PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
1.1. Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác
nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả,
một trào lưu). Bản thân nó nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới
riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại
vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới
ấy. Tìm hiểu tác phẩm văn học qua góc nhìn thế giới nghệ thuật sẽ tránh được
cách đánh giá theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tượng với các
yếu tố sự thực đời sống riêng lẻ, mà phải đánh giá trong chỉnh thể của tác
phẩm, xem xét tính chân thực của tư tưởng chỉnh thể của tác phẩm so với
chỉnh thể hiện thực. Hướng nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta khám phá được
một cách toàn vẹn vẻ đẹp của tác phẩm văn chương từ nội dung và đặc biệt là
hình thức nghệ thuật – thứ phân biệt nó với các loại hình nghệ thuật cũng như
các dạng văn bản ngôn từ khác.
1.2. Văn học Việt Nam từ sau năm 1975, đặc biệt là từ Đại hội Đảng VI
(1986) đã có những bước chuyển mình to lớn về mọi mặt. Góp phần không
nhỏ vào sự thành công này phải kể đến một đội ngũ ngày càng đông đảo các
nhà văn nữ. Trong số họ có không ít người đã sống và sáng tác từ trước năm
1975 như: Dạ Ngân, Lê Minh Khuê,…Nhưng đặc biệt phải kể đến một số
lượng ngày càng lớn những cây bút nữ trưởng thành và sáng tác sau năm
1975, nhất là từ năm 1986 trở đi. Có thể nhắc đến những cái tên nổi bật như
Nguyễn Thị Thu Huệ, Thùy Dương, Trầm Hương , Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân
Hà hay những tác giả còn rất trẻ sau này là Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc
Tư, Di li, … Chính họ đã góp phần rất quan trọng cho những thành công của
văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới với sự tìm tòi đổi mới không ngừng từ đề
tài, chủ đề đến cách thức thể hiện.
1
1.3. Võ Thị Xuân Hà hiện nay thuộc trong số những cây bút nữ tiêu
biểu của văn học Việt Nam đương đại. Dù mới chỉ xuất hiện trên văn đàn vào
cuối những năm tám mươi của thế kỉ trước, nhưng với niềm đam mê văn
Kịch bản điện ảnh của Hãng phim truyện Việt Nam (1997), giải khuyến khích
Kịch bản điện ảnh 2000 của Cục điện ảnh Việt Nam (1999), giải khuyến
khích Kịch bản điện ảnh của Cục điện ảnh (2002).
Như trên đã nói, ngoài một tập truyện dài và hai cuốn tiểu thuyết đã
xuất bản, Võ Thị Xuân Hà chủ yếu sáng tác truyện ngắn. Và cũng chính thể
loại này đã đem lại thành công hơn cả cho chị (Với những giải thưởng như
đã nói ở trên). Ở Xuân Hà có cái đằm thắm, tinh tế của người phụ nữ gốc
Huế, cái nhân hậu của một người vốn xuất thân là giáo viên, cái sắc sảo của
một nhà báo chuyên nghiệp, tầm bao quát, khả năng tổ chức nghệ thuật của
một nhà biên kịch điện ảnh, cộng với tài năng và tình yêu với nghề, tất cả
những điều này đã góp phần tạo nên những trang viết ấn tượng, tạo được sự
hấp dẫn của chị. Đọc văn chị ta thấy một hiện thực cuộc sống bề bộn với sự
trộn lẫn của những gam màu sáng tối. Điều chú ý nữa là những nội dung trên
được thể hiện bằng một văn phong vừa tinh tế, giản dị lại cũng không kém
phần bạo liệt. Cộng với đó là sự đổi mới không ngừng về đề tài, cảm hứng
lẫn bút pháp,…Tất cả những điều này đã tạo nên một Võ Thị Xuân Hà với
những nét riêng khó lẫn trong dòng chảy chung của mảng truyện ngắn của
văn học nước nhà.
