiệu. Tuy nhiên, nếu mẫu lựa
chọn không đủ
lớn hay bảng câu hỏi khảo sát không đủ chi tiết, thì các thước đo phi
tài chính sẽ không có độ tin cậy về mặt thống kê cao, làm giảm khả năng nhận diện
được sự thành công của doanh nghiệp cũng như khả năng dự đoán kết quả kinh
doanh trong tương lai. Cuối cùng, một vấn đề cần quan tâm khi trình bày thước đo
phi tài chính chính là mối liên hệ mật thiết của chúng với hoạt động sản xuấ
t kinh
doanh. Điều này tạo nên nỗi lo lắng về việc thông tin phi tài chính khi trình bày ra
bên ngoài liệu các đối tượng bên ngoài có sử dụng những thông tin này với mục đích
như năng suất, tiêu chuẩn chất lượng
Amir và Lev (1996) đã nghiên cứu về giá trị của những thông tin phi tài chính
trong đánh giá hoạt động của ngành công nghiệp mạng không dây. Amir và Lev chỉ
ra rằng những thông tin tài chính không quan trọng trong lĩnh vực này và cho rằng
những thông tin phi tài chính, chủ yếu về tài sản vô hình, l
ại quan trọng và phù hợp
hơn. Họ thừa nhận rằng trong ngành công nghiệp viễn thông di động, thay vì quan
tâm đến những thông tin tài chính, nhà đầu tư lại coi trọng chỉ số thuê bao tiềm
năng, hay còn gọi chỉ số thâm nhập. Họ xem đây là thước đo sự thành công của
– 12 –
doanh nghiệp về hoạt động và cạnh tranh. Một chỉ tiêu phi tài chính khác mà họ sử
dụng là số thuê bao trung bình tính trên một lao động của công ty. Mô hình hồi quy
biến động thị trường, biến động lợi nhuận và giá trị sổ sách cho thấy giá thị trường
không tương quan với các chỉ tiêu tài chính. Kết luận đưa ra là đối với các doanh
nghiệp viễn thông di động, phân tích thông tin tài chính sẽ có ý nghĩa hơn khi có
những chỉ tiêu phi tài chính đi kèm. Nghiên cứu cũng ghi nh
ận tương quan thuận
chiều giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính.
Tháng 5 năm 2001, Ủy ban chuẩn mực báo cáo tài chính của Hiệp hội kế toán
Hoa kỳ cũng đã nghiên cứu và khẳng định sự hữu dụng của các chỉ tiêu phi tài chính
khi báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Theo sau khuyến cáo
này, Itner và cộng sự (2000) cũng đã tổng kết các nghiên cứu về lĩnh vực kế toán
quản trị và thống kê theo thời gian các phươ
ng pháp đánh giá hoạt động trong thực
hành kế toán. Itner và cộng sự công bố rằng bắt đầu từ giữa những năm 1990, đối
tượng nghiên cứu kế toán quản trị là những nhân tố tài chính và phi tài chính tạo nên
giá trị cho nhà đầu tư, và do đó cho rằng bảng điểm cân bằng (BSC) là mô hình đánh
giá thành quả rất lý tưởng vì kết hợp cả thước đo tài chính và thước đo phi tài chính.
Tại Việt Nam, trong thời gian gầ
quan trọng, nhưng chỉ có 21.8% công ty đánh giá phương diện này).
2) Khoảng cách về mức sử dụng thông tin phi tài chính: kể cả khi các thước đo
phi tài chính được thiết kế để
đánh giá hoạt động, nhưng chúng thậm chí
không được sử dụng để ra quyết định (ví dụ: có 83.8% công ty đánh giá chỉ
tiêu chất lượng giao hàng, nhưng chỉ 71.1% xác nhận có sử dụng chúng cho
mục đích lên kế hoạch).
Cuối cùng, theo một hướng nghiên cứu khác, Itner và cộng sự (1997) đã tìm
hiểu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn giữa các chỉ tiêu đánh giá thành quả
hoạt động tài chính và chỉ tiêu phi tài chính. Nghiên c
ứu phát hiện ra rằng, một công
ty chỉ thực sự coi trọng các chỉ tiêu đánh giá hoạt động phi tài chính khi: (1) hoạt
động trong các ngành chịu sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan chức năng, nhất là về
vấn đề báo cáo; (2) sử dụng chiến lược tập trung vào phát minh, cải tiến, (3) áp dụng
chiến thuật lấy chất lượng là tôn chỉ hàng đầu.
