THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN - Pdf 12

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể với những quy luật vận động nội tại.
Đi vào thế giới ấy là đi vào một cấu trúc có lôgíc của tổ chức bên trong, có sự
thống nhất biện chứng của các mặt đối lập, có sự hài hoà giữa nội dung và hình
thức. Thế giới nghệ thuật “chịu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật của tác
giả về thế giới như một quy luật tuyệt đối” và do đó nó có tính ước lệ so với thế
giới thực tại. Khám phá thế giới nghệ thuật cụ thể cũng có nghĩa chúng ta đã
nghiên cứu văn học từ góc độ thi pháp. Đây là một hướng nghiên cứu mới mẻ và
đang được rất quan tâm hiện nay. Hướng nghiên cứu này khám phá vẻ đẹp của
văn học từ phương diện bản thể của nó, từ cấu trúc, cảch biểu hiện nội dung. Nó
giúp chúng ta thoát khỏi cách tiếp cận xã hội học đang trở thành lối mòn trong
nghiên cứu văn học.
Hơn nửa thế kỉ qua, văn xuôi viết về miền núi có những đóng góp quan
trọng cho văn học hiện đại nước nhà. Nó đã tạo dựng được bức tranh hiện thực
lớn lao về cuộc sống, con người miền núi trong cách mạng, kháng chiến và trong
công cuộc xây dựng đất nước. Thành tựu của mảng đề tài này thể hiện ở cả đội
ngũ sáng tác cùng với sự kết tinh ở không ít tác phẩm. Đã có không ít những nhà
văn dành phần lớn công sức, tâm huyết cho đề tài miền núi, cũng là những cây
bút chủ lực trong nền văn học nước nhà như : Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn
Kháng
Văn học viết về miền núi là khu vực duy nhất trong nền văn học có sự hiện
diện khá đông đủ bộ mặt văn học các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam. Với khả năng khơi sâu vào cái riêng, cái đặc sắc của mỗi dân tộc,
vùng miền, văn học miền núi đã đem lại sự phong phú, đa dạng và tầm vóc riêng
cho cả nền văn học hiện đại. Đặc biệt, những nét đặc thù trong thiên nhiên và
khí chất con người miền núi đã tạo nên sức gợi riêng, so với văn xuôi viết về
1
ng bng, ụ th . Nh nghiờn cu Phong Lờ ó tng nhn xột : vn xuụi
min nỳi chim lnh c mt v riờng, khụng thay th c, khụng ai bt
chc c.

trình làng ba tập truyện ngắn và năm cuốn tiểu thuyết. Tuy nhiên trong văn học
nghệ thuật “qúy hồ tinh bất qúy hồ đa”, với một số lượng truyện không lớn,
nhưng nếu có chiều sâu tư tưởng và đặc sắc về phong cách vẫn có thể là đối
tượng của một công trình khoa học nghiêm túc. Trường hợp của Cao Duy Sơn
l à một ví dụ điển hình. Thêm nữa, đây là một nhà văn thuộc khu vực văn học
dân tộc ít người, một vùng văn học rất cần được chú trọng tìm hiểu và quảng bá.
Vì tất cả những lí do ấy, chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong
truyện ngắn Cao Duy Sơn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là tác giả trẻ trong nền văn học đương đại, Cao Duy Sơn vẫn tiếp tục sự
nghiệp sáng tác và khẳng định phong cách riêng độc đáo trong sáng tác nghệ
thuật. Ông được đánh giá là nhà văn có những đóng góp lớn ở mảng đề tài viết
về miền núi. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình
nghiên cứu riêng về Cao Duy Sơn và những tác phẩm của nhà văn.
Tác phẩm của Cao Duy Sơn mới được giới thiệu chung chung trên các
phương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí và chương trình giới thiệu sách
trên đài phát thanh truyền hình. Sự đánh giá về ông cũng chỉ được đề cập ở
những nét khái quát nhất trong những công trình nghiên cứu về văn học các dân
tộc thiểu số.
Có thể kể tên các bài viết sau:
- Cao Duy Sơn - Từ chú cầy hương đến chàng gấu rừng già - Tác giả Trung
Trung Đỉnh, (Trích nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam - Đời và văn, Lò
Ngân Sủn (chủ biên) , NXB Văn hoá dân tộc, 2003)
- Đàn trời - Tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, NXB văn hoá dân tộc 2006, tác giả
Thạch Linh, Thể thao văn hoá, 5/2006.
- Đàn trời ai đọc nấy nghe Tác giả Vũ Xuân Tửu - Tạp chí Văn hoá các dân
tộc thiểu số 7/2006.
