A. LỜI MỞ ĐẦU
Trước khi vào vấn đề, chúng ta sẽ cùng trả lời câu hỏi này nhé! Đã bao giờ
bạn đặt câu hỏi xung quanh một hành vi xảy ra trong cuộc sống thường ngày của
mình ví như việc bạn thỏa thuận với ai đó để trao đổi với họ một vật ngang giá hay
đơn giản là thỏa thuận để mua một chiếc áo chưa? Nếu như bạn đã từng làm một
việc tương tự như vậy thì tại sao bạn không tự hỏi mình đã tham gia vào những quan
hệ pháp lý gì? Tại sao bạn lại có thể thỏa thuận được với người khác? Khi thỏa
thuận với họ bạn được làm và không được làm những gì? Khi bạn làm trái những gì
mà pháp luật và xã hội cho phép thì bạn có trách nhiệm gì không? Và bạn đã bảo vệ
quyền lợi chính đáng của mình như thế nào? Tôi cam đoan rằng trong số các bạn
chỉ một số rất ít đặt ra câu hỏi cho mình như vậy. Trong một xã hội ngày càng phát
triển thì người ta phải tham gia vào nhiều quan hệ hơn, phức tạp hơn, nhiều khi và
rất thường xuyên bạn là người trực tiếp tham gia vào các quan hệ đó mà đặc biệt và
phổ biến nhất là những quan hệ giao dịch dân sự. Vậy thì tại sao chúng ta không tìm
hiểu vấn đề này thông qua việc nghiên cứu đề tài: “Giao kết hợp đồng dân sự theo
quy định của pháp luật hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” để tự trả
lời câu hỏi cho mình nhỉ ?!
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự
Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí của mình theo những
nguyên tắc nhất định để qua đó xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự. Xuất phát từ
nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự, quyền tự do thỏa thuận, cam kết của các chủ
thể phù hợp với các quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ
được pháp luật đảm bảo. Xét bản chất hợp đồng, thì vấn đề lợi ích cần đạt được là
1
động lực nội tại thúc đẩy các bên thiết lập quan hệ. Trong giao lưu dân sự, các bên
hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn
cản bên nào và luôn phải tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Việc
giao kết hợp đồng dân sự đã được Bộ luật Dân sự 2005 quy định cụ thể tại Điều 389
hành vi của họ không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Nghĩa là các bên
không được giao kết hợp đồng mà đối tượng của nó là tài sản bị pháp luật cấm giao
dịch. Đối với những tài sản pháp luật cho phép giao dịch nhưng phải có điều kiện
nhất định, thì khi giao kết hợp đồng các bên phải tuân thủ những điều kiện đó.
Có thể nói, nguyên tắc này đã phản ánh được quyền lợi tuyệt đối của chủ thể
khi giao kết hợp đồng, nhưng quyền lợi đó bị ràng buộc bởi quy định của pháp luật
và đạo đức xã hội. Hợp đồng giao kết phải có mục đích, nội dung không được trái
với đạo đức xã hội. Đối với những hợp đồng có mục đích trái với những chuẩn mực
ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa
nhận và tôn trọng; đi ngược lại với lợi ích chung của xã hội, gây thiệt hại cho lợi ích
hợp pháp của người khác,… đều bị coi là trái đạo đức xã hội. Những hợp đồng có
nội dung như vậy, theo quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự đều vô hiệu.
Sự tồn tại đa lợi ích trong xã hội và xu hướng lấn át của chúng đòi hỏi pháp
luật phải tạo ra được một giới hạn phát triển hợp lý cho các lợi ích đó, tạo ra được
sự hài hóa cho các lợi ích đang tồn tại trong một mối liên hệ chung. Sự đấu tranh và
thống nhất giữa các lợi ích chính là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Điều
này đòi hỏi tạo ra phạm vi giới hạn cho quyền tự do giao kết hợp đồng phù hợp với
yêu cầu của xã hội, với đòi hỏi của pháp luật.
