Thế giới nghệ thuật truyện ngắn lê minh khuê - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
CAO THỊ THU HIỀN
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM


Ngƣời thực hiện Cao Thị Thu Hiền LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan
rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn Cao Thị Thu Hiền

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 6
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 6
5. Cấu trúc của luận văn 7
6. Đóng góp của luận văn 7
Chƣơng 1. KHÁI LƢỢC VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ SÁNG TÁC
CỦA LÊ MINH KHUÊ 8
1.1. Khái lƣợc về thế giới nghệ thuật 8

3.2.2.1. Cốt truyện lồng ghép 66
3.2.2.2. Cốt truyện giản lƣợc 69
3.2.2.3. Cốt truyện sự kiện - tâm lý 73
3.2.3. Diễn trình cốt truyện 76
3.3. Phƣơng thức trần thuật 85
3.3.1. Ngƣời trần thuật 87
3.3.1.1. Trần thuật theo ngôi thứ ba 87
3.3.1.2. Trần thuật theo ngôi thứ nhất 90
3.3.1.3. Sự luân phiên các ngôi kể 94
3.3.2. Cách trần thuật 96
3.3.2.1. Giọng điệu trần thuật 96
3.3.2.2. Nhịp điệu trần thuật 105
3.3.2.3. Cách kể, tả 110
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thế giới nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng của
thi pháp học hiện đại. Chính vì vậy, nghiên cứu thế giới nghệ thuật là nghiên
cứu văn học ở góc độ thi pháp, tránh đƣợc những cách tiếp cận không phù
hợp tác phẩm văn học cả về nội dung và hình thức. Bởi vậy, thế giới nghệ
thuật không chỉ là chỉnh thể của hình thức cụ thể, trực quan, cảm tính mà là
hình thức mang tính quan niệm về thế giới và con ngƣời của nhà văn.
1.2. Văn học Việt Nam sau năm 1975 thực sự có nhiều khởi sắc. Những
đóng góp cả về phƣơng diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật của văn học
giai đoạn này đã khẳng định những bƣớc chuyển mạnh mẽ của văn học nƣớc
nhà. Việc xuất hiện ngày càng nhiều các cây bút nữ đã tạo nên sự phong phú,

tranh nước mình, những vấn đề sau khi thống nhất đất nước, sự nghèo đói và
tình trạng xói mòn văn hóa và tinh thần khi đất nước chuyển sang một xã hội
tiêu thụ. Những vấn đề này được thể hiện bằng một văn phong đẹp, chua xót,
trang nghiêm”. Cuốn sách này cũng đã đƣợc nhà xuất bản Curbstone Press
(Mỹ) phát hành. Nó trở thành “…cuốn sách đầu tiên trong chùm những tác
phẩm “Tiếng nói từ Việt Nam”…” đem những hình ảnh về đời sống hiện thực
và thế giới tâm hồn con ngƣời Việt Nam đến gần hơn với bạn bè năm châu,
đặc biệt là ở nƣớc Mỹ. Hơn thế, tác giả Rochelle L.Holt của báo The Pilot còn
khẳng định: “Đây là những truyện nên được dạy trong những giờ văn học và
lịch sử trên toàn nước Mỹ, cả ở trường trung học phổ thông lẫn đại học”; bởi
tác giả “đã cho độc giả một cái nhìn sâu sắc và trung thực hiếm hoi về Việt
Nam” (Báo The Colombus Dispatch). Nhƣ vậy, tuy không phải cây bút mở
đƣờng cho văn học thời kỳ đổi mới nhƣ Nguyễn Minh Châu hay một hiện
tƣợng văn học gây nhiều tranh cãi nhƣ Nguyễn Huy Thiệp nhƣng Lê Minh 3
Khuê thực sự là một tác giả truyện ngắn nữ có quá trình, có nội lực, sức bền
và có triển vọng “có thể đi xa”.
1.3. Với đề tài này, ngƣời viết có cơ hội hiểu thêm về thế giới nghệ
thuật của một nhà văn đƣơng đại. Từ đó, chúng ta có thể hình dung những vấn
đề về sự vận động thể loại truyện ngắn trƣớc và sau năm 1975, có cái nhìn
khái quát về truyện ngắn thời kỳ đổi mới. Khóa luận góp thêm cơ sở vững
chắc hơn đối với việc đánh giá tài năng, phong cách nghệ thuật và vị trí văn
học của nhà văn Lê Minh Khuê trong nền văn học Việt Nam. Bên cạnh đó,
trong quá trình thực hiện đề tài, ngƣời viết đƣợc củng cố bổ sung những kiến
thức lịch sử văn học phục vụ cho công tác giảng dạy.
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài Thế giới nghệ thuật truyện
ngắn Lê Minh Khuê.
2. Lịch sử vấn đề