3
- Cõi nhân gian như cổ tích - Đọc Đàn trời, tiểu thuyết của Cao Duy sơn, NXB
Văn hoá dân tộc- Hà Nội 2006- Tác giả Nguyễn Chí Hoan - Văn nghệ tết Đinh

Tác giả Đỗ Đức nhận xét về Cao Duy Sơn khi đọc Ngôi nhà xưa bên suối qua
bài viết trên báo văn nghệ Ban mai có một giọt sương : “Văn trong tập này của
Cao Duy Sơn giống tổ chim gáy ấy. Nó không cầu kì, thoáng đọc còn cảm thấy
nó quyềnh quàng, vụng dại. Nhưng truyện nào cũng có những câu khiến người
ta giật mình về sự sắc sảo trong quan sát cuộc sống và gọi nó ra bằng chính
ngôn ngữ của người vùng mình”.
Lâm Tiến - tác giả của một số công trình nghiên cứu về văn học các dân tộc
thiểu số Việt Nam đã có những nhận xét xác đáng về cá tính sáng tạo nhà văn
Cao Duy Sơn : “Ông miêu tả nhân vật dưới góc độ đời tư, có số phận riêng và
một sự tự ý thức ( ) Nhân vật của ông thường khoẻ khoắn, mạnh mẽ, có cuộc
sống nội tâm phong phú, phức tạp, dữ dội nhưng lại lặng lẽ, kín đáo. Truyện
của Cao Duy Sơn còn hấp dẫn người đọc ở cách viết giàu cảm xúc, giàu hình
tượng với cách cảm nhận sự vật, hiện tượng tinh tế, chính xác, sắc sảo vưói
những tình huống căng thẳng gay gắt, bất ngờ. Với cách viết đó, Cao Duy Sơn
đã đem lại cho văn xuôi các dân tộc thiểu số một cảm nhận mới về con người và
cuộc sống các dân tộc ”. (21, 151).
Cao Duy Sơn có ý thức hoà trộn trong tác phẩm của mình cả hai yếu tố truyền
thống và hiện đại. Truyện ngắn của ông vừa xưa xưa như cổ tích lại vừa mang
hơi thở của cuộc sống đương đại, đậm đặc chất tiểu thuyết trong tính đa dạng
của chủ đề, trong những yếu tố đời tư, trong những nếm trải của nhân vật với
những độc thoại nội tâm day dứt. Ngôn ngữ và giọng điệu của Cao Duy Sơn
mang đặc trưng “người vùng mình” vừa giàu chất trữ tình, chất thơ vừa mộc
mạc, chân chất và góc cạnh.
Phan Chinh An trong bài viết Tìm về vẻ đẹp của hoài niệm có nhận xét về tập
truyện Ngôi nhà xưa bên suối: Vẻ đẹp tâm hồn và tính cách con người dân tộc
Tày còn được nhà văn lột tả, thể hiện thông qua những nghịch cảnh, những thử
thách đối với số phận nhân vật. Dường như hầu hết các nhân vật chính trong
những câu chuyện của tác phẩm đều rơi vào “những hoàn cảnh éo le, đau đớn”
5
(chữ dùng của nhà thơ Hữu Thỉnh) trong nhiều quan hệ như quan hệ thầy trò,

4. Phạm vi nghiên cứu
Cao Duy Sơn sáng tác cả truyện ngắn và tiểu thuyết. Đề tài tập trung nghiên cứu
vào lĩnh vực truyện ngắn với các tập truyện sau:
Tập truyện ngắn Những chuyện ở lũng Cô Sầu - NXB Quân đội Nhân dân
(giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam - 1997)
- Tập truyện ngắn Những đám mây hình người – NXB Văn hóa dân
tộc (giải B của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam - 2003)
- Tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối ( Hoa bay cuối trời ) –
NXB Văn hóa dân tộc (giải thưởng Hội nhà văn năm 2008, giải thưởng ASEAN
năm 2009)
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hệ thống
Thế giới nghệ thuật của truyện ngắn Cao Duy Sơn được nghiên cứu trong
tính tổng thể thống nhất. Toàn bộ thế giới ấy được coi là một thực thể trong hệ
thống văn học miền núi. Chúng tôi xem xét thế giới nghệ thuật của Cao Duy
Sơn trong mối quan hệ với những đặc trưng thẩm mỹ của văn học miền núi,
đồng thời có sự phân biệt để thấy sự khác biệt của sáng tác Cao Duy Sơn với
văn học miền núi.