Vì những lí do trên, người viết chọn đề tài Thế giới nghệ thuật truyện
ngắn Võ Thị Xuân Hà với mục đích tìm hiểu một cách tường tận hơn những
giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà để phần nào thấy được
những nét đặc sắc của cây bút này, qua đó ghi nhận sự đóng góp của chị cho
mảng truyện ngắn nói riêng và cho nền văn học nước nhà nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Võ Thị Xuân Hà chính thức bước vào nghề với tập truyện ngắn Vĩnh
biệt giấc mơ ngọt ngào (NXB Văn học – 1992), cũng từ đây, dấu ấn sáng tác
của chị trong lòng độc giả và giới phê bình ngày càng rõ nét. Điều này được
3
thể hiện qua một loạt các bài phê bình về truyện ngắn (cũng như các sáng tác
nói chung) của chị trên các báo viết, báo mạng.
tha nhưng cũng ích kỷ, rất tự tin nhưng cũng dễ bị cám dỗ. Bởi họ bị ám ảnh
bởi một quá khứ mông lung, một tương lai đầy bất trắc”.
Cũng nói về hình tượng nhân vật phụ nữ trong sáng tác Võ Thị Xuân Hà,
tác giả Hà Phạm Phú trong bài Ngôi nhà gương của Võ Thị Xuân Hà (22) có
viết: “Những người đàn bà của Võ Thị Xuân Hà không có một làng quê
chung rõ rệt, kẻ thì ở miền biển người thì ở miền rừng, người thì trong thành
phố Những người đàn bà ấy cười nói, đi đứng, yêu đương vụng trộm, sung
sướng và căm giận không hiểu sao lại làm cho lòng ta xáo động, đánh thức
nỗi buồn chìm sâu và ngủ yên trong đáy tim mình từ bao năm, êm ái lan toả,
thấm dần vào từng huyết quản”. Và “Thế giới đàn bà của Hà là một thế giới
riêng, không lẫn vào ai. Những người đàn bà của chị hình như cũng là sự xáo
trộn giữa cái tốt và cái xấu, đầy lòng vị tha nhưng cũng ích kỷ, rất tự tin
nhưng cũng dễ bị cám dỗ, sống yên phận nhưng lại không chịu yên với số
phận đã an bài. Một người phụ nữ là một bí ẩn”.
Nhà văn Võ Thị Xuân Hà từng khẳng định: “Trẻ thì phải có tính khai
phá, thử nghiệm” (Thể thao và Văn hóa, 16-10-2009). Nói về tuổi đời, chị quả
thực cũng không thể được gọi là trẻ nữa, nhưng nhiệt tình sáng tạo, tự làm
mới mình thì lúc nào cũng hừng hực ở người phụ nữ này. Điều đó đã được
nhà phê bình văn học Hạnh Đỗ khẳng định khi đề cập đến một trong những
tác phẩm rất đáng chú ý trong văn nghiệp của Võ Thị Xuân Hà – Cà phê yêu
dấu. Theo Hạnh Đỗ “Truyện ngắn này cũng mở đầu cho một giai đoạn sáng
tác mới của Võ Thị Xuân Hà: lời văn dễ thương, những câu chuyện nhẹ
nhõm, đời thường và lâng lâng những mối tình tưởng chỉ chạm nhẹ tay là vỡ.
Tuy nhiên cũng là một giai đoạn sống và sáng tác kiệt lực với những tác phẩm
đa chiều về lối viết và có ma lực hấp dẫn người đọc, đôi truyện đến độ kỳ ảo,
hấp dẫn đến rùng mình (như chùm 3 phần của truyện ngắn Chuyện của con
gái người hát rong (24). Tuy vậy, sáng tạo nhưng Xuân Hà vẫn giữ được
những nét riêng vốn có của mình. Về điểm này, dịch giả, nhà phê bình Cao
Việt Dũng viết: “Về sau này, giọng văn của Võ Thị Xuân Hà vẫn giữ nguyên
5
6
của chị ngắn gọn, nhiều thông tin, không hề có ý định làm văn”. Còn về
phương diện nội dung chị cho rằng: “Phần sáng của thế giới tối đen đó chính
là những nhân cách người, những gì tốt đẹp còn sót lại sau những thăng trầm
của cuộc sống. Nhà văn không lạc quan hóa, không ảo tưởng hay biện giải gì
cho những con người ít nhiều đã lầm lạc. Nhưng chị nhận thấy rằng, họ vẫn
mong một công việc chân chính (Con đường vô tận), một mái ấm gia đình
(Thiên thần nhỏ), một người con nối dõi (Cõi người) Và đó, ít nhất, đều là
những ước mơ hướng thiện” ().
Trẻ em là đề tài có sức thu hút rất lớn với Võ Thị Xuân Hà khi chị đã
có đến ba tập truyện ngắn. Gần nhất là tập Tiếng gà gáy trong rừng hoa arui.