… Việc đối mới bút pháp những năm gần đây là dấu hiệu đáng mừng. Lê
Minh Khuê là một cây bút nữ tài năng và đang rất sung sức” [26].
Bên cạnh những ý kiến khen ngợi, đồng cảm, truyện ngắn Lê Minh
Khuê, mà cụ thể là tập Bi kịch nhỏ cũng nhận không ít những ý kiến trái
chiều về mặt chính trị quan điểm, đƣờng lối, tƣ tƣởng. Năm 1993, khi tập
truyện ngắn Bi kịch nhỏ ra đời, ngay lập tức đã thu hút nhiều ý kiến khác
nhau. Nhiều ý kiến trái chiều khen có, chê có. Nhóm những ngƣời phê phán,
thậm chí phản đối dữ dội tác phẩm này cho rằng: “Dụng ý bôi đen, bóp méo
sự thật của tác giả thật rõ ràng” [80]; “Với truyện này, tác giả viết ra từ lòng
u uất, chất chứa những cay đắng bất bình, chủ quan, một chiều, chỉ thấy màu
xám, cái u tối, không hề cho người đọc thấy được một mảng sáng nào dù le
lói ở cuối đường”, “một vài hình ảnh bộ đội, công an, nhất là tầng lớp trí
thức (…) tôi cho rằng tác giả cường điệu, bóp méo” [91]; tác phẩm “bôi 5
nhem con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam với lối miêu tả, so sánh vừa tinh
vi vừa trắng trợn”, “tô đậm lẽ sống chạy theo đồng tiền” [99] v.v…
Bên cạnh những ý kiến phê phán, nhiều tác giả khác có cái nhìn khách
quan, công tâm hơn với Bi kịch nhỏ. Bùi Việt Sỹ xem Bi kịch nhỏ là tập
truyện đã “gây ấn tượng mạnh”; trong đó “chín truyện ngắn, chín truyện khác
nhau nhưng mang một nỗi buồn nghẹn ngào của tác giả trước nỗi đau của
thân phận con người”. Hồ Anh Thái cho rằng: “Đến tận lúc ý thức được cái
ác mà kẻ ác vẫn tiếp tục làm điều ác, vậy thì nó đáng bị truy đuổi tận cùng, và
thái độ không khoan nhượng của tác giả nhận được sự đồng tình của người
đọc”. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên tỏ ra đồng tình với cách thể hiện
của Lê Minh Khuê trong Bi kịch nhỏ với quan niệm “quá khứ phải nhìn
thẳng vào nó để nó không còn cơ hội lặp lại theo chiều hướng xấu, chiều
hướng ác…” và Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê là một cố gắng của bà, của
thể loại truyện ngắn và của văn học hôm nay đi tìm lại lịch sử qua thân phận

