phân tích mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ theo pháp luật hiện hành - Pdf 28

MỞ ĐẦU
Nhà nước CHXHCN Việt Nam được tổ chức theo chế độ tập quyền xã hội
chủ nghĩa. Ở nước ta, chế độ tập quyền được thực hiện khi có Hiến pháp 1946
đến Hiến pháp 1980 và 1992, chế độ tập quyền được tăng cường và phát triển
hơn nữa trong việc quy định cơ cấu tổ chức nhà nước CHXHCN Việt Nam, nhất
là trong việc quy định vị trí, tính chất, chức năng và nhiệm vụ quyền hạn của
các cơ quan quyền lực nhà nước, trong đó có cơ quan quyền lực nhà nước, cấp
Trung Ương như Chính phủ, Quốc hội. Nếu Quốc hội là “cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất” thì Chính phủ là “cơ quan chấp hành Quốc hội, cơ quan
hành chính nhà nước cao nhất của nhà nước CHXHCN Việt Nam” (theo điều
109, Hiến pháp 1992). Hai cơ quan này đều đóng vại trò hết sức quan trọng
trong bộ máy nhà nước ta. Giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
nhằm phát huy chức năng đặc biệt của chúng đối với cả nước, góp phần củng cố
hoàn thiện hơn nhà nước ta. Nghiên cứu mối quan hệ giữa các thiết chế còn
thấy được cách thức tổ chức và trật tự hình thành của bộ máy nhà nước. vì vậy
em xin chọn đề tài: phân tích mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ theo
pháp luật hiện hành”.
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ
1. Vị trí, tính chất, chức năng của Quốc hội
Trong bộ máy nhà nước Việt Nam, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan
trọng. Vị trí đó được xác định trên cơ sở quy định của Hiến pháp. Ở nước
CHXHCN Việt Nam tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân (Điều 2
Hiến pháp 1992). Nhưng nhân dân không thể trực tiếp, thường xuyên sử dụng
quyền lực nhà nước cho nên phải bầu ra các cơ quan đại biểu để thay mặt mình
sử dụng quyền lực nhà nước. Vì vậy, các cơ quan này được gọi là các cơ quan
quyền lực nhà nước. Ở nước ta, các cơ quan này bao gồm Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp.
Hiến pháp 1992 đã nêu rõ vị trí và tính chât của Quốc hội là cơ quan đại
biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhà
nước CHXHCN Việt Nam (Điều 83).

nước như kế hoạch ngân sách, các loại thuế, ban hành hiến pháp và pháp luật,…
Chính phủ chịu trách nhiệm trong việc cụ thể hóa hiến pháp các luật và nghị
quyết của Quốc hội thành những văn bản dưới luật, đồng thời bàn biện pháp
phân công chỉ đạo thưc hiện, biến những quy định trong hiến pháp, các nghị
quyết của Quốc hội thành hiện thực.
Vì phải đảm bảo việc thi hành Hiến pháp, luật nghị quyết của quốc hội đối
với các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, nên chính phủ phải
điều hành và quản lý nhà nước. Chính phủ phải nắm được nhân lực, vật lực
cũng như những tiềm năng khác của đát nước thống nhát quản lý nhà nước để
sử dụng tốt nguồn nhân lực đó. Vì vậy tính chất chấp hành gắn liền với hoạt
động quản lý nhà nước của Chính phủ là hoat động chủ yếu, là chức năng quan
trọng của Chính phủ.
Chính phủ phải chịu sự giám sát của Quốc hội, phải báo cáo công tác và chịu
trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiên công tác cả mình.
2
II. Cơ sở của mối quan hệ giữa Quốc hội và chính phủ
1. Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý được quy định trong Hiến pháp và luật của Quốc hội. Quốc
hội có mối quan hệ gì với Chính phủ? Chính phủ với Quốc hội có mối quan hệ
như thế nào? Các điều này được quy định trong Hiến pháp “đạo luật cơ bản của
hầu hết các nhà nước đương đại” và cụ thể hóa trong luật tổ chức Quốc hội năm
2001, luật tổ chức Chính phủ năm 2001. Dựa trên cơ sở dó ta có thể thấy được
sự ràng buộc nhất định giữa hai cơ quan này, tạo nền tảng cho việc hình thành
bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương nói chung và hệ thống các cơ
quan quyền lực nói riêng.
2. Cơ sở lý luận
Quốc hội không thể tự mình thực hiện hết chức năng quản lý nhà nước và
xã hội nên công việc này được giao cho cơ quan nhà nước khác là Chính phủ,
cơ quan được Quốc hội thành lập nên nhưng lại có sự độc lập tương đối, để
Quốc hội thực hiện tốt hơn phần việc của mình là lập pháp, tránh tình trạng lan