Trong phần giới thiệu về tập truyện này, tác giả Lê Huệ cho rằng một trong
những điểm đáng chú ý hơn cả là ở “Cách kể chuyện tự nhiên, nhẹ nhàng, dễ
hiểu, cùng với cốt truyện giản đơn, và sự thấu hiểu cuộc sống nơi núi rừng,
sông nước, đặc biệt là thấu hiểu tâm lí trẻ con của tác giả khiến cho những câu
chuyện gần gũi, dễ thương như chính các nhân vật đó” (evan.Baomoi.com -
28/07/2010).
Trong sự nghiệp sáng tác khá dày dặn của Võ Thị Xuân Hà, Lúa Hát là
một truyện ngắn tiêu biểu và gây được sự chú ý nhiều của giới phê bình và
độc giả. Nhận xét về thiên truyện này, nhà lý luận, phê bình Văn Giá có nói:
“Lúa Hát là một áng văn đẹp. Câu chuyện về một phụ nữ nông dân chân chất
hồn hậu với gia đình của mình, với tục lệ của làng quê gắn bó với đồng lúa.
Cuộc đời của họ dung dị như đất và lúa”. Và theo Văn Giá, truyện ngắn này
hấp dẫn không chỉ bởi sự trong sáng của nội dung mà còn bởi cái hồn riêng
mà Xuân Hà tạo ra cho tác phẩm: “Lúa Hát với không khí truyện và cách
dùng ngôn từ trong trẻo, đã tạo nên một tác phẩm về nông thôn Việt Nam
điển hình.” Chính vì làm được điều này, nên theo quan điểm của nhà phê
bình, tác giả họ Võ đã tạo nên một “kỳ tích”: “Nhiệm vụ của nhà văn là phải
làm đẹp cho câu chữ của dân tộc. Võ Thị Xuân Hà, với Lúa Hát đã làm nên
được kỳ tích đó.” (18).
giả này. Đây chính là khoảng trống mà đề tài của người viết hướng tới. Tuy
8
vậy, vẫn có thể khẳng định những bài viết đã nêu trên là những gợi ý rất quý
báu cho người viết trong quá trình thực hiện luận văn này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị
Xuân Hà với các vấn đề cơ bản: Cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn Võ
Thị Xuân Hà, quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Võ Thị
Xuân Hà, một số đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là truyện ngắn của nhà văn Võ Thị Xuân
Hà. Tuy nhiên, do riêng về mảng truyện ngắn, Võ Thị Xuân Hà đã có một
khối lượng lớn với hơn mười tập (Như đã liệt kê ở phần Lý do lựa chọn đề
tài) nên trong khuôn khổ chuyên luận này, người viết sẽ chỉ tập trung vào một
số tập truyện sau:
Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà (NXB Phụ nữ - 2002).
Chuyện của con gái người hát rong (NXB Hội nhà văn – 2006).
Thế giới tối đen (NXB Phụ nữ - 2008).
Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí (NXB Hội nhà văn – 2009).
Hơn nữa, để có một cái nhìn bao quát, trọn vẹn về thế giới nghệ thuật
trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, người viết có liên hệ, so sánh với thể loại
tiểu thuyết của nhà văn cũng như so sánh với truyện ngắn của một số các tác
giả cùng và khác thời.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu sau đây:
4.1. Phương pháp thống kê, phân loại
9
Phương pháp này sẽ giúp việc tìm hiểu, phân loại các kiểu loại nhân
ngữ này. Theo Từ điển thuật ngữ văn học (7, tr38) thì cảm hứng chủ đạo
(Cảm hứng nghệ thuật) là “Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt
tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất
định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm”. Sự
đánh giá ở đây được thể hiện qua thái độ của tác giả khi ngợi ca cái tốt, cảm
thông với sự bất hạnh, căm thù, phê phán, mỉa mai cái xấu. Còn với Bê-lin-
xki - nhà lý luận văn học Xô Viết – ông cũng đã nhận thức được vai trò quan
trọng của cảm hứng nghệ thuật trong sáng tạo văn học nghệ thuật. Ông coi
cảm hứng nghệ thuật là “điều kiện không thể thiếu được của việc tạo ra những
tác phẩm đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần tuý trí óc đối với tư
tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng
nhiệt thành”(7, tr39). Có nghĩa là nhờ có cảm hứng nghệ thuật mà văn bản
ngôn từ biến thành một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ theo đúng nghĩa của nó,
tức là ngoài tính hình tượng ra thì nó còn có những tư tưởng, xúc cảm thẩm
mỹ. Đây chính là điều kiện tiên quyết phân biệt tác phẩm văn học với các văn
bản ngôn từ thuần túy khác.