5.2 Vận dụng quan điểm lịch sử
Chúng tôi đặt sáng tác Cao Duy Sơn vào bối cảnh lịch sử cụ thể để nghiên
cứu. Những giá trị của truyện ngắn Cao Duy Sơn được nhìn trong tương quan
với thành tựu văn học đương thời. Nét mới, nét độc đáo của truyện ngắn Cao
Duy Sơn được xem xét ở thời điểm nó ra đời.
5.3 Sử dụng những thao tác khoa học như so sánh, phân tích tổng hợp
Chúng tôi đã sử dụng thao tác so sánh đồng đại để thấy những điểm giống
và khác biệt của Cao Duy Sơn với các nhà văn cùng thời. Phép so sánh lịch đại
được vận dụng để nghiên cứu tác giả này dưới một cái nhìn xuyên suốt lịch sử
văn học dân tộc.
Những thao tác phân tích, tổng hợp được vận dụng ở đây để làm sáng tỏ những
luận điểm của luận văn.

phối sự đánh giá trong tác phẩm… Chỉ những tư tưởng lành mạnh, tiến bộ của
thời đại mới dấy lên được những cảm hứng nghệ thuật đích thự ” (8, 52).
Như vậy, cảm hứng nghệ thuật là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong
sáng tác văn học, cũng là yếu tố quan trọng đóng vai trò động lực thôi thúc nhà
văn có “ý đồ” và động cơ sáng tác, giúp nhà văn xác định được phương hướng
chung nhất cho cả quá trình sáng tác.
Ở mỗi nhà văn, cảm hứng nghệ thuật là trạng thái hưng phấn cao độ do
chiếm lĩnh được bản chất cuộc sống mà họ định miêu tả, được biểu hiện ra là
9
niềm say mê khẳng định chân lí, lí tưởng, phủ định sự giả dối và mọi hiện tượng
xấu xa tiêu cực. Là thái độ ca ngợi, đồng tình với những nhân vật chính diện, là
sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối, các hoạt động tầm thường của nhân vật.
Trong quá trình sáng tác, cảm hứng nghệ thuật là trạng thái tâm lí then chốt bao
trùm toàn bộ tác phẩm, được biểu hiện rõ nhất khi nhà văn bắt đầu viết và có mặt
“bàng bạc” trong hầu khắp các khâu của quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn.
Nó cũng là trạng thái tâm lí căng thẳng nhưng say mê khác thường mang lại cho nhà
văn những rung động sâu xa trước hiện thực cuộc sống xã hội - lịch sử làm cho nhà
văn có nhu cầu bộc bạch và viết thành tác phẩm.
Cảm hứng nghệ thuật của nhà văn chỉ có thể có được khi nhà văn có cảm xúc về
con người hoặc những sự vật, hiện tượng nào đó có trong thiên nhiên hoặc trong
đời sống xã hội - lịch sử. Nó chỉ có thể trở thành một lớp nội dung đặc thù của
tác phẩm văn học khi nhà văn đã “thai nghén” và có sự suy tư, cấu tứ, tưởng
tượng trước đó về những điều mình định miêu tả, thể hiện trong tác phẩm. Cảm
hứng nghệ thuật biểu hiện rõ nét và sâu sắc qua thế giới nhân vật và những lớp
nội dung của tác phẩm. Đôi khi nó được biểu hiện ra thành những “khoảng trống” để
huy động sự cộng hưởng cảm xúc của độc giả.