1.2. Nguyên tắc tự nguyên, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và
ngay thẳng
Đây là nguyên tắc được xác định rên cơ sở pháp lý của hợp đồng. Bảo đảm
nguyến tắc khi giao kết hợp đồng cũng là bảo đảm hiệu lực của hợp đồng trên thực
3
tế. Điểm c, khoản 1, Điều 122 Bộ luật Dân sự quy định về điều kiện có hiệu lực của
giao dịch dân sự: “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”. Như vậy một
hợp đồng được hình thành trên cơ sở ý chí của chủ thể và ý chí đó hoàn toàn tự
nguyện,
về nguyên tắc, bất cứ một vi phạm nào về sự tự nguyện cũng có thể dẫn đến hậu quả
giao dịch sẽ bị vô hiệu.
Tự nguyện là sự thể hiện thống nhất giữa ý chí và hành động của các chủ thể
Thiện chí, hợp tác là việc các bên khi tham gia hợp đồng không chỉ quan tâm,
chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà còn phải tôn trọng, quan tâm đến
lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác,
giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Nguyên tắc này
đảm bảo được bản chất pháp lý của hợp đồng là sự “thỏa thuận” giữa các bên. Sự
giao lưu ý chí đi đến thống nhất đòi hỏi thái độ thiện chí, hợp tác từ cả hai phía. Sự
thiện chí, hợp tác có ý nghĩa trong việc nhanh chóng thiết lập quan hệ hợp đồng với
nội dung công bằng, hợp lý hơn và xét đến cùng nó cũng là hậu quả tất yếu trong
việc đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của con người.
Trung thực, ngay thẳng là không bên nào được lừa dối bên nào, không được
lợi dụng lòng tin của người khác để trục lợi; nếu một bên cho rằng bên kia không
trung thực thì phải có chứng cứ. Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm mục đích bảo
đảm hiệu lực của hợp đồng đã giao kết. Hậu quả của sự không trung thực, ngay
thẳng là sự gian dối, lừa lọc khi giao kết hợp đồng làm thiệt hại quyền lợi một bên.
Những nguyên tắc cơ bản giao kết hợp đồng được ghi nhận trong Bộ luật Dân
sự nhằm tạo ra sự an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao kết hợp đồng,hướng
dẫn xử sự của chủ thể trong quá trình giao kết, bảo đảm thiết lập quan hệ hợp đồng
hợp pháp.
5
2. Chủ thể giao kết hợp đồng dân sự
Trong hoạt động giao kết hợp đồng, các chủ thể phải đảm bảo các điều kiện
có hiệu lực của giao dịch theo quy định (Điều 122 BLDS 2005)
Điều kiện thứ nhất là: “Người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi
dân sự”. Pháp luật đã khẳng định quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật,
trong đó khả năng của cá nhân được hưởng quyền công dân và phải thực hiện những
nghĩa vụ dân sự là như nhau. Khả năng có quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự chính là
năng lực pháp luật dân sự của cá nhân và năng lực pháp luật dân sự là bình đẳng đối
với mọi công dân. Năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân phụ thuộc vào khả năng
nhận thức của cá nhân và căn cứ vào khả năng nhận thức để phân biệt mức độ năng
lực hành vi.
Trình tự giao kết hợp đồng là quá trình mà trong đó các bên chủ thể bày tỏ ý
chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thỏa thuận trong việc cùng nhau
làm xác lập những quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau. Thực chất, đó là quá
trình mà hai bên “mặc cả” về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng. Quá
trình này diễn ra thông qua hai giai đoạn:
3.1. Đề nghị giao kết hợp đồng
Hoạt động đầu tiên khi một người muốn thiết lập một hợp đồng dân sự thì ý
muốn đó phải thể hiện ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định. Chỉ có như
vậy, phía đối tác mới có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi
đến việc giao kết hợp đồng. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên bày tỏ ý chí
của mình muốn giao kết hợp đồng với một người cụ thể và chịu sự ràng buộc về đề
nghị này đối với bên đã được xác định cụ thể đó.
Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Người đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị để trao đổi, thỏa
thuận hoặc có thể thông qua điện thoại, internet,… Trong những trường hợp này,
7
thời hạn trả lời là một khoảng thời gian do hai bên thỏa thuận ấn định. Ngoài ra, đề
nghị giao kết còn có thể được thực hiện bằng việc chuyển công văn, giấy tờ qua
đường bưu điện. Trong những trường hợp này, thời hạn trả lời là khoảng thời gian
do hai bên ấn định.
Thời điểm mà đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực do bên đề nghị ấn định.
Trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng bắt đầu
có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó. Bên được đề nghị
được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng khi đề nghị được chuyển đến
trụ sở, nếu là pháp nhân. Khi đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức
của bên được đề nghị hoặc khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp
đồng thông qua các phương thức khác cũng được coi là đã nhận được đề nghị.
3.2. Thay đổi, hủy bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng
Để bảo đảm quyền lợi cho người được đề nghị, theo quy định tại khoản 2
Điều 390 Bộ luật Dân sự: “Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ
đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi hoặc rút lại thông báo đề nghị giao kết
hợp đồng, song thông báo thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng đó phải đến
trước hoặc cùng với thời điểm thông báo trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng. Khi
đó đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt;
- Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực;
- Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn
chờ bên được đề nghị trả lời.
3.3. Chấp nhận giao kết hợp đồng
Là việc bên được đề nghị nhận toàn bộ lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc
giao kết hợp đồng với người đã đề nghị. Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả
lời ngay về việc có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không. Khi bên được đề nghị
giao kết hợp đồng chấp nhận đề nghị thì hợp đồng đó coi như đã được giao kết.
Trong những trường hợp cần phải có thời gian để bên đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà
9
các bên đã ấn định thời hạn trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn
đó. Nếu sau thời hạn nói trên, bên được đề nghị mới trả lời về việc chấp nhận giao
kết hợp đồng thì lời chấp nhận đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm
trả lời.
Nếu việc trả lời được chuyển qua bưu điện thì ngày gửi đi theo dấu bưu điện
được coi là thời điểm trả lời. Căn cứ vào thời điểm đó để bên đã đề nghị xác định
việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định.
Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao
kết hợp đồng nếu như thông báo rút lại thông báo chấp nhận đó đến trước hoặc cùng
với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
Đối với trường hợp sau khi bên được đề nghị giao kết hợp đồng trả lời chấp
nhận giao kết hợp đồng mà bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì đề
nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự
vẫn được coi là có giá trị. Ngược lại, đối với những trường hợp mà sau khi giao kết
hợp đồng, bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân
sự thì chấp nhận giao kết hợp đồng của bên được đề nghị đã chết hoặc mất năng lực
trọng là giá trị pháp lý khi xác định thời điểm. Nó là cơ sở để xác định thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng.
5. Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự
Việc xác định địa điểm giao kết hợp đồng cũng có ý nghĩa quan trọng trong
việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Về
nguyên tắc, các bên có quyền thỏa thuận lấy bất cứ nơi nào làm địa điểm giao kết
hợp đồng. Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì địa điểm giao kết hợp
đồng được xác định là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra
lời đề nghị giao kết hợp đồng.
Nơi đặt trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân đó
(Điều 90 Bộ luật Dân sự). Còn nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại Điều 52 Bộ
11
luật Dân sự là “nơi người đó thường xuyên sinh sống”.
Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ. Nếu cha, mẹ
có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người đó là nơi cư trú của cha hoặc mẹ.
Nơi cư trú của người giám hộ là nơi cư trú của người giám hộ. Nơi cư trú cảu quân
nhân đang làm nghĩa vụ quân sự là nơi đơn vị đóng quân, trừ trường hợp họ có nơi
thường xuyên cư trú. Nơi cư trú của người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền,
phương tiện hành nghề lưu động khác là nơi đăng ký tàu, thuyền, phương tiện đó,
nếu họ không có nơi cư trú thường xuyên.