+ Những dòng sông, buổi chiều, cơn mưa – Truyện ngắn chọn lọc –
NXB Phụ nữ, 2002
+ Màu xanh man trá – NXB Phụ nữ, 2005
+ Một mình qua đường – NXB Hội nhà văn, 2006
+ Nhiệt đới gió mùa – NXB Hội nhà văn, 2012
+ Lê Minh Khuê – Truyện ngắn chọn lọc – NXB Thanh niên, 2013
Ngoài ra, chúng tôi khảo sát một số truyện ngắn và tiểu thuyết của Lê
Minh Khuê đăng rải rác trên các báo và tạp chí.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phối hợp vận dụng các
phƣơng pháp sau: 7
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng
để tìm hiểu sánh tác của Lê Minh Khuê dƣới góc độ thi pháp nhằm làm rõ đặc
trƣng thể loại của tác phẩm.
- Phương pháp tiểu sử: Chúng tôi tìm hiểu tiểu sử nhà văn Lê Minh
Khuê để phục vụ cho việc đi sâu vào tác phẩm của bà.
- Phương pháp so sánh: Chúng tôi so sánh truyện ngắn của Lê Minh
Khuê với các nhà văn khác để thấy đƣợc điểm khác biệt và đặc trƣng trong
sáng tác của Lê Minh Khuê.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phƣơng pháp này vừa đi sâu
nghiên cứu thế giới nghệ thuật truyện ngắn Lê Minh Khuê, vừa hệ thống, tổng
hợp các kết quả để minh chứng cho các luận điểm của luận văn.
- Phương pháp thống kê: Phƣơng pháp này giúp phân loại các đặc
điểm nổi bật về nội dung, các kiểu dạng nhân vật và các phƣơng thức nghệ
thuật trong truyện ngắn Lê Minh Khuê.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thƣ mục tham khảo, nội dung của

biệt với các thế giới khác và có ý nghĩa riêng của nó.
Ở Việt Nam, năm 1997, các tác giả cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học”,
đã định nghĩa: Thế giới nghệ thuật là “Khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng
tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác
giả, một trào lưu). Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật
là một thế giới riêng, được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật,
khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù
là nó phản ánh các thế giới ấy. Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời
gian riêng, quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, 9
thang bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ
thuật” [25, tr.244].Chẳng hạn trong thế giới truyện cổ tích, con ngƣời và loài
vật, cây cối, thần Phật đều nói chung một thứ tiếng ngƣời, đôi hài có thể đi
một bƣớc vài dặm, nồi cơm vô tận ăn mãi không hết trong truyện Thạch
Sanh… Trong văn học lãng mạn, quan hệ nhân vật thƣờng xây dựng trên cơ
sở cảm hóa; trong văn học cách mạng, nhân vật thƣờng chia thành hai tuyến
địch – ta, ngƣời chiến sĩ cách mạng và quần chúng. Nhƣ thế, mỗi thế giới
nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới. Sự hiện
diện của thế giới nghệ thuật không cho phép đánh giá và lý giải tác phẩm theo
lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tƣợng với các sự thực đời sống
riêng lẻ, xem có “giống” hay không, “thật” hay không, mà phải đánh giá trong
chỉnh thể của tác phẩm, xem xét tính chân thật của tư tưởng chỉnh thể của tác
phẩm so với chỉnh thể hiện thực. Các yếu tố của hình tƣợng chỉ có ý nghĩa
trong thế giới nghệ thuật của nó.
Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách
cắt nghĩa về thế giới. Trong thần thoại, thế giới nghệ thuật gắn với quan niệm
về các sự vật có thể biến hóa lẫn nhau. Trong truyện cổ tích, đặc biệt là cổ
tích thần kỳ, nó gắn với quan niệm về thế giới không có sức cản. Thế giới