2. Các loại cảm hứng phổ biến trong sáng tác văn học
Để sáng tác một tác phẩm văn học cụ thể nào đó, tuỳ theo cảm hứng về đề
tài, chủ đề hoặc những mảng hiện thực sẽ phản ánh trong tác phẩm mà nhà văn
có thể huy động những loại cảm hứng nghệ thuật khác để thể hiện tư tưởng, chủ

với những sự kiện lớn lao có liên quan tới vận mệnh dân tộc: công cuộc kháng
chiến chống ngoại xâm và sự nghiệp xây dựng tổ quốc. Sau ngày đất nước thống
nhất (1975), đời sống con người đổi khác, tư tưởng, tâm lí, nhu cầu vật chất và
tinh thần của con người cũng không còn như trước, vì vậy văn học cũng không
thể chỉ mang mãi cảm hứng cũ. Hiện thực cuộc sống đời thường sau chiến tranh
mở ra những vùng đất mới, khơi gợi những nguồn cảm hứng mới mẻ cho các
nhà văn. Thêm vào đó, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng
cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã mở ra
con đường cho các văn nghệ sĩ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói
rõ sự thật. Và từ đó, một khuynh hướng văn học mới phát triển mạnh mẽ với cái
11
nhìn hiện thực thẳng thắn hơn, đa chiều hơn. Công cuộc đổi mới ngày càng phát
triển cả ở chiều rộng lẫn bề sâu, sự đổi mới diễn ra từ tư tuởng thẩm mĩ đến hệ
thống thể loại, thi pháp và phong cách nghệ thuật. Các nhà văn không còn nhìn
đời và nhìn người một phía, họ không chỉ dừng lại ở cảm hứng ngợi ca mà nhận
thức được rằng hiện thực không phải là một cái gì đơn giản, xuôi chiều; con
người là một sinh thể phong phú, phức tạp, còn nhiều bí ẩn phải khám phá; nhà
văn phải là người có tư tưởng, phải nhập cuộc bằng tư tưởng chư không chỉ
bằng nhiệt tình và trong tìm tòi sáng tạo, không chỉ dựa vào kinh nghiệm cộng
đồng mà còn phải dựa vào kinh nghiệm của cá nhân mình nữa…. Với cái nhìn
đa chiều ấy, văn học đồng thời cũng xuất hiện những cảm hứng mà văn học thời
chiến tranh rất ít xuất hiện như: cảm hứng bi kịch, cảm hứng trào lộng…
Cảm hứng bi kịch khai thác những bi kịch đổi đời; bi kịch hậu chiến; bi kịch
tình yêu, hôn nhân… phản ánh đúng những bộn bề của cuộc sống của thời kinh
tế thị trường đầy xáo động. Những tác phẩm mang cảm hứng này đánh dấu sự
khởi sắc của văn chương thời kì đổi mới. Có thể nhắc tới những sáng tác ở giai
đoạn đầu như Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Người đàn bà trên chuyến
tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, Thời xa vắng của Lê Lựu, Mùa lá rụng
trong vườn của Ma Văn Kháng… Và ở chặng sau là hàng loạt những tên tuổi
như: Bảo Ninh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ…

4. Cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn
4.1 Cảm hứng lãng mạn đan xen với cảm hứng bi kịch
Ở trên đất nước Việt Nam này, hay thế giới ta đang sống đây, nơi đâu, chỗ
nào cũng có con người tồn tại. Con người theo nghĩa rộng đó là con người có
văn hoá, mang trong mình những dòng văn hoá đặc trưng, cốt cách đặc trưng
của dân tộc đó, có đời sống riêng, có sự giao thoa giữa các dân tộc, quốc gia
nhưng không lệ thuộc. Ý nghĩa đó đã khiến cho thế giới ngày một đa dạng
phong phú, văn hoá ngày càng được củng cố, bồi đắp, liên tục được chuyển giao
qua các thế hệ. Sự mở ra cánh cửa văn hoá để mọi người, mọi dân tộc hiểu biết
về nhau, giao lưu với nhau, trân trọng nhau. Văn học là một loại hình nghệ thuật
đã làm được điều đó. Thông qua ngôn ngữ, thông qua các hình tượng được nâng
cao người đọc có dịp được soi chiếu và vỡ ra nhiều điều cho mình và cho cuộc
13
sống quanh mình. Con người sẽ bớt đi sự cô đơn, được giãi bày và hoà nhập
trong thế giới nghệ thuật, thông qua tư tưởng của tác phẩm văn học. Đọc những
truyện ngắn của Cao Duy Sơn ta nhận biết về điều đó thêm sâu sắc và lắng đọng
hơn. Những truyện ông viết ra đều bắt đầu từ một vùng đất nơi ông đã sinh ra,
nuôi giữ trong ông bao ký ức về một thời. Đó là vùng đất Cô Sầu một thị trấn
nhỏ miền núi phía Bắc. Và cũng chính mảnh đất này đã tích tụ cảm hứng văn
chương và hình thành nên bút pháp riêng biệt của Cao Duy Sơn.
Cảm hứng lãng mạn đan xen với cảm hứng bi kịch đậm đặc ở những câu chuyện
viết về tình yêu. Đề tài này khá quen thuộc trong văn học nhưng ở trong sáng tác
của Cao Duy Sơn nó lại mang một nét đặc trưng riêng .
Cảm hứng lãng mạn trong tác phẩm của Cao Duy Sơn không chỉ nằm trong
đoạn hay từng câu chữ văn, mà nó hiện hình trong tổng thể tác phẩm. Hoa bay
cuối trời là một truyện ngắn hay, một câu chuyện tình yêu lãng mạn đầy bi kịch.