Cũng như một số khái niệm khoa học khác, khái niệm cảm hứng nghệ
thuật có quá trình hình thành, phát triển và sự giới hạn nội hàm nhất định.
“Thuật ngữ cảm hứng chủ đạo (cảm hứng nghệ thuật) lúc đầu chỉ yếu tố nhiệt
tình, say sưa diễn thuyết, sau chỉ trạng thái mê đắm khi xuất hiện tứ thơ. Về
sau lý luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nội
dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được
mô tả” (7, tr39). Như vậy, cảm hứng chủ đạo đã ngày càng thâm nhập sâu vào
thế giới nghệ thuật song song với quá trình điều chỉnh nhận thức của khoa học
11
lý luận văn học. Cụ thể, cảm hứng nghệ thuật tối kỵ thể hiện thành những
phát ngôn trực tiếp trong tác phẩm mà nó chính là thứ tình cảm vô hình khi
độc giả bằng sự nhập tâm trọn vẹn vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm mà
nhận ra. Tức, cảm hứng nghệ thuật có thể ẩn mình trong thế giới nhân vật, cốt
truyện với hệ thống các sự kiện, chi tiết, qua thời gian nghệ thuật, không gian
chúng; nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Tóm
lại, nền văn học này tuyệt đối hóa vai trò, quyền lợi của cộng đồng. Và cũng
vì vậy, cảm hứng sử thi đóng vai trò tuyệt đối. Đọc sáng tác của các nhà văn
trong thời kỳ này, ta sẽ thấy rất rõ điều đó.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc
chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai giành được thắng lợi hoàn toàn, đất nước
thống nhất. Nhưng hoàn cảnh thời bình này lại nảy sinh những vấn đề mới vô
cùng phức tạp mà thời chiến tranh không có. Bên cạnh đó, từ năm 1975 đến
1985, do hậu quả chiến tranh cùng sự khủng hoảng của hệ thống XHCN ở
Đông Âu và Liên Xô nên đất nước ta lại gặp những khó khăn rất lớn mà chủ
yếu về mặt kinh tế. Tình hình này đặt ra một yêu cầu cấp thiết là phải đổi mới.
Nghị quyết của Đại hội VI (năm 1986) đã chỉ rõ đổi mới là nhu cầu bức thiết,
là vấn đề có ý nghĩa sống còn của dân tộc. Từ năm 1986, với công cuộc đổi
mới do Đảng cộng sản lãnh đạo, kinh tế đất nước từng bước chuyển sang nền
kinh tế thị trường, văn hóa cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nền văn
hóa nhiều nước trên thế giới. Hiện thực cuộc sống mới này là nguồn đề tài thú
vị để các nhà văn khám phá. Hơn nữa, về mặt tư tưởng, họ lại được “cởi trói”
bởi Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VI đã khẳng
định người nghệ sĩ được quyền và có nhiệm vụ “nhìn thẳng vào sự thật, đánh
giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Tất cả những yếu tố trên góp phần làm cho
văn học Việt Nam thời kỳ này có sự đổi mới thật toàn diện: “Nhìn chung, văn
học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX đã vận động theo hướng dân
chủ hóa, mang tính nhân bản, nhân dân sâu sắc. Văn học phát triển đa dạng
hơn về đề tài, chủ đề; phong phú và mới mẻ hơn về thủ pháp nghệ thuật. Văn
học giai đoạn này đã đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn
nhận, cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống, đã khám phá con người
13
trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, thể hiện con người ở nhiểu
phương diện đời sống, kể cả đời sống tâm linh. Cái mới của văn học giai đoạn
này là tính chất hướng nội, quan tâm nhiều hơn đến những số phận cá nhân
mỡ cho các nhà văn Việt Nam khai thác. Có điều này, bởi giờ đây văn học
tập trung khai thác sâu con người cá nhân trong cuộc sống đời thường với
những mưu sinh khó nhọc, những toan tính nhiều khi rất nhỏ nhen, tủn
mủn. Và cũng chính từ đây làm nảy sinh những nghịch cảnh trái ngang mà
thật hài hước. Điều này khiến cho con người được nhìn nhận một cách
chính xác và toàn diện hơn, thật hơn. Nói như Nguyễn Minh Châu, bên
trong con người vừa có phần thiên thần lại vừa có cả phần ác quỷ. Những
điều này ta thấy rất rõ khi đọc các tác phẩm của Nguyễn Khải (Lạc thời,
Nắng chiều, Một người Hà Nội,…), Nguyễn Huy Thiệp (Không có vua,
Những người thợ xẻ,…), Nguyễn Minh Châu (Chiếc thuyền ngoài xa,
Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát).
