1
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta hiện nay có nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức. Việc
thông tin kịp thời, chính xác và thích hợp có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự thành
công của một tổ chức. Thực hiện chức năng đó, kế toán quản trị đã và đang giúp các
nhà quản trị đưa ra những thông tin thích hợp cho quản trị, đưa ra những quyết định
kinh doanh nhanh, chuẩn xác và có vai trò như một nhà tư vấn quản trị nội bộ của mọi
tổ chức. Khi quyết định lựa chọn một phương án tối ưu hay điều chỉnh về sản xuất của
tổ chức, nhà quản trị bao giờ cũng quan tâm đến hiệu quả kinh tế của phương án mang
lại. Vì vậy, kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc tìm cách tối ưu hoá mối
quan hệ giữa chi phí và lợi ích của phương án lựa chọn. Tuy nhiên, điều đó không có
nghĩa mục tiêu duy nhất là luôn luôn hạ thấp chi phí.
Phân tích mối quan hệ giữa Chi phí – Doanh thu – Lợi nhuận là một kỹ thuật
phân tích mà kế toán quản trị dùng để giải quyết những vấn đề nêu trên. Kỹ thuật này
không những có ý nghĩa quan trọng trong khai thác các khả năng tiềm tàng của doanh
nghiệp, làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định lựa chọn hay quyết định điều chỉnh
về sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận; hơn nữa, nó còn mang tính dự báo
thông qua những số liệu phân tích nhằm phục vụ cho nhà quản trị trong việc điều hành
hiện tại và hoạch định cho tương lai. Bên cạnh đó, nước ta đang rất chú trọng phát
triển ngành du lịch, vì vậy việc điều hành và hoạch định trong tương lai cho các doanh
nghiệp du lịch là rất quan trọng. Đó là lý do mà em quyết định chọn đề tài “PHÂN
TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ – DOANH THU VÀ LỢI NHUẬN
TRONG DOANH NGHIIỆP DU LỊCH” làm đề án môn học của mình.
Nội dung đề án bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận chi phí, doanh thu và lợi nhuận.
Chương II: Phân tích mối quan hệ chi phí, doanh thu và lợi nhuận trong doanh
nghiệp du lịch.
Chương III: Nhận xét, đánh giá và các giải pháp.
2
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHI PHÍ, DOANH THU VÀ
1.3.2. Vai trò và ý nghĩa của lợi nhuận trong doanh nghiệp
Lợi nhuận là động lực của nền kinh tế. Đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị
trường là động lực lợi nhuận, nó chỉ huy hoạt động của các chủ thể. Trong kinh tế thị
trường, đặc điểm tự do lựa chọn hình thức sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm
“lãi hưởng lỗ chịu”, chấp nhận cạnh tranh, là những điều kiện hoạt động của cơ chế thị
trường. Sự tuân theo cơ chế thị trường là điều không thể tránh khỏi đối với các doanh
nghiệp, nếu không sẽ bị đào thải.
Lợi nhuận phân bổ các nguồn lực sản xuất hợp lý, thúc đẩy quan hệ sản xuất
phát triển.
Lợi nhuận là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Lợi nhuận góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân.
Lợi nhuận thúc đẩy quá trình tái sản xuất cho xã hội.
1.3.3. Tối đa hóa lợi nhuận và điều kiện tối đa hóa lợi nhuận
Lợi nhuận kinh tế lớn hơn 0 khi mà chi phí bình quân nhỏ hơn chi phí biên,
cũng tức là nhỏ hơn giá bán. Lợi nhuận kinh tế sẽ bằng 0 khi mà chi phí bình quân
bằng chi phí biên, cũng tức là bằng giá bán. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo (xét
trong dài hạn), lợi nhuận kinh tế thường bằng 0. Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán có thể
lớn hơn 0 ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo.
Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức sản
lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên. Tức là doanh thu có thêm khi bán
thêm một đơn vị sản phẩm bằng phần chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản
phẩm. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, doanh thu biên bằng giá. Ngay cả khi giá
thấp hơn chi phí bình quân tối thiểu, lợi nhuận bị âm. Tại điểm doanh thu biên bằng
chi phí biên, doanh nghiệp lỗ ít nhất.