tắc.
Hiến pháp 1992 có quy định khá cụ thể về việc thành lập Chính phủ, đây là
quy định kế thừa có chọn lọc quy định của các Hiến pháp Việt Nam trước đó.
Đồng thời cũng thay đổi những quy định không phù hợp với thực tế để Chính
phủ hoạt động tốt hơn, đáp ứng yêu cầu và tình hình mới của đất nước, nhằm
thực hiện đúng quan điểm về tổ chức bộ máy nhà nước tập trung vào hệ thống
cơ quan dân cử. Điều này không đồng nghĩa với việc hạ thấp vai trò vị trí của
Chính phủ, mà Hiến pháp vẫn quy định vị trí của Chính phủ là “cơ quan hành
chính nhà nước cao nhất” trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam.
2. Về mặt tổ chức
Theo quy định của Hiến pháp 1992 và luật tổ chức Chính phủ năm 2001,
Quốc hội thành lập ra Chính phủ. Cơ cấu của Chính phủ bao gồm: Các Bộ, các
cơ quan ngang bộ (điều 2 luật tổ chức Chính phủ năm 2001). Số lượng các bộ
trưởng các Bộ, việc thành lập giải tán các Bộ do Quốc hội quyết định. Các
thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội (trừ
Thủ tướng), do chủ tịch nước bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Thủ tướng và
được Quốc hội phê chuẩn (Điều 84 Hiến pháp 1992 và điều 2 luật tổ chức chính
phủ năm 2001). Tuy Chính phủ do Quốc hội lập ra nhưng với việc lựa chọn
danh sách thành viên, Chính phủ đã khẳng định vị trí tương đối độc lập của
mình. Hơn nữa, Thành viên Chính phủ ngoài thủ tướng ra không nhất thiết là
đại biểu Quốc hội đây là điều khác so với hiến pháp 1980. Theo Hiến pháp năm
1980 thì Quốc hội bầu và bãi nhiệm các thành viên của Hội đồng bộ trưởng và
các thành viên của Hội đồng dân tộc chủ yếu là đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên
việc quy định mới này không làm thay đổi về bản chất mối quan hệ giữa Quốc
hội và Chính phủ.
Ở nước ta Quốc hội vừa có quyền lập hiến vừa có quyền lập pháp, nên Quốc
hội không những chỉ có quyền lập ra Chính phủ mà còn có quyền quyết định ra
cơ cấu và những nguyên tắc hoạt động của cơ quan này cũng như chế độ làm
việc của Chính phủ.
Cùng với thẩm quyền thành lập ra Chính phủ thì Quốc hội cũng có quyền

cơ quan nào có thẩm quyền sáng quyền lập pháp về ngân sách nhưng trong luật
ngân sách nhà nước lại khẳng định Chính phủ có quyền lập và trình Quốc hội
dự toán ngân sách nhà nước, dự toán điều chỉnh ngân sách nhà nước trong
trường hợp cần thiết, sáng quyền về các đạo luật nói chung và luật ngân sách
nói riêng biểu hiện của sự tương quan giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp.
Như vậy thông qua hoạt động trên có thể thấy được vai trò của Chính phủ quan
trọng như thế nào trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Trong hoạt động giám sát:
Việc kiểm tra giám sát đối với hoạt động của Chính phủ là một hoạt động
đặc thù của Quốc Hội. Ở Hiến pháp năm 1946 quyền giám sát Chính phủ thuộc
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status