Tưởng chừng những chi tiết chỉ thể hiện cho cho diễn biến nội tại một cách ngẫu
nhiên “Hãy đợi anh, anh sẽ nhờ người trở lại Pác Gà đón em về làm vợ trên
chiếc xe ngựa do chính tay anh đóng”(14, 97) lại báo trước bi kịch của câu
chuyện tình không có hồi kết có hậu. Vì bệnh tật, Dình biết mình sẽ không còn

nhà văn cần có sự lựa chọn, đối với thể loại truyện ngắn công việc này càng đòi
hỏi khắt khe hơn. Bởi tính chất truyện ngắn yếu tố đầu tiên là phải viết thật ngắn
nên việc tiết giản câu chữ, chi tiết cần phải được tính toán. Việc đưa bất cứ chi
tiết nào vào trong tổ chức truyện cũng cần phải được cân nhắc và phải giải quyết
nó như một sự bắt buộc. Trong truyện ngắn Hoa bay cuối trời của Cao Duy
Sơn, tác giả đã đưa chi tiết chiếc xe ngựa vào phần đầu truyện là có dụng ý. Chi
tiết tưởng rất đỗi bình thường mà hoá ra có chủ định cho phần kết truyện. Vừa
say mê, vừa tỉnh táo trong phút thăng hoa tác giả đã cho xuất hiện trở lại hình
ảnh chiếc xe ngựa vào phần cuối truyện đã mang lại hiệu quả bất ngờ. Đến đây
người đọc chợt thấy dâng lên trong lòng nỗi buồn, một nỗi buồn xa xăm giống
như một tiếng thở dài, gợi tâm tưởng suy ngẫm về số kiếp con người: “Lão Khơ
đánh xe đi về phía chân núi Phjia Đán, nơi có con suối và những cây đào cổ thụ
đang trút lá vàng, trên xe đôi cánh tay người đàn bà chợt thõng xuống hai bên
ghế. Một chiếc vòng đồng cuốn vải đỏ chợt rơi xuống mặt sàn. Sau hai vòng
15
quay nó khẽ kháng nằm xuống nem nép khiêm nhường như một a hoàn….Khuôn
mặt bà vẫn tươi như một bông đào, một bông đào đang ngủ trong tiết cuối thu.
dường như bà đã đem theo vào giấc ngủ một tâm trạng vui, niềm vui trong ngày
cưới không phù dâu, phù rể sóng bước hai bên chiếc xe ngựa do chính tay lão
Khơ đóng cách đây đã mấy mươi năm, chưa một lần lăn bánh, chưa một lần có
ai ngồi lên đang đưa bà đi về cuối chân trời.”(14, 118 - 119)
Cảm hứng lãng mạn xen với cảm hứng bi kịch người đọc còn gặp lại trong
truyện Chợ tình của Cao Duy Sơn. Truyện ngắn chứa đựng yếu tố nhân văn sâu
sắc viết về một mối tình xuyên suốt gần một kiếp người đã để lại những cảm xúc
sâu lắng. Có thể nói Chợ tình là một bài thơ tình lãng mạn, một câu chuyện tình
vượt thời gian, không gian mang đến cho người đọc sự rung động và cảm nhận
xót xa về tình yêu. Hình như trên cuộc đời này đâu đó cũng đã từng có những
mối tình như Sinh và Ếm. Họ đi tìm nhau gần một kiếp người ở phiên chợ phong
lưu, nơi hai người đã gặp nhau và trao nhau mối tình đầu, một câu chuyện tình
như một khúc ca buồn của người miền núi . Người đọc bỗng chạnh lòng khi

người? Cho dù người đó ở lứa tuổi nào, hoàn cảnh nào trước tình yêu đều một
cảm xúc như nhau, đều rung động và đắm say như nhau:
“- Ếm à, có mệt thì ngả vào anh nghỉ một chút đi!
- Không mệt đâu Sinh à, năm nay tôi thấy tay của Sinh cầm đũa run lắm rồi.
- Đừng lo, mùa đông năm nay tôi còn lặn sông bắt cá đấy!