Văn học giai đoạn 1945 – 1975 là văn học mang khuynh hướng sử thi
nên giọng điệu trang nghiêm, thành kính chiếm ưu thế. Nhưng sau năm 1975,
đặc biệt từ năm 1986 trở đi, cảm hứng trào lộng xuất hiện với mức độ ngày
càng đậm đặc. Nguyên nhân của hiện tượng này là do tính dân chủ trong văn
học đã được đề cao, các nhà văn có thể tự do thể hiện quan điểm cá nhân của
mình về tất cả các vấn đề trong xã hội, trong đó có cả những vấn đề trước kia
bị coi là cấm kị, nhạy cảm. Điều này đã được Nguyễn Khải, Nguyễn Huy
Thiệp, Lê Lựu hay Hồ Anh Thái thể hiện một cách đầy ấn tượng.
Cảm hứng triết luận cũng được các nhà văn sau 1975 chú ý. Có những
người bộc lộ trực tiếp điều này trong tác phẩm như Nguyễn Khải (Lạc thời,
Luật đời, Gặp gỡ cuối năm,…), còn nhiều nhà văn khác như Nguyễn Huy
Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thị Thu Huệ,… lại chọn cách thể hiện
trừu tượng, ẩn ý để người đọc cùng suy ngẫm.
3. Cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
15
Như trên đã nói, Võ Thị Xuân Hà là một người có tình yêu văn chương
sâu sắc lại cộng thêm năng khiếu vốn có cùng sự tìm tòi, sáng tạo không
ngừng nên sáng tác của chị vừa mang phong cách riêng, nhưng cũng luôn đổi
mới và có sự đa dạng về lối viết. Nói riêng về cảm hứng nghệ thuật, qua
cho đất nước về kinh tế và mọi mặt của đời sống xã hội, mức sống của người
dân được nâng lên. Tuy nhiên, những hệ lụy, hậu quả của nó đem lại cũng
không hề nhỏ.
Vì lợi ích kinh tế trước mắt, ở nhiều nơi, nhiều lúc người ta sẵn sàng
đánh đổi bằng sự ô nhiễm môi trường, sự phá hủy những cảnh quan thiên
nhiên mà hàng triệu năm mới có được. Đây là một vấn đề rất đáng lo ngại mà
báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên phản ánh. Dưới
con mắt và bằng cách phản ánh một cách có nghệ thuật của nhà văn, Xuân Hà
cũng đề cập đến hiện tượng này qua Đá núi với một nỗi lòng đau xót như
chính bản thân mình đang bị mất từng phần cơ thể. Cái núi Tượng ấy, theo lời
nhân vật Trường, chính là “một tạo vật vĩ đại nhất của thiên nhiên”. Ấy thế
mà giờ đây, chỉ vì nhu cầu lấy đá xây dựng, người ta sẵn sàng cho nổ mìn, rồi
hàng đoàn xe đêm ngày vào chở đá. Trái núi đẹp đẽ là thế mà giờ đây chỉ còn
là “những vạt đá hoang trơ trọi”. Và nhân vật ý thức một cách đau xót: “thế
hệ sau rồi phải gánh nợ cho mà xem”, bởi “không có thiên nhiên, cây cỏ thì
con người cũng không thể sống yên ổn được”. Những trận lũ khủng khiếp với
sự thiệt hại ghê gớm về người và của trong những năm qua ở Việt Nam cũng
như thế giới là một minh chứng sống động nhưng vô cùng đau xót cho sự vô
tâm của con người với thiên nhiên.