nhiều yếu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng
nghệ thuật”.
Thế giới nghệ thuật của một nhà văn mang đậm dấu ấn chủ quan của
ngƣời sáng tạo. Xét đến cùng, thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là
thế giới hình tƣợng hiện ra nhƣ một chỉnh thể sống động, chứa đựng một quan
niệm nhân sinh và thẩm mỹ nào đó, đƣợc xây dựng bằng vật liệu ngôn từ.
Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu theo
đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là một chỉnh thể tất phải có cấu trúc 11
nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại
giữa các yếu tố phải có tính quy luật” [62, tr.23].
Luận văn hiểu khái niệm thế giới nghệ thuật ở góc độ: tất cả các yếu tố
cấu tạo nên tác phẩm nhƣ: nhân vật, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, các thủ
pháp nghệ thuật… Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Lê Minh Khuê muôn màu
và đa sắc, chính điều này tạo nên những giá trị trong tác phẩm của nhà văn.
1.2. Sáng tác của Lê Minh Khuê
1.2.1. Hành trình sáng tác
Lê Minh Khuê sinh ngày 6.12.1949, quê ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh
Hóa. tLê Minh Khuê tham gia chiến tranh chống Mỹ từ 1965 đến 1969. Từ
1969 đến 1975, nhà văn là phóng viên chiến trƣờng. Từ 1975 đến 2005, bà là
biên tập viên tại Nhà xuất bản Hội nhà văn.
Lê Minh Khuê bắt đầu viết văn vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX.
Trong những năm chiến tranh, truyện của bà viết về cuộc sống chiến đấu của
tuổi trẻ ở tuyến đƣờng Trƣờng Sơn. Nơi bắt đầu của những bức tranh là
truyện ngắn đầu tay với bút danh Vũ Thị Miền, in trên báo Văn nghệ (1971)
đã cho thấy một cây bút khá chuyên nghiệp. Hàng loạt những tác phẩm về đề
tài chủ nghĩa anh hùng cách mạng sau đó nhƣ Cao điểm mùa hạ, Con sáo
nhỏ của tôi, Bạn bè tôi, Mẹ, Tình yêu người lính… thể hiện sự phong phú

Lê Minh Khuê băn khoăn, day dứt trƣớc cuộc sống của những con ngƣời đang
ngày càng tha hóa. Cái ác, cái phi nhân tính dƣờng nhƣ đang lấn lƣớt. Trong
những tác phẩm nhƣ Anh lính Tony D, Cơn mưa cuối mùa, Bi kịch nhỏ,
Cuộc chơi, Đồng đô la vĩ đại…, ngƣời ta nhìn thấy sự cảnh báo gay gắt về sự
suy thoái tinh thần trong xã hội, thấy những số phận con ngƣời luẩn quẩn làm
nô lệ cho dục vọng của mình… Đằng sau đó là bao hy vọng của nhà văn về
việc đánh thức những gì tốt đẹp, những giá trị nhân bản trong mỗi con ngƣời 13
và một trái tim tha thiết niềm tin vào những giá trị gọi là thuần phong mĩ tục
tốt đẹp của dân tộc.
Không chỉ mạnh dạn trong việc tiếp cận những góc khuất của đời sống,
Lê Minh Khuê cũng không ngừng nỗ lực đổi mới cách thể hiện nhƣ việc lựa
chọn chi tiết, cách diễn đạt, ngôn ngữ, giọng điệu mang dấu ấn riêng của nhà
văn. Sự tìm tòi, đổi mới bút pháp của nhà văn là một điều đáng trân trọng và
khích lệ. Hồ Anh Thái có nhận định trên báo Tuổi trẻ: “Nhiều người đọc tâm
đắc với mảng truyện này của Lê Minh Khuê đồng thời cũng rất ngạc nhiên.
Phương pháp tiếp cận đời sống nào và khả năng xử lý hiện thực nào, khả
năng hư cấu nào, trí tưởng tượng nào khiến một người đàn bà thùy mị, bao
giờ cũng nghĩ tốt về mọi người lại có thể trở nên sắc sảo và dữ dội đến thế
trong văn chương”.
Truyện ngắn Lê Minh Khuê đã để lại một dấu ấn khá đậm nét trong
lòng độc giả và vị trí của bà trong nền truyện ngắn đƣơng đại Việt Nam đã
đƣợc khẳng định. Trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam sau 1975 (Mã
Giang Lân, Bùi Việt Thắng biên soạn), không phải ngẫu nhiên mà Lê Minh
Khuê đƣợc nhìn nhận, đánh giá bên cạnh Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy
Thiệp, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng.
Không những vậy, Lê Minh Khuê cũng là một trong số ít các nhà văn
Việt Nam có tác phẩm đƣợc dịch và giới thiệu ở nƣớc ngoài cùng Bảo Ninh,