4
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ, DOANH THU
VÀ LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP DU LỊCH
2.1. Phân loại chi phí kinh doanh du lịch
2.1.1. Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh
- Hao phí về vật tư trong kinh doanh như: tiêu hao nhiên liệu, khấu hao tài sản
cố định…
- Hao hụt hàng hoá, nguyên liệu trong quá trình vân chuyển bảo quản, chế biến
và tiêu thụ.
- Các khoản chi phí khác như: trả lãi tiền vay ngân hàng, bảo hiểm xã hội…
2.1.3. Căn cứ vào tính chất biến động của chi phí
Trong trường hợp này, chi phí được chia làm hai loại: chi phí bất biến và chi
phí khả biến.
- Chi phí bất biến: là những khoản chi phí không thay đổi hoặc ít thay đổi khi
mức doanh thu thay đổi. Đó là những khoản chi phí như khấu hao tài sản cố định, bảo
trì, bảo dưỡng nhà cửa trang thiết bị, chi phí quản lý hành chính…
- Chi phí khả biến: là những khoản chi luôn biến động theo sự biến động của
mức doanh thu đạt được như chi phí tiền lương khoán, chi phí để may giặt đồ vải, một
phần chi phí nhiên liệu, điện năng…
2.1.4. Căn cứ vào công tác quản lý
- Chi phí vận chuyển, bốc vác: gồm cước phí vận chuyển thuê ngoài, tiền
lương, bảo hiểm xã hội, tiêu hao nhiên liệu, khấu hao phương tiện vận chuyển của các
phương tiện vận chuyển thuộc doanh nghiệp, tiền bốc dỡ, khuân vác.
- Chi phí bảo quản, chọn lọc, đóng gói, bao bì là những khoản chi phí nhằm
giữ gìn số lượng và chất lượng hàng hoá, nguyên liệu như tiền làm sàn, mua hoá chất
phòng trừ chuột bọ…
- Khấu hao tài sản cố định.
- Trừ dần công cụ lao động nhỏ: là giá trị phân bổ công cụ lao động nhỏ dùng
trong mua, bán, bảo quản nguyên liệu, hàng hoá trong chế biến, phục vụ khách.
- Lãi phải trả ngân hàng và các đối tượng khác.
- Hao hụt nguyên liệu, hàng hoá định mức.
- Bảo hiểm xã hội.
- Các khoản chi phí trực tiếp khác cần thiết cho quá trình phục vụ khách.
6
- Tiền lương của cán bộ và nhân viên.
nghiệp, liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác quản trị tài chính.
7
Việc huy động vốn một mặt vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, đảm
bảo sự an toàn trong tài chính; mặt khác, liên quan đến hiệu quả và rộng hơn là rủi ro
của doanh nghiệp. Nội dung phân tích cấu trúc NV bao gồm phân tích tính tự chủ về
tài chính và phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ.
- Phân tích tính tự chủ về tài chính thông qua các chỉ tiêu: tỷ suất nợ và tỷ suất
tự tài trợ. Thông thường, các chủ nợ thích tỷ lệ vay nợ vừa phải vì tỷ lệ này càng thấp
thì khoản nợ càng được đảm bảo chi trả trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản.
Tuy nhiên, khi tỷ lệ nợ cao, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh
toán và sẽ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp nhận thêm các khoản tín dụng
bên ngoài. Tuy nhiên, mỗi NV đều có liên quan đến thời hạn và chi phí sử dụng vốn.
- Sự ổn định về nguồn tài trợ cần được quan tâm khi đánh giá cấu trúc NV của
doanh nghiệp. Để đánh giá tính ổn định của nguồn tài trợ cần sử dụng các chỉ tiêu: tỷ
suất nguồn vốn thường xuyên (NVTX) và tỷ suất nguồn vốn tạm thời. Tỷ suất NVTX
là tỷ số giữa NVTX với tổng NV, tỷ suất NVTT là tỷ số giữa NVTT với tổng NV. Tỷ
suất NVTX càng lớn cho thấy sự ổn định tương đối trong một thời gian nhất định đối
với NV sử dụng; doanh nghiệp chưa chịu áp lực thanh toán trong ngắn hạn. Ngược lại,
khi tỷ suất NVTX thấp cho thấy nguồn tài trợ phần lớn là bằng nợ ngắn hạn, áp lực về
thanh toán các khoản nợ vay rất lớn.