Nếu Đá núi đề cập đến vấn đề ô nhiễm môi trường, phá hủy cảnh quan
thiên nhiên thì các truyện Nhà có ba chị em, Cây bồ kết nở hoa, Kẻ đối đầu,
Mùa phim trường,…lại được Võ Thị Xuân Hà tập trung vào việc phê phán lối
sống quá thực dụng của không ít người trong xã hội.
Trong truyện Nhà có ba chị em, nhân vật cô út tên Hồng là một
người như thế. Để có tiền, Hồng sẵn sàng vào sàn nhảy và đối tượng của cô
là những người phương Tây lắm tiền. Và cũng để mong có cuộc sống nhàn
hạ, đầy đủ, Hồng sẵn sàng bỏ anh chồng bệnh hoạn, trốn mẹ và gia đình
theo làm vợ một người đàn ông hơn mình hai mươi ba tuổi ở tận nước Bỉ
17
xa xôi. Điều đáng chú ý hơn nữa là lối sống thực dụng ấy không chỉ có ở
tử tế. Người phụ nữ này phải tính toán và làm như vậy bởi cô “ghê sợ một
cuộc sống đạm bạc”. Theo quan điểm của cô gái này thì: “Đó không phải là sĩ
diện mà là lòng tự trọng của thế hệ chúng con”. Một lời ngụy biện cho thấy sự
thay đổi trong tư duy, quan niệm sống thật đáng lo ngại của một bộ phận lớp
trẻ hiện nay. Đó là lối sống coi nhẹ tình cảm và những giá trị thiêng liêng của
đời sống gia đình. Người đọc như cảm nhận được một tâm sự sâu kín, một lời
phê phán âm thầm của nhà văn qua những nhân vật trên.
Tuy nhiên, với cái nhìn vừa đa chiều vừa đôn hậu, Xuân Hà giải thích
rằng sở dĩ những người phụ nữ trên trở nên quá thực dụng cũng một phần là
vì hoàn cảnh đưa đẩy. Cô gái trong truyện Cây bồ kết nở hoa suy nghĩ và
hành động như vậy cũng bởi cuộc hôn nhân mà cô hằng hi vọng đã hoàn toàn
không như tính toán của cô. Còn Hồng trong truyện Nhà có ba chị em, sở dĩ
phải kiếm tiền nơi sàn nhảy, phải lấy ông chồng già ngoại quốc cũng bởi
những bất hạnh trong cuộc sống riêng trước đó. Đã có một đời chồng, cô lấy
một người đàn ông khác với hi vọng làm lại cuộc đời. Nhưng thật bất hạnh
cho Hồng khi gã ta lấy cô về để làm con ở hầu hạ hắn và đứa em điên dại. Và
nữa, hắn coi cô chỉ như một công cụ kiếm tiền không hơn không kém khi cứ
mỗi chiều cô đi làm về là hắn nắn túi cô lột sạch tất cả những gì cô vất vả
kiếm được trong một ngày. Và để cô có nhiều tiền hơn đưa cho, cái gã đàn
ông đốn mạt ấy cũng chẳng bận tâm khi biết người vợ của mình đã phải kiếm
tiền bằng mọi giá. Đề cập đến những điều này, tất nhiên Xuân Hà không có ý
định ủng hộ lối suy nghĩ, lối sống của những cô gái kia nhưng dù sao đây
cũng là một sự cảm thông của nhà văn vốn đầy lòng trắc ẩn với những nhân
vật của mình.
Ở truyện Kẻ đối đầu, ta bắt gặp hình tượng nhân vật Rô, một kẻ vốn
xuất thân bần hàn, lại không được học hành cẩn thận. Để thoát khỏi cuộc
sống nghèo khó, Rô không từ một thủ đoạn nào, từ những mánh khóe bán
hàng để thu lãi lớn và thậm chí cặp bồ với bà giám đốc góa chồng (Trong
khi Rô giấu nhẹm mọi người chuyện tình cảm của mình với Uyên – một cô
gái trẻ trung, xinh đẹp - để dễ bề thực hiện mưu đồ). Từ đó, Rô thăng tiến
hình luôn bị tra tấn bởi những bộ phim mà chất lượng quá kém và đầy sạn.