Mú Ếm vờ nghiêng đầu nhổ bã trầu, kỳ tình mú tránh đi cái miệng cười. Sinh
đâu còn sức như hồi trẻ? Chỉ là cách nói khoe cái sức ngày xưa thôi. Người già
vẫn thường thế…Thôi chẳng cần nói thêm gì, Ếm vẫn thương Sinh và nhớ Sinh
lắm! Chỉ cần được ngồi bên nhau chẳng cần nói gì cũng đã thấy hạnh phúc lắm
rồi Sinh à…” (14, 74). Biết Ếm không còn nữa, lão Sinh đã tự sắp mâm cơm
giữa rừng, một bữa cơm thanh đạm và giản dị như tình người miền núi, rồi gọi
tên nàng với nỗi xót thương: “Về a Ếm ơi! Anh biết em bỏ anh khác đi một mình
rồi, anh đâu dám trách Ếm. Ba xuân rồi anh đến mà không còn được gặp em,
anh biết em nghe được lời anh nói. Anh mua bát canh ngon này cho em ăn, anh
thả cơm nắm vào canh cho em làm rau, anh biết Ếm thường thích ăn như thế…
17
Bây giờ thế này thôi, chợ từ nay không có chúng mình nữa, không có em không
còn chợ…đôi giày này đây, anh đã đem theo bên mình bằng cả mười lăm đời
ngựa. Giày này tay em khâu, anh chỉ đi cho một mình em nhìn thấy, giờ không
có em anh đi cho ai ngắm đây? Bây giờ anh gửi nó theo em.
Lão run run bật diêm. Đôi giày bén lửa bốc cháy. Ánh lửa vàng như những vũ
công cong mình nhảy nhót trên tay…”.( 14, 79) Nhiều nhà nghiên cứu phê bình
văn học cho đây là đoạn văn hay nhất của Chợ tình, nó thống thiết ma mị như
vọng lên từ lòng đất, là tiếng nói cất lên từ sâu thẳm tâm hồn khi con người đối
diện với giới hạn kiếp sống. Có thể nói nó thể hiện đầy đủ nhất tính chất bi kịch
của tác phẩm. Cái hay trong mỗi tác phẩm viết theo cảm hứng này chính là phần
kết của truyện. Không rườm rà, không đao to búa lớn, cũng không uỷ mị sướt
mướt Cao Duy Sơn đã dẫn người đọc theo một mạch cảm hứng thấm đẫm tiếc
nuối bâng khuâng: “Từ năm sau cái Nhin bán bún và mọi người ở chợ tình Âu
Lâm không còn thấy lão Sinh. Không hiểu lão đi đâu? Dân cùng bản lão nói, từ

những ngày mới rời quân ngũ. Nỗi khao khát được gặp lại người yêu như ngày
đông lạnh giá gọi mặt trời đầy nắng. Thim từ chối mọi chức vụ, tình nguyện làm
người bưu tá, một chân đưa thư báo về các thôn bản, một công việc nặng nhọc
vất vả chẳng ai muốn nhận, chỉ mục đích: “…Giấu trong mình một niềm hy
vọng, niềm hy vọng này sẽ vĩnh viễn không rời xa khỏi ý nghĩ mình nữa. Có thể
điều bất ngờ tìm thấy bóng dáng xưa sẽ không đến với anh, nhưng dẫu sao như
thế vẫn hơn….Và thế là Thim đã đóng chặt tất cả những cánh cửa của lòng
mình và chỉ để ngỏ một lối duy nhất cho tình yêu ban đầu ấy vĩnh viễn tồn tại,
lấp ló một đốm sang vĩnh cửu. Đã hơn ba mươi năm tìm kiếm qua đi nhưng cái
đốm lửa nhỏ nhoi đó vẫn bỏng rát trong lòng” (12, 27). Đọc những trang văn
của Cao Duy Sơn độc giả như cùng thổn thức với những mất mát và khát vọng
tình yêu cháy bỏng của nhân vật. Nhân vật của ông vạm vỡ, cá tính mạnh mẽ
song trong tình yêu lại khổ đau và lãng mạn vô cùng. Ông viết mà như trải lòng
mình, lòng người nghệ sỹ thấm niềm vui, nỗi buồn cả những bất hạnh của nhân
vật do mình tạo ra. Những nhân vật xuất hiện trong tác phẩm của ông người đọc
có cảm giác nó như còn đâu đó trên cuộc đời này. Nó cần được yêu thương và
cảm thông với một tình yêu con người với con người. Và trên hết phải biết nuôi
19
hy vọng vào tình yêu thuỷ chung son sắt như chàng Thim với Phón trên con
đường ba mươi năm đi tìm cố nhân: “Ông không nhớ đã hỏi ai, ai đó đã chỉ cho
ông ngôi nhà phía cuối bản. Ông lại chợt phân vân “Có thể là sự trùng lặp
chăng, và đứa con nữa, là con ai, sao lại mang họ mẹ, con nuôi hay con riêng?”
Một loạt những câu hỏi lao vào đầu ông châm chích nhưng vô ích. Không, ông
không cần biết điều đó, vì trong ông cái linh cảm ông nén hơn ba mươi năm nay
có gì đó ông tin là sẽ không nhầm. Ngôi nhà hiện ra trước mắt ông, cánh cửa
khép hờ như suốt ba mươi năm nay vẫn khép hờ như vậy, chờ ai đó đến mở ra”
(12, 27).