2.2.2. Phân tích cân bằng tài chính
Cân bằng tài chính là sự cân bằng giữa tài sản với nguồn tài trợ tương ứng của
nó. Mối quan hệ trong trường hợp này thể hiện qua các phương thức, chính sách tài trợ
TSCĐ và TSLĐ. Chỉ tiêu phân tích: vốn lưu động ròng (VLĐR), nhu cầu VLĐR và
ngân quỹ ròng (NQR).
- VLĐR được xác định là phần chênh lệch giữa TSLĐ và ĐTNH với nợ ngắn
hạn; hoặc VLĐR được tính là phần chênh lệch giữa NVTX với TSCĐ và ĐTDH.
- Còn nhu cầu VLĐR bằng (=) hàng tồn kho cộng (+) nợ phải thu của khách
hàng trừ (-) nợ phải trả ngắn hạn (không kể vay ngắn hạn).
- NQR là phần chênh lệch giữa VLĐR và nhu cầu VLĐR. Nếu VLĐR âm liên
có, đó là khả năng sinh lời của nguồn vốn chủ sở hữu (NVCSH). Khả năng sinh lời
NVCSH (ROE) thể hiện qua mối quan hệ giữa lợi nhuận cuối cùng của doanh nghiệp
với NVCSH. Chỉ tiêu này được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ
vốn đầu tư vào doanh nghiệp. ROE cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng NVCSH có
hiệu quả. Ngược lại, nếu tỷ lệ này thấp thì doanh nghiệp khó khăn trong việc thu hút
vốn đầu tư.
9
Với T là tỷ suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
Hay: ROE = ROA x (1-T) x (1+ Đòn bẩy tài chính).
Trong đó, Đòn bẩy tài chính = Nợ phải trả/NVCSH.
ROE chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: hiệu quả kinh doanh, khả năng tự chủ
về tài chính và độ lớn đòn bẩy tài chính.
Hoạt động kinh doanh du lịch ở nước ta chịu ảnh hưởng bởi tính mùa vụ, tính
mùa vụ được thể hiện rất rõ rệt; thời tiết trong năm được chia thành hai mùa là mùa
khô và mùa mưa; hoạt động kinh doanh du lịch phần lớn diễn ra trong mùa khô, kết
quả hoạt động kinh doanh du lịch phần lớn mang lại cho doanh nghiệp vào mùa khô,
kết quả hoạt động của mùa mưa rất thấp. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh,
hiệu quả tài chính giữa các kỳ có ảnh hưởng bởi tính mùa vụ. Do đó, khi phân tích các
chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp du lịch giữa các kỳ thì cần phải quan tâm
đến tính thời vụ để có đánh giá hợp lý hơn.
2.2.4. Phân tích rủi ro kinh doanh
Trong hoạt động kinh doanh, vấn đề rủi ro đều có khả năng xảy đối với hoạt
động của doanh nghiệp, thông thường doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có lợi
nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn. Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro gắn liền với sự
không chắc chắn, sự biến thiên của kết quả và hiệu quả kinh doanh. Vì vậy, có thể
phân tích rủi ro kinh doanh thông qua độ biến thiên của của các chỉ tiêu kết quả hay
hiệu quả kinh doanh, thông qua đòn bẩy kinh doanh, đòn cân định phí.
Hoạt động kinh doanh du lịch mang tính tổng hợp gồm nhiều thành phần tạo
thành từ việc lập tour du lịch đến vận chuyển, lưu trú, phục vụ ăn, uống, vui chơi đến
rất lớn và cũng rất khó khăn khi chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác như các doanh
nghiệp thương mại.