20
Cùng chủ đề phản ánh sự tha hóa đạo đức của con người vì đồng tiền
như Mùa phim trường là các truyện Ngọa Sinh, Năm hai nghìn lẻ x Khi
sinh thời, Bác Hồ đã từng nói với các cán bộ, nhân viên ngành y tế: Lương y
như từ mẫu. Thực hiện lời dạy của Bác, ngay từ khi thành lập đến nay, ngành
y tế với các cán bộ, y bác sĩ đã lập được nhiều thành tích để đóng góp vào sự
nghiệp kháng chiến và xây dựng đất nước, phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, từ
khi nền kinh tế thị trường được thực hiện, ngoài rất nhiều mặt tích cực thì nó
cũng đem đến những mặt trái, trong đó có việc làm tha hóa một bộ phận
không nhỏ những y bác sĩ. Họ vì không chống nổi sự cám dỗ của đồng tiền
mà đã làm những việc đi ngược với lương tâm nghề nghiệp. Biểu hiện thường
thấy là thái độ trịch thượng, thiếu tôn trọng người bệnh và người nhà của họ.
Đó còn là hiện tượng nhận phong bì của bệnh nhân hoặc gia đình họ. Rồi
chuyện người của bệnh viện móc ngoặc với giới cò để có thêm thu nhập.
Trong Ngọa Sinh, Võ Thị Xuân Hà đề cập đến tất cả các hiện tượng này.
Trong câu chuyện, tạo ấn tượng sâu sắc nhất với độc giả có lẽ là hình tượng
nữ nhân vật chính – Hoan – một người phụ nữ đã bị chồng ruồng bỏ vì hậu
quả của chất độc màu da cam do bố cô đi chiến trường để lại. Hoan vẫn khao
khát có một cuộc sống gia đình yên ấm. Nhưng để quyết định đi bước nữa
người đàn bà tội nghiệp này muốn làm tất cả các xét nghiệm để chứng minh
cho người cô sẽ cưới rằng cô hoàn toàn là một người phụ nữ bình thường.
Tuy vậy, hành trình đến với bệnh viện để làm được điều này thật lắm gian
nan. Khó khăn không phải chỉ ở việc phải đi xét nghiệm rất nhiều lần và tất
nhiên tốn rất nhiều tiền mà còn ở sự nhũng nhiễu của những người trong bệnh
viện. Qua truyện ngắn này nhà văn đã bộc lộ sự đồng cảm sâu sắc với Hoan
cùng rất nhiều các nhân vật bệnh nhân hoặc người nhà của họ vốn chỉ xuất
hiện thoáng qua trong tác phẩm. Nếu Ngọa Sinh phản ánh sự tồn tại trong
ngành y tế thì Năm hai ngàn lẻ x… lại phản ánh sự biến chất của không ít cán
bộ trong ngành tòa án. Dõi theo câu chuyện của nhân vật Mai ta thấy đó là các
phá thai. Và tất nhiên qua đây, tác giả muốn nói đến những vấn đề lớn rộng
hơn, đó là bi kịch gia đình, bi kịch số phận cá nhân, là thói gia trưởng, tư
tưởng trọng nam khinh nữ,…Bằng trí tưởng tượng phong phú, với việc sử
dụng nhuần nhuyễn thủ pháp sáng tạo cái kỳ ảo, nhà văn xây dựng một không
22
gian vườn chuối đậm chất liêu trai. Nó vốn là nơi một ông lão người làm của
bệnh viện phụ sản chôn những cái thai bị bỏ. Và cứ mỗi khi đêm về, đặc biệt
là các đêm trăng, những linh hồn tội nghiệp kia lại tụ tập ở vườn chuối. Đau
đớn và xúc động nhất là khi tác giả miêu tả sự khát mẹ của linh hồn đứa chị
cả. Hằng đêm nó đợi mẹ, nhưng chỉ may mắn lắm khi mẹ nó ra đổ rác thì nó
được gặp để được quấn lấy chân mẹ. Rồi hình ảnh thằng bé khác với một bên
tay và chân bị nát bấy. Theo nhà văn, thảm cảnh này là do hậu quả của những
mối tình trái ngang, hay do sự vô tâm đến tàn nhẫn của những ông chồng và
sự nhẫn nhục đến vừa đáng thương lẫn đáng trách của những người vợ. Đó là
trường hợp của cặp vợ chồng được nói đến trong truyện. Trong khu vườn ấy,
riêng họ có đến… hai mươi ba đứa con. Rồi theo thống kê của bố con ông lão