II. THỰC TIỄN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
1. Kết quả đạt được
Việc giao kết hợp đồng dân sự là việc xác lập quan hệ hợp đồng giữa các chủ
thể. Và khi hợp đồng được giao kết hợp pháp thì phát sinh hiệu lực của hợp đồng.
Thực tiễn giao kết hợp đồng cho thấy, phần lớn các chủ thể tham gia giao kết nắm
được căn cứ cơ bản của việc giao kết. Những quy định của pháp luật cũng phù hợp
với tập quán, “văn hóa mua bán” của người dân Việt, vì thế, việc giao kết hợp đồng
phần lớn đã đảm bảo được các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy
định của pháp luật.
Tùy vào từng chủ thể tham gia và mục đích ký kết hợp đồng mà việc áp dụng
bằng về lợi ích giữa các bên tham gia. Phần nhiều hợp đồng vô hiệu tương đối là do
nguyên nhân bị lừa dối, ví dụ trong một hợp đồng mua bán nhà ở giữa anh Lê Hữu
và chị Tôn Ngọc Nhã. Ngày 27/9/2007 anh Hữu bán căn nhà KP4/97a thị trấn Gò
Dầu Tây Ninh với diện tích 6m x 18m cho chị Tôn Ngọc Nhã với giá 20 lượng
vàng. Chị Nhã đa trả cho anh Mậu 18 lượng vàng, còn lại hai lượng thì thỏa thuận
khi nào nhận nhà sẽ giao nốt. Giấy mua bán đã được ủy ban nhân dân thị trấn chứng
nhận, nhưng chưa làm thủ tục chứng nhận trước bạ sang tên. Sau hai tháng, ngày 27-
11-2007 anh Hữu bán 1/2 căn nhà trên cho anh Nguyễn Văn Đức, diện tích 3 x 18m
13
với giá 15 lượng vàng. Việc mua bán này đã được sang tên, anh Đức dọn đến ở thì
xảy ra tranh chấp.
Tòa án nhân dân Tây Ninh đã hủy hợp đồng mua bán giữa anh Hữu và anh
Đức; công nhận hợp đồng mua bán giữa anh Hữu và chị Nhã. Trong vụ kiện trên
cho thấy việc mua bán giữa anh Hữu và chị Nhã là hoàn toàn tự nguyện và chị Nhã
đã thực hiện nghĩa vụ gần như hoàn thành trên thực tế, mặc dù chưa làm thủ tục
trước bạ sang tên. Việc anh Hữu thực hiện mua bán với anh Đức vi phạm nguyên tắc
tự nguyện, trong quan hệ này anh Hữu có ý thức lừa dối vì mục đích tư lợi. Về thực
chất, quyền đinh đoạt của anh Hữu với ngôi nhà đã gần như không còn, nó bị hạn
chế bởi quyền được sở hữu của chị Nhã, khi đã hợp thức về thủ tục. Quan hệ mua
bán đã hoàn thành trên thực tế, chỉ con chờ sự ghi nhận của pháp luật mà thôi. Bản
án quyết đinh hủy hợp đồng mua bán giữa anh Hữu và anh Đức của tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh là phù hợp với pháp luật.
Đối với loại hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là trường hợp giao kết vi phạm điều
cấm của pháp luật, giao kết do giả tạo và giao kết do vi phạm về hình thức. Đây là
trường hợp hợp đồng dương nhiên bị vô hiệu và về nguyên tắc phải hủy hợp đồng.