Tóm lại, từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh du lịch, đặc điểm hoạt động tài
chính của doanh nghiệp du lịch, dẫn đến các doanh nghiệp du lịch có đặc điểm phân
tích tài chính riêng, khác biệt với các ngành sản xuất vật chất khác. Do đó, cần nghiên
cứu đặc điểm phân tích tài chính của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch để phân tích
và đánh giá tình hình tài chính của các doanh nghiệp này.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh du lịch
11
2.3.1. Sự ảnh hưởng của doanh thu và cấu thành doanh thu
Trong chi phí kinh doanh DL có 2 loại chi phí là: chi phí bất biến và chi phí khả
biến. Chi phí khả biến thay đổi khi mức doanh thu thay đổi, số tiền tuyệt đối của loại
chi phí này tăng lên theo sự tăng lên của doanh thu, song có thể tốc độ chậm hơn vì
doanh thu tăng thì sẽ tạo điều kiện tổ chức kinh doanh hợp lý hơn, năng suất lao động
có điều kiện tăng nhanh hơn. Mặt khác những chi phí bất biến thường ít tăng hoặc
không tăng lên khi doanh thu của doanh nghiệp tăng.
Như vậy khi doanh thu tăng lên thì số tiền tuyệt đối của chi phí có thể tăng lên
nhưng tốc độ tăng chậm dẫn đến tỷ suất chi phí có thể hạ thấp.
Đối với cấu thành doanh thu, do tính chất kinh doanh của mỗi nghiệp vụ khác
nhau, do vậy mà cấu thành doanh thu thay đổi sẽ làm cho tỷ suất chi phí của doanh
nghiệp thay đổi.
2.3.2. Ảnh hưởng của năng suất lao động
Nếu năng suất lao động của doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm
được lao động sống, hay tiết kiệm được chi phí tiền lương. Đồng thời tăng năng suất
lao động sẽ có điều kiện tăng được thu nhập cho cán bộ, công nhân viên, nhân viên,
tuy nhiên chi phí về tiền lương sẽ phải có tốc độ tăng chậm hơn tốc độ tăng của năng
suất lao động, như vậy mới hợp lý và tiết kiệm được chi phí.
2.3.3. Ảnh hưởng của việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
Việc đầu tư xây dựng khách sạn, các cơ sở kinh doanh, mua sắm phương tiện,
trang bị các trang thiết bị dụng cụ… trong một giai đoạn nhất định sẽ làm tăng chi phí
- Điểm hòa vốn là gì? Là mức hoạt động (ví dụ: khối lượng sản phẩm tiêu thụ,
doanh thu tiêu thụ) mà tại đó doanh thu cân bằng chi phí (lợi nhuận bằng không).
- Phương pháp xác định điểm hòa vốn:
(Trường hợp: Công ty sản xuất và tiêu thụ 1 loại sản phẩm). Gọi:
- P là giá bán
- UVC là biến phí đơn vị
- FC là định phí
- TC là tổng chi phí
- Q là sản lượng
- TR là tổng doanh thu
- NP là lợi nhuận
Ta có:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
13
NP = TR - TC
NP = P*Q - (FC + UVC*Q) (1)
Tại điểm hòa vốn: NP = 0
(1) ⇔ P*Q - (FC + UVC*Q) = 0
⇔ (P-UVC)Q = FC
⇔ Q
BEP
= FC / (P-UVC) (2)
Sản lượng hòa vốn = Định phí / Số dư đảm phí đơn vị
Doanh thu hòa vốn:
TR
BEP
= P*Q = Giá bán * Sản lượng hòa vốn (3)
Thay Q
BEP
= FC/(P-UVC) vào (3):
Doanh nghiệp X Doanh nghiệp Y
Số tiền % Số tiền %
Doanh thu $ 100,000 100 $ 100,000 100
Chi phí biến đổi $ 60,000 60 $ 20,000 20
LÃI
LỖ
15
Số dư đảm phí $ 40,000 40 $ 80,000 80
Chí phí cố định $ 30,000 $ 70,000
Lãi thuần $ 10,000 $ 10,000
Đòn bẩy kinh doanh 4 8
DOANH THU TĂNG 50%Doanh nghiệp X Doanh nghiệp Y
Số tiền % Số tiền %
Doanh thu $ 150,000 100 $ 150,000 100
Chi phí biến đổi $ 90,000 60 $ 30,000 20
Số dư đảm phí $ 60,000 40 $ 120,000 80
Chi phí cố định $ 30,000 $ 70,000
Lãi thuần $ 30,000 $ 50,000
DOANH THU GIẢM 50%
Doanh nghiệp X Doanh nghiệp Y
Số tiền % Số tiền %
Doanh thu $ 50,000 100 $ 50,000 100
Chi phí biến đổi $ 30,000 60 $ 10,000 20
Số dư đảm phí $ 20,000 40 $ 40,000 80
Chi phí cố định $ 30,000 $ 70,000
Lãi thuần $ (10,000) $ (30,000)
2.4.6. Đòn bẩy kinh doanh
Tỷ lệ SDĐP, đòn bẩy và sản lượng hòa vốn các sản phẩm có quy mô khác nhau
(giá bán khác nhau – không có cơ sở đồng nhất) thì ngoài chịu sự ảnh hưởng trực tiếp
của cơ cấu chi phí mà còn chịu sự ảnh hưởng gián tiếp của gián bán ( doanh thu) của
chính bản thân sản phẩm đó.