lao công của bệnh viện, trong năm ấy (tất nhiên là chưa hết năm) đã có bảy
mươi tám cái hài nhi bị bỏ (chứ không phải bị hỏng). Những con số tưởng
như khô khan này thật sự gây đau lòng cho bất cứ ai có lương tâm. Là một
nhà văn, một phụ nữ, một người mẹ, tất nhiên Xuân Hà rất đau xót trước thực
trạng này. Việc tác giả miêu tả hình ảnh người mẹ thắp hương ở đầu tác phẩm
và đặc biệt là những giấc mơ khủng khiếp, những lời đau đớn khi mê sảng của
bà mẹ của hai mươi ba cái linh hồn hài nhi là một lời cảnh tỉnh sâu sắc về hậu
quả tinh thần mà những bậc cha mẹ nhẫn tâm sẽ phải gánh chịu sau này. Họ
sẽ luôn phải sống trong sự dằn vặt của lương tâm vì hành động tàn nhẫn của
mình. Nhưng, ở một phương diện khác, nhà văn cũng bày tỏ lòng thương cảm
sâu sắc của mình dành cho những linh hồn tội nghiệp kia bằng việc xây dựng
cặp nhân vật cha con ông lão lao công của bệnh viện. Công việc, cách ứng xử,
suy nghĩ của họ về những linh hồn tội nghiệp kia thật cảm động. Chính họ đã
góp phần nâng tầm cho tư tưởng nhân đạo đến mức nhân văn sâu sắc của tác
mạn trong sáng tác của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận là cái tôi cô
đơn muốn thoát ly cuộc sống thực tại hay muốn tận hưởng những gì tốt đẹp
nhất mà cuộc đời ban tặng; trong tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng là sự
đề cao tình yêu, hôn nhân tự do đối lập với lễ giáo phong kiến; trong sáng
tác của các tác giả như Tố Hữu, Xuân Quỳnh, Nguyễn Minh Châu là niềm
lạc quan hướng về một tương lai tươi sáng thì ở Võ Thị Xuân Hà cảm hứng
24
lãng mạn có phạm vi nhỏ bé hơn nhưng vẫn không kém phần sâu sắc, đó là
ca ngợi tình yêu, những mối tình trong trẻo, mới chớm nở, có khi chỉ rất
thoảng qua nhưng có tác dụng nâng đỡ các nhân vật vượt qua những nặng
nề trong cuộc sống hằng ngày.
Hai nhân vật chính trong truyện Lúa và đất là Đào và Điền. Giữa họ
có một mối tình ngang trái nhưng trong sáng và đầy chất thơ. Đào là người
phụ nữ mang vẻ đẹp dân dã: “Chị đẹp đôn hậu, không rực rỡ, hơi thô kệch
và không xáo trộn”. Đào đã lập gia đình, có con. Nhưng bất hạnh cho cô là
người chồng suốt ngày ăn không ngồi rồi và lại còn cờ bạc. Mọi công việc
gia đình, đồng áng đổ hết lên vai chị. Vậy mà Đào vẫn nhẫn nhịn, chịu
thương chịu khó. Còn Điền, là một người có chí, ham học hỏi nên kinh tế
khá giả. Tuy vậy, anh vẫn chưa lập gia đình bởi lúc nào cũng giữ mối tình
với Đào. Điền không hề che dấu tình cảm của mình với Đào, nhưng cách thể
hiện thật tế nhị và trong sáng. Điền xưng “tôi”, gọi Đào là “chị Đào” hoặc có
lúc chỉ gọi tên. Trong truyện có kể hai lần họ tình cờ gặp nhau. Lần thứ nhất,
vào một buổi sáng sớm, Điền đã giúp Đào chỗ mạ mình cấy thừa. Lần thứ
hai là khi Đào ra đồng với tâm trạng nặng trĩu vì nhà có con bò lại bị chồng
bán mất. Chi tiết Điền tặng Đào một bông hoa súng và “mỉm nụ cười mơ
hồ” sau khi nói về một cái tên khác của loài hoa này là một cách thể hiện
tình cảm thật tế nhị. Trước tình cảm của Điền, Đào luôn cố giữ một khoảng
cách. Điều đó được thể hiện qua ánh “mắt nhìn anh mơ hồ lạnh lạnh” trong
lần cô gặp Điền trên đường ra đồng lúc sáng sớm. Còn trong lần gặp Điền ở
ngoài đồng, chị cũng không để cuộc nói chuyện diễn ra quá lâu. Tuy nhiên,