Trong Bộ luật Dân sự cũng xác định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu xác định hợp
đồng bị vô hiệu là vô thời hạn. Mức độ hợp lý của quy định đã được bàn đến trong
phần hợp đồng vô hiệu. Trên thực tế nếu đối tượng của hợp đồng là vật không được
phép giao dịch (vi phạm điều cấm của pháp luật), thì trong mọi trường hợp đều dẫn
đến hậu quả hợp đồng vô hiệu. Ví dụ như các giao dịch có đối tượng giao dịch là
Ví dụ: Mua bán nhà 368 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội là di sản thừa kế chưa
chia của bà Linh, ông Thực, ông Thanh, bà Loan, bà Liên gồm hai phòng, 16m
2
và
20m
2
. Năm 2006 ông Thực bán phòng 20m
2
cho ông Hoàng với giá hai tỷ đồng; ông
Thực đã nhận 1 tỷ 600 triệu còn lại 400 triệu, hẹn khi nào hoàn tất thủ tục ông
Hoàng trả nốt. Tháng 4/2007, chị em ông Thực phát hiện ra việc mua bán, bà Linh
đã đứng ra ngăn cản, nên ông Hoàng không được vào nhà.
15
Tháng 11/2010, Ủy ban phường giải quyết kéo dài đến tháng 3/2011. Ông
Thực phải trả tiền cho ông Hoàng. Ông Thực không đồng ý trả trượt giá nên ủy ban
phường cho ông Hoàng ở phòng 20m
2
. Án phúc thẩm đã chấp nhận ông Hoàng được
mua 1/2 phòng 20m
2
. Ông Thực phải trả lại cho ông Hoàng 1/2 số tiền đã nhận
tương đương với giá trị đồng tiền khi xử sơ thẩm. Tòa án tối cao xử hủy hợp đồng
mua bán buộc các thừa kế hoàn tiền mua nhà cho ông Hoàng theo giá nhà lúc xử sơ
thẩm lại.
Trường hợp do vi phạm hợp đồng dẫn đến thiệt hại xảy ra, Tòa án căn cứ vào
mức độ lỗi của các bên để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trên thực tế
việc đánh giá mức độ lỗi của các bên và trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại là vấn
đề khó khăn, không ít vụ kiện kéo dài tranh chấp và qua nhiều lần, nhiều cấp xét xử
về việc quy trách nhiệm chịu thiệt hại đã xảy ra.
Xét về nguyên lý giao kết hợp đồng vi phạm các điều kiện có hiệu lực của
quy định chi tiết, cụ thể về trình tự, phương thức giao kết. Mặc dù pháp luật tôn
trọng quyền tự do, tự nguyện ký kết hợp đồng của các chủ thể, nhưng quyền tự do
đó phải luôn trong một khuôn khổ pháp lý cụ thể và cần phải có hướng dẫn chi tiết
để tránh trường hợp hợp đồng vi phạm về nội dung hoặc hình thức do hiểu không
đúng những quy định của pháp luật.
Thứ ba, cần nâng cao hiệu quả của các cơ quan giải quyết tranh chấp, nhất là
Tòa án kinh tế, đảm bảo quyền và lợi ích của chủ thể đều được pháp luật bảo vệ.
Qua đó, tạo niềm tin đối với các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng. Đồng thời
nâng cao trách nhiệm của mỗi chủ thể trong quan hệ dân sự được tạo lập.
Trên đây là một số kiến nghị của em với mong muốn góp một phần nhỏ của
mình vào việc hoàn thiện hơn cơ chế pháp lý về giao kết hợp đồng dân sự trong hệ
thống pháp luật hiện hành.
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
17
Cùng với sự phát triển kinh tế thị trường và những bước tiến vượt bậc của nền
kinh tế nước ta trong nhiều năm qua, cho thấy, những quy định về hợp đồng dân sự
mà cụ thể là việc giao kết hợp đồng đã phát huy vai trò quan trọng trong việc tạo lập
hành lang pháp lý điều chỉnh các giao dịch dân sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế, xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước và
lợi ích công cộng. Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là một chế định
quan trọng bởi nó được coi là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng nói chung, điều
chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự
thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm. Nhận thức được tầm quan trọng của việc giao kết
hợp đồng, mỗi chủ thể tham gia và nhà lập pháp cần có những biện pháp đúng đắn
để bảo vệ lợi ích của các bên tham gia, của Nhà nước và của toàn xã hội.
18
MỤC LỤC
Trang
A. Lời mở đầu 1
luật học, Trần Kim Chi, Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997.
20