Việc tăng doanh thu hay sản lượng tiêu thụ hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu,
dự báo của nhà quản trị đối với các sản phẩm ở hiện tại và trong tương lai.
3.2. Giải pháp
3.2.1. Tăng doanh thu
Nắm vững nhu cầu thị trường, tìm hiểu nguyên nhân do đâu sản phẩm khó bán
hoặc khó tiêu thụ bằng cách trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, nhờ những nhân viên
trình dược để từ đó có sự điều chỉnh. Nếu doanh thu có thể bù đắp chi phí thì nên tăng
chi phí quảng cáo hoặc chi phí marketting để làm mới sản phẩm đối với các mặt hàng
đã dần bảo hòa hoặc thị phần ổn định (CINATROL và các hàng tương tự )
Trên cơ sở đó chú ý cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng, mẫu mã
cho phù hợp với tình hình mới. Bên cạnh đó cần chấp hành định mức dự trữ hàng hoá,
nguyên vật liệu, vận dụng tiền lương tiền thưởng để kích thích tăng năng suất ở các
18
khâu giao nhận, vận chuyển, phân loại, chọn lọc, đóng gói hàng hoá… nhằm rút ngắn
thời gian hàng hoá nằm ở khâu này đưa nhanh hàng ra địa điểm bán.
Cải tiến cơ cấu mặt hàng, mạng lưới kinh doanh, phương thức bán, giá cả, công
tác điều động, phân phối hàng và phương thức thanh toán.
3.2.2. Tiết kiệm chi phí
Nền kinh tế thị trường đã tạo đà cho các doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, phát
huy được hết các tiềm năng của mình. Đồng thời các doanh nghiệp cũng phải cạnh
tranh để tồn tại và phát triển. Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp làm ăn không thua
lỗ là điều khó, song để đứng vững được trên thị trường và kinh doanh có hiệu quả lại
càng khó hơn. Để kinh doanh có hiệu quả trong cơ chế này, mỗi doanh nghiệp cần
phải tìm ra những điểm mạnh điểm yếu của mình từ đó phát huy những điểm mạnh và
tìm giải pháp hạn chế những điểm yếu của mình.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh và tình hình thực tế của doanh
việc nghiên cứu thị trường, phân tích những biến động của thị trường về giá cả, về
cung cầu và những công nghệ mới để xem người tiêu dùng thích sản phẩm gì với
những yêu cầu về chất lượng như thế nào, giá cả ra sao, hơn thế có thể nghiên cứu để
tạo ra cũng như là kích thích nhu cầu mới đối với những sản phẩm dịch vụ mới của
doanh nghiệp, khả năng sẽ tiêu thụ là bao nhiêu… và phải tiến hành nghiên cứu thị
trường một cách thường xuyên liên tục. Muốn vậy mỗi doanh nghiệp phải tổ chức một
bộ phận riêng chuyên môn nghiên cứu thị trường nhằm phản ánh lại những sản phẩm
của doanh nghiệp, để đưa ra thị trường những sản phẩm thích ứng với thị hiếu của
người tiêu dùng hơn. Đây cũng là một trong nhiều phương pháp nâng cao lợi nhuận
giảm chi phí cho doanh nghiệp.
3.2.2.3. Phải tiết kiệm chi phí một cách hợp lý
Trước hết doanh nghiệp phải mở rộng được quy mô kinh doanh đồng thời dựa
vào các dự toán định mức và dự toán chi phí được xây dựng để thực hành tiết kiệm.