1.2. Công bố thông tin phi tài chính về thành quả hoạt động
1.2.1. Mối quan hệ giữa lý thuyết thông tin bất cân xứng và việc công bố
thông tin phi tài chính
Khái niệm về thông tin bất cân xứng:
Thông tin bất cân xứng là một khái niệm trong chuyên ngành kinh tế học
mô tả tình huống mà trong đó những người tham gia tương tác trên thị trường nắm
được những thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượng của một tài sản hay dịch
vụ đang được giao dịch (trao đổi) trên thị trường đó.
– 14 –
Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn
một bên khác. Điển hình là người bán biết nhiều về sản phẩm hơn đối với người mua
hoặc ngược lại.
Thông tin bất cân xứng được đề cập trong một bài báo kinh điển xuất bản vào
năm 1970 của nhà kinh tế học người Mỹ George Akerlof: “The Market of Lemons:
đã đề cập, thông tin phi tài chính được cung cấp kịp thời, khó có thể bị phù phép và
– 15 –
cung cấp cho người sử dụng cái nhìn về nhiều khía cạnh mà thông tin tài chính
không thể phản ánh được. Ngoài những tính chất giúp hoàn thiện hệ thống cung cấp
thông tin kể trên, bản chất đa dạng của thông tin phi tài chính đủ để phát triển các
hình thức và nội dung công bố thông tin chuyên biệt theo từng ngành hoạt động hay
từng nhóm doanh nghiệp. Thông tin phi tài chính nếu được sử dụng đúng cách và
khai thác tối đa những lợi thế vốn có, sẽ trở thành nhân t
ố quan trọng đảm bảo lòng
tin và sự công bằng cho các nhà đầu tư trên TTCK. Tóm lại, sự tham gia của các
thông tin phi tài chính vào hệ thống công bố thông tin giúp nguyên tắc công khai
minh bạch trên thị trường, đó là một nguyên tắc quan trọng nhất của TTCK. Nếu
nguyên tắc này được đảm bảo ở mức độ cao hơn, sẽ gia tăng độ tín nhiệm của nhà
đầu tư và kết quả cuối cùng là một thị trường tài chính vận hành hiệu quả
.
Weil (2008) lại đề xuất một khuôn khổ cho việc đánh giá xem liệu các hệ
thống công bố thông tin cơ bản tại Mỹ có được cải tiến qua thời gian không – liệu có
sự cải thiện về độ chính xác và phạm vi công bố thông tin cho người sử dụng thông
tin hay không. Trong đó, Weil cũng đánh giá chi phí và lợi ích công bố thông tin và
sự gia tăng minh bạch từ quan điểm của cả doanh nghiệp công bố và người sử dụ
ng
thông tin. Weil (2008) cho rằng nếu chỉ công bố thông tin theo yêu cầu pháp luật sẽ
tạo nên bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý doanh nghiệp – người có quyền truy
cập vào những nguồn thông tin nội bộ và những người sử dụng thông tin bên ngoài
không thể tiếp cận được những nguồn thông tin đó.
1.2.2. Vấn đề công bố thông tin phi tài chính về thành quả hoạt động
1.2.2.1. Trên thế giới
Các thông tin phi tài chính của doanh nghiệp có thể là những thông tin về quy
trình sả
2006: Công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán London phải công bố thông
tin về các vấn đề môi trường, điều kiện
làm việc, những ảnh hưởng hoạt động
kinh doanh đến cộng đồng và xã hội.
2000: Nhà quản lý quỹ hưu trí phải cung
cấp một b
ản tuyên bố đưa ra phạm vi
những cân nhắc về xã hội, môi trường
hoặc đạo đức được xem xét trong quyết
định đầu tư.
2009: Đưa vào hoạt động sàn
giao dịch chứng khoán Xã hội
(SSE).
2001:
London Stock
Exchange cho ra mắt chỉ số
FTSE4Good Index
Hoa Kỳ 2010: Công bố thông tin bắt buộc theo
qui định trong luật khí thải nhà kính,
thường được gọi là 40 CFR Phần 9, yêu
cầu doanh nghiệp có lượng lớn khí thải
phải báo cáo dữ liệu liên quan đến phát
2013: Sàn NYSE Euronext
cam kết tham gia sáng kiến
xây dựng các sàn giao dịch
chứng khoán bền vững (SSE)
của Liên Hợp Quốc (SSE).