Trên cuộc đời này liệu có một tình yêu nào như thế, thuỷ chung son sắt bi
thương và lãng mạn đến không tưởng. Một người đàn ông dành trọn cả cuộc đời
đi tìm lại tình yêu đã mất, nó chỉ có thể tồn tại trong những tác phẩm văn học

tiết mẹ chồng Líu buộc thừng rồi đánh trâu kéo đổ kềnh chiếc cối đá mà hàng
đêm Líu thường lấy làm điểm đặt chân thoát ra khỏi ngôi nhà sàn đi theo tiếng
gọi tình yêu, đêm đó chính tay bà đã dùng chiếc gậy từng lập công đánh cướp
giữ làng của dòng tộc để lại quất lên thân thể đứa con dâu hư đốn. Đây chính là
chi tiết hay nhất, đắt nhất của truyện. Sự dồn nén của những mâu thuẫn được
đẩy cao càng làm nổi bật nét đẹp của Líu, bất chấp mọi ngăn cản, cả khi thân thể
bị hành hạ đau đớn nàng vẫn quyết chạy đến với Sín, chạy đến với hạnh phúc
của đời nàng. Có thể nói việc ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ đã từng có rất nhiều
nhà văn viết, nhưng Cao Duy Sơn lại có những nét đặc trưng riêng. Ông viết về
vẻ đẹp người phụ nữ miền núi với tất cả sự cảm thông và hiểu biết sâu rộng cả
về phong tục tập quán của người Tày, cả về tính cách thầm lặng mà nhân hậu
của người phụ nữ dân tộc, dịu dàng kín đáo những cũng thật mạnh mẽ quyết liệt.
Ngoài Líu trong Góc trời tây có cơn mưa đá ta còn có thể bắt gặp nhân vật Lơ
trong Những đám mây hình người, một mẫu nhân vật cùng nằm trong cảm
hứng ngợi ca của tác giả. Một cô gái do số phận đưa đẩy bỗng chốc bị cuốn vào
kiếp buôn phấn bán hoa ở một phố thị miền núi. Gặp lại người mình yêu sau
mười năm xa cách, nàng âm thầm vui sướng nhưng cũng thật đau khổ, nhưng vì
yêu, vì nghĩ mình không còn xứng đáng nàng gắng vượt qua nỗi sợ hãi thổ lộ
với người tình những chuyện xấu của bản thân, và cũng không giấu giếm rằng
21
lòng còn nặng tình cũ, nhưng phận nay nhơ nhuốc, nhân phẩm không cao bằng
ngọn cỏ đâu còn dám mơ cao. Dù đã đẩy nhân vật đến tận cùng của xấu xa tội
lỗi nhưng hình ảnh tâm hồn Lơ dưới ngòi bút tác giả vẫn thấp thoáng chất con
người, thấp thoáng một tâm hồn chung trinh nhân hậu: “Dù trên thân thể này có
dính mồ hôi của vài trăm gã đàn ông những lòng vẫn chỉ hướng về một người
thôi” (13, 63). Giọng văn trôi dần về cuối chuyện thấm đẫm tình thương mến,
thương mến một thân phận phụ nữ do hoàn cảnh mà tự vùi dập cuộc đời mình.
Điều mà bạn đọc nhận thấy ý đồ tác giả có lẽ là ở cách đặt vấn đề, khi con người
ta nhơ nhuốc chắc gì tự người ta làm nhơ nhuốc bản thân, cũng có thể do sự đời
xô đẩy, người đời đã vô tình vấy bẩn lên họ khiến cho cuộc đời họ không thể

nghèo khó sống trong những gia đình bất hạnh đã nhận được mối quan tâm
chăm sóc thầm lặng của ông. Bên cạnh cuộc sống no đủ của nhiều gia đình vẫn
còn có những số phận bất hạnh thiếu thốn, đó là thực tế của đời sống xã hội hiện
nay. Đọc xong Người ở muôn nơi của Cao Duy Sơn độc giả như được nếm một
món quà chát đắng khi thực tế cuộc đời còn đầy rẫy những bất công, nhưng
cũng thật ấm lòng khi vẫn còn những tấm lòng như lão Sấm.