Thế giới nghệ thuật của một nhà văn luôn chứa đựng những quan niệm
nhân sinh, xã hội của ngƣời sáng tạo. Một trong những yếu tố cơ bản cấu tạo
nên thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là quan niệm nghệ thuật về
cuộc sống và con ngƣời của nhà văn. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời là
khái niệm trung tâm của thi pháp học, phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện
bản chất nhân học của văn học. Ở một phƣơng diện nào đó, thuật ngữ này có
giá trị tƣơng ứng với khái niệm “tính tƣ tƣởng” trong tác phẩm văn học. Nếu
tƣ tƣởng là linh hồn của tác phẩm thì quan niệm nghệ thuật về con ngƣời là 15
cái giới hạn tối đa trong cách hiểu, cách cảm, cách nhìn và cách lý giải về con
ngƣời của nhà văn đƣợc hóa thân thành các nguyên tắc, các phƣơng tiện, biện
pháp, hình thức thể hiện con ngƣời trong văn học, tạo nên giá trị thẩm mỹ cho
các hình tƣợng nhân vật đó. Quan niệm nghệ thuật là “nguyên tắc cắt nghĩa
thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả
năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [25, tr.222]. Quan niệm
nghệ thuật về con ngƣời gắn liền với vốn sống, vốn văn hóa, tài năng, cá tính
sáng tạo của nhà văn và ý thức hệ của cộng đồng xã hội. Nói ngắn gọn thì
quan niệm nghệ thuật về con ngƣời chính là cách cắt nghĩa của văn học về
con ngƣời thông qua các phƣơng tiện nghệ thuật đặc thù. Mỗi nhà văn đều có
quan niệm nghệ thuật riêng và luôn chịu sự chi phối của các quan niệm đó.
Tác phẩm văn học luôn tồn tại trong nó quan niệm nghệ thuật nhất định của
nhà văn về cuộc đời và con ngƣời. Những nhà văn có quá trình sáng tác lâu
dài qua nhiều thời kỳ khác nhau thƣờng có sự biến đổi trong quan niệm nghệ
thuật về con ngƣời, Lê Minh Khuê là một trong số đó.
1.2.2.2. Quan niệm nghệ thuật của Lê Minh Khuê về hiện thực cuộc sống
Trong một lần trả lời phỏng vấn, Lê Minh Khuê tâm sự về nghề văn:
“Tôi quan niệm viết là một nghề cao quý. Nhưng tôi không cho rằng cái mình
viết ra là mẫu mực, là quan trọng, là khởi đầu, là tiền đề khai giải cho một