Việc tiết kiệm phải được thực hiện ở mọi khâu, mọi bộ phận kinh doanh trên tất cả các
yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động vật tư, tiền vốn…
Áp dụng phương thức phục vụ thích hợp, cải thiện phương tiện và điều kiện
làm việc, cho phép giảm lượng lao động dư thừa và giảm nhẹ hao phí sức lao động cho
người lao động, giảm lao động gián tiếp, tăng lao động trực tiếp. Trên cơ sở đó là điều
kiện cho việc giảm tổng quỹ lương vì thế vì thế sẽ làm tổng mức chi phí chung giảm
xuống. Nhưng giảm tổng quỹ lương không có nghĩa là giảm tiền lương của cán bộ
công nhân viên, mà phải làm cho tiền lương của cán bộ công nhân viên tăng lên nhưng
tốc độ tăng này phải nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động mà họ đạt được.
20
Nhưng điều quan trọng và có ý nghĩa to lớn hơn trong việc tổ chức quản lý lao
động của một doanh nghiệp để nâng cao năng suất lao động là ở chỗ biết sử dụng yếu
tố con người, biết khơi dậy tiềm năng trong mỗi con người làm cho họ gắn bó và cống
hiến tài năng cho doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp phải thường xuyên chăm lo đến
đời sống vật chất tinh thần cho người lao động, không ngừng nâng cao tay nghề, nâng
cao trình độ chuyên môn, trình độ kỹ thuật bằng cách mở các lớp đào tạo, cử đi học, đi
thực tế ở các công ty khác… Bên cạnh đó doanh nghiệp cần có cơ chế tuyển dụng lao
nghiệp phải đảm bảo được khả năng của các nguồn cung ứng về số lượng, chất lượng,
thời gian, địa điểm, khu vực chủ yếu. Bên cạnh đó nghiên cứu chính sách tiêu thụ hàng
hoá của đơn vị có nguồn cung ứng, đặc biệt là chất lượng, giá cả, thời gian giao nhận,
phương thức thanh toán. Cần kiểm tra tính chính xác về uy tín chất lượng của hàng
hoá dịch vụ. Sử dụng các biện pháp để tạo nguồn hàng như tổ chức mạng lưới thu mua
phù hợp với điều kiện nguồn hàng, điều kiện sản xuất kinh doanh. Áp dụng các biện
pháp kinh tế trong hoạt động khai thác các nguồn mua để khuyến khích bộ phận thu
mua và đơn vị cung cấp.
- Tăng cường các dịch vụ bổ sung: dịch vụ bổ sung là một trong những tiêu
chuẩn để phân hạng khách sạn, khách sạn càng sang trọng thì dịch vụ bổ sung càng đa
dạng, phong phú và hoàn chỉnh. Dịch vụ này theo nhu cầu thị hiếu của từng cá nhân,
từng nhóm người mà nó mang tính đa dạng và có tác dụng kéo dài thời gian lưu lại của
khách, tạo cho khách sự hài lòng từ đó góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp DL.
3.2.2.4. Tổ chức tốt tình hình thực hiện chi phí
Việc quản lý tình hình thực hiện chi phí có vai trò quan trọng trong việc đề ra
các biện pháp tiết kiệm chi phí. Cuối mỗi thời kỳ (có thể là một tháng, một quý, một
năm) có sự đánh giá về việc thực hiện chi phí để có thể đánh giá chính xác tình hình
quản lý và sử dụng chi phí của doanh nghiệp, xem trong kỳ đó doanh nghiệp đã tiết
kiệm được chi phí hay bội chi về chi phí, nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là chủ
quan hay khách quan.
Ngoài ra cần đánh giá riêng từng khoản chi phí, ảnh hưởng của nó tới tổng chi
phí chung, sự tăng lên hay giảm đó có hợp lý không, từ đó đưa ra các biện pháp tiết
kiệm chi phí với từng khoản chi tiêu. Tránh tình trạng chi bừa bãi không đúng mục
đích để đưa ra giá bán hợp lý đối với sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.
22
KẾT LUẬN
Phân tích mối quan hệ Chi phí – Doanh thu và Lợi nhuận là một việc làm hết
sức cần thiết cho nhà quản trị, điều này cho thấy mối quan hệ của 3 nhân tố chính,
quyết định sự thành công của mỗi công ty. Từ doanh thu thu về từ dịch vụ du lịch với