Trong những truyện ngắn Nơi đây không một bóng người, Thằng Hoán,
Tượng trắng hay Ngôi nhà xưa bên suối những nhân vật thánh thiện giàu lòng
nhân ái tái hiện như một vệt cảm hứng sáng tạo liên tục trong suốt hơn hai mươi
năm cầm bút của Cao Duy Sơn. Nếu nói văn là người thì rõ ràng trong tâm hồn
tác giả những nhân vật này luôn được ông dành những tình cảm thiết tha, những
khát vọng cháy bỏng về một thế giới người với người cùng chung sống trong sự
hoà hợp, thân ái. Mỗi khi ngòi bút chạm đến nỗi đau tâm hồn, thể xác nhân vật,
người đọc cảm nhận tác giả như đắm sâu vào từng trang viết với tất cả nỗi niềm
xúc động, yêu thương chân thành của tình người nghệ sỹ. Truyện ngắn Tượng
trắng mang một cảm xúc như thế. Có thể nói Tượng trắng là một tuyên ngôn
nghệ thuật của nghệ sỹ tôn vinh cái đẹp thánh thiện và luôn đứng về phía thế
giới khổ đau. Thái độ và tình cảm đó được khái quát qua hình tượng của chàng
trai duy nhất lành lặn sống giữa một làng hủi, một vùng quê rừng núi cô đơn
giữa mênh mông vũ trụ. Nhiều lúc ý nghĩ bỏ làng để đi theo tiếng gọi tình yêu
đôi lứa đã cắn xé trái tim chàng. Nhưng giữa những bộn bề công việc, tình
23
thương và trách nhiệm với những thân phận tật nguyền, những con người đã cứu
vớt cuộc đời chàng, chỉ cho chàng thấy con đường mình đi trên cõi đời chàng
không thể bỏ mặc họ bởi ý nghĩ: Mọi người đều trông vào ta như trông vào một
con thuyền giữa mênh mông biển khơi, nếu như lúc này ta buông tay con thuyền
chắc gì còn nổi nênh. Rồi ngày ngày tình yêu và nỗi khổ đau vì thương nhớ
người con gái “đẹp như một vầng trăng thu” vò xé trái tim chàng, cùng với lòng
quý trọng những thân phận tật nguyền đã biến thành nguồn cảm hứng dồn vào
đôi bàn tay khéo léo để chàng tạc nên những hình mặt người dị tật trên những

Làn Dì chết lặng…thằng Mìn bỗng lùi lại sợ hãi. Đôi mắt nó đỏ nọc. Nó quay
người bước về phía Hoán. Thấy pa nó đứng rũ như một cái xác, tay vẫn nắm
chạt ngọn tre đầy gai, từ khoé mắt nó bỗng trào ra hàng lệ mặn chát. Nó nấc
lên nghẹn ngào:
- Pa ơi, ta vaò nhà đi…” (12, 77).
Trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn, ở những nhân vật thánh thiện và đầy
lòng nhân ái, cuộc đời họ luôn phải đương đầu với những nỗi bất hạnh. Sự bất
hạnh cứ liên tiếp giáng xuống cuộc đời ông giáo Hạc (Ngôi nhà xưa bên suối)
một người con gốc Hà Nội tình nguyện lên miền núi dạy học vì sự nghiệp trồng
người. Ông giáo Hạc cứ lặng lẽ sống, không quá vồn vã khi người ta giao lại
ngôi nhà bên suối cho ở tạm vào lúc mình đang bơ vơ như một kẻ vô gia cư.
Ông cũng không đến nỗi oằn mình khi người ta cố chụp lên đầu ông một “cái
thai” của cô học trò, về sau còn là đồng nghiệp của ông. Và cũng vì chuyện này
người ta đã cho ông “về vườn” theo cả nghĩa đen. Ông chỉ lặng lẽ làm vườn
theo sự phân công của nhà trường. Đến khi cái mảnh vườn thực nghiệm mà thầy
Hạc có sáng kiến định dành cho học sinh tham quan như một thứ giáo cụ trực
quan môn sinh học, thì chẳng còn ai nhớ công vun trồng của thầy. Rồi ngay cả
đứa con nuôi mà thầy hết lòng yêu thương, chăm bẵm , coi nó như con đẻ cuối
cùng cũng bị mẹ nó đón đi. Thầy vẫn chịu đựng và khuyên con theo mẹ dù lòng
thầy đau như sát muối, lưng thầy còng xuống tưởng chừng như không thể chịu
nổi mất mát đó. Nhưng cái hay nhất của Ngôi nhà xưa bên suối chính là cái
tưởng như không thể mà lại có thể. Đó là sự chịu đựng vượt quá sức của con
người. Cao Duy Sơn đã dồn nén cho nhân vật thầy giáo Hạc những sự kiện, biến
25

Trích đoạn Con người với những mất mỏt lớn Con người tha hoỏ và sỏm hố Con người bản năng Cốt truyện truyền thống Tỡnh huống truyện độc đỏo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status