cô gái ở trên cao điểm bắn phá của địch trong truyện Những ngôi sao xa xôi;
cô Sim, cô Mua trong Con sáo nhỏ của tôi; Huy, Tuân, Miên, Trung trong
Cao điểm mùa hạ; Hòa, Bình trong Con trai của những người chiến sĩ…
Tuy họ xuất thân từ những miền quê khác nhau, tính cách khác nhau nhƣng
đều giống nhau ở phẩm chất anh hùng, dũng cảm, ở lý tƣởng sẵn sàng hy sinh
vì Tổ quốc.
Sau năm 1975, hiện thực cuộc sống hiện thực cuộc sống thay đổi đòi
hỏi ngƣời cầm bút phải có một cái nhìn khác, phải viết bằng một quan niệm 17
hiện thực mới mẻ, phù hợp hơn. Lê Minh Khuê nhạy bén với mỗi đổi thay của
lịch sử. Truyện ngắn của chị thực sự là những mảng hiện thực xã hội và
những “tâm trạng xã hội qua những thời kỳ khác nhau” Lê Minh Khuê đã bổ
sung vào bức tranh hiện thực những mảng mới, những mảng khuất lấp chƣa
từng đƣợc nói tới Lê Minh Khuê, từ góc nhìn lịch sử trƣớc năm 1975, đã
chuyển hẳn sang góc nhìn thế sự - đời tƣ.
1.2.2.3. Quan niệm nghệ thuật của Lê Minh Khuê về con nguời
Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời là nguyên tắc lý giải, cảm thụ của
chủ thể sáng tác. Nó là hình thức đặc thù thể hiện con ngƣời trong văn
học.“Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy
con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp
hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và
thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [87, tr.59]. Những lý giải,
cảm nhận chủ quan của nhà văn về con ngƣời đƣợc thể hiện thông qua thế
giới nhân vật trong tác phẩm.
“Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người chẳng những cung
cấp một điểm xuất phát để tìm hiểu nội dung của tác phẩm văn học cụ thể,
mà còn cung cấp một cơ sở để nghiên cứu sự phát triển, tiến hóa của văn
học” [25, tr.224]. Một thời đại văn học mới luôn gắn liền với một quan niệm

lính trong cấu tứ của mỗi bài thơ, những ngƣời phê bình trƣớc kia đã không
thấy đƣợc sự đa dạng của hình tƣợng nghệ thuật khi viết về ngƣời thật.
Lê Minh Khuê là nhà văn sinh ra trong thời kháng chiến chống Pháp,
trƣởng thành trong kháng chiến chống Mỹ và có những trải nghiệm ở thời
bình. Các tác phẩm của bà vắt ngang giữa hai thời đại nên những biến đổi về
quan niệm nghệ thuật về con ngƣời, cách nhìn nhận, đánh giá về con ngƣời là
rất rõ ràng. 19
Trƣớc năm 1975, Lê Minh Khuê tập trung vào việc xây dựng hình
tƣợng những con ngƣời mang tầm thời đại. Đó là con ngƣời tập thể, con
ngƣời cộng đồng mang lý tƣởng và phẩm chất anh hùng cao đẹp. Theo sát
nhiệm vụ chính trị của thời đại, nhà văn thông qua con ngƣời để biểu hiện lịch
sử, con ngƣời trở thành phƣơng tiện khám phá lịch sử. Chiến tranh đặt ra vấn
đề sống còn của dân tộc, mọi quyền lợi, ứng xử phải nhìn theo quan điểm
“địch – ta”, sự thống nhất muôn ngƣời nhƣ một trở thành nguyên tắc tối
thƣợng. Mọi cá nhân đều hƣớng về cộng đồng, tự nguyện hòa tan trong cộng
đồng. “Con đường giải quyết mọi bi kịch, mọi vướng mắc cá nhân là hướng
về cách mạng, về cộng đồng” [57]. Đó là những chàng lái xe, những cô gái
thanh niên xung phong, những bác sĩ… rời ghế nhà trƣờng để bƣớc thẳng vào
cuộc chiến ác liệt. Nho, Định, Thao (Những ngôi sao xa xôi)… là những cô
gái xung phong tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trên tuyến đƣờng Trƣờng
Sơn thời chống Mỹ. Họ dũng cảm, luôn sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy để
hoàn thành nhiệm vụ. Công việc phá bom của họ luôn đối mặt thƣờng xuyên
với cái chết: “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng
hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất
chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều
quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ
nổ…”. Mặc dù đã rất quen công việc nguy hiểm này, thậm chí một ngày có

Trích đoạn Những vấn đề của thời hậu chiến Khái niệm nhân vật và phân loại nhân vật Nhân vật cô đơn Nhân vật bi kịch Đối thoại
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status