MỤC LỤC
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
1.1. Tiểu thuyết lịch sử là một thể loại đã được manh nha phát triển từ
rất sớm trong nền văn học dân tộc, số lượng các tác giả, tác phẩm cũng không
thua kém gì so với các thể loại văn học khác đặc biệt trong giai đoạn 1930 -
1945. Vậy mà, một thời gian dài thể loại này bị lãng quên. Trong gần mười
năm trở lại đây, mặc dù đã có nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ,
tiến sĩ nghiên cứu một số nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử cũng như lẻ tẻ vài
công trình tổng kết sự phát triển của thể loại này nhưng chỉ mới dừng lại ở
một giới hạn nhất định. Tiểu thuyết lịch sử vẫn chưa có chỗ đứng tương xứng.
Nghiên cứu đề tài Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật, chúng tôi mong
muốn góp một tiếng nói nhỏ bé của mình vào việc khẳng định vị trí to lớn của
thể loại này đối với sự phát triển của nền văn học và bổ sung một phần nào đó
vào thành tựu của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nói chung, tiểu thuyết lịch sử
giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945 nói riêng.
1.2. Nguyễn Triệu Luật không chỉ là một nhà giáo, nhà báo, nhà hoạt
động cách mạng mà ông còn là một nhà văn nổi tiếng với chùm tiểu thuyết
lịch sử viết trước cách mạng. Sự nghiệp của ông có thể coi đứng hàng đầu
trong những tác giả viết tiểu thuyết lịch sử ở thập niên 30 và 40 của thế kỉ
XX. Tuy nhiên cho đến nay, cuộc đời, văn nghiệp của nhà văn này vẫn còn
nhiều câu hỏi nghi vấn chưa có lời giải đáp thấu đáo. Đề tài mà chúng tôi
nghiên cứu mong muốn khái quát một cách rõ ràng hơn nữa những nét cơ bản
về cuộc đời cũng như văn nghiệp của ông.
1.3. Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật cùng với các tác phẩm tiểu
thuyết lịch sử của những nhà văn cùng thời như Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn
Huy Tưởng, Chu Thiên, Phan Trần Chúc… đã tạo nên sự đổi mới đáng trân
1
trọng cho quá trình hiện đại hóa văn học giai đoạn nửa non đầu thế kỉ XX.
Bên cạnh những thành công chung thuộc về cả một thời kì thì những tác phẩm
Trong bài Bà Chúa Chè có phải là cuốn lịch sử ký sự hay không ?, Trúc
Khê phản đối lời nhận xét của Vũ Ngọc Phan cho rằng Bà Chúa Chè của
Nguyễn Triệu Luật “là một quyển lịch sử ký sự và bảo ông Luật đề tiểu thuyết
lịch sử ở ngoài bìa là sai” . Từ đó, Trúc Khê khẳng định “Bà Chúa Chè cũng
vẫn là cuốn tiểu thuyết chứ không nên coi là lịch sự ký sự”. Sau đó, tác giả đã
lần lượt chỉ ra những chỗ quả là tính chất tiểu thuyết ở trong Bà Chúa Chè
qua việc đối chiếu với sử sách ghi lại. Còn về phần văn thể Trúc Khê đã cho
rằng: “Bà Chúa Chè với một lối văn bình dị và sáng sủa, cũng tự có một giá
trị riêng” [20].
Lan Khai trong Lời giới thiệu lần in thứ nhất Bà Chúa Chè cho rằng:
“Cũng như tôi, ông Nguyễn Triệu Luật viết tiểu thuyết lịch sử. Nhưng khác
với tôi, ông Nguyễn Triệu Luật riêng chú trọng vào sự thực, trong khi tôi chỉ
khuynh hướng về nghệ thuật… Các truyện và người của ông hoạt động hiển
nhiên, không được ông tô điểm cho, nhưng cũng không bị ông làm mất bản
sắc. Đọc các tiểu thuyết của ông là tức là xem những bức ảnh. Người có thể
mất đi rồi, cảnh có thể khác đi rồi, nhưng hình ảnh vẫn là hình ảnh thực của
những người và cảnh đã có thực” [635,36]
Ở cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, Vũ Ngọc Phan nhận xét Việt Nam
chưa có dòng tiểu thuyết lịch sử và ông đã dành số trang nhất định giới thiệu
một số nhà văn viết lịch sử phóng sự và truyện kí lịch sử trong đó có nhắc đến
Nguyễn Triệu Luật. Đầu tiên tác giả viết: “Bà Chúa Chè rõ là một cuốn lịch
sử ký sự, có tính cách ký sự 100%, không làm gì có những việc và những
3
nhân vật do trí tượng tượng của tác giả thêu nên nghĩa là Bà Chúa Chè không
phải là quyển lịch sử tiểu thuyết như tác giả đã in ngoài bìa” [86,37]. Bên
cạnh đó, Vũ Ngọc Phan còn chỉ ra mặt thành công và hạn chế trong tác phẩm
của Nguyễn Triệu Luật: “Tôi nhận thấy Nguyễn Triệu Luật đã dàn xếp mọi
việc khéo, có nhiều đoạn tự nhiên, tuy là nhắc nhớ đến một điển tích hay một
sự tích mà không cầu kỳ, không làm vướng động tác. Văn ông sáng suốt,
những lời nói của những người xưa vừa hợp thời, vừa có ý nghĩa. Thật là lối
người và việc hiện lên, sống lại và đang hoạt động trước mắt chúng ta”, “bạn
đọc là người Hà Nội cũng sẽ vô cùng thích thú khi bắt gặp qua các trang tiểu
thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật những tiếng cổ trong giao tiếp, những
cảnh cũ, những loài hoa hiếm… để ngày nay khi đêm khuya thanh vắng một
mình thả bộ trên đường phố Khâm Thiên hay Văn Miếu bất chợt lại có cảm
giác như bắt gặp lại bóng dáng thoáng qua của một Thăng Long xưa” [634-
635,23].
Luận án tiến sĩ với đề tài Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX
- 1945 của Bùi Văn Lợi cũng nhắc đến và phân tích một số khía cạnh nội
dung, nghệ thuật của một số tác phẩm tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật
như Bà Chúa Chè, Chúa Trịnh Khải… chứ chưa đề cập cụ thể đến toàn bộ sự
nghiệp sáng tác của ông như đoạn viết về cảm hứng nhân đạo trong Bà Chúa
Chè: “Trong Bà Chúa Chè, Nguyễn Triệu Luật đã thông qua cuộc đời của
một cô gái hái chè xinh đẹp bỗng chốc trở thành một vương phi có quyền
nghiêng thiên hạ để phản ánh sự sụp đổ tất yếu của triều đình họ Trịnh, đồng
thời phản ánh tất cả những mâu thuẫn, những rối ren lục đục của một chế độ
xã hội phong kiến đang trên con đường tan rã Sống trong xã hội ấy, Đặng
5
Thị Huệ không thể là “con công sống giữa đàn gà”, là con “phượng hoàng”
sống giữa cuộc đời trần trụi. Để có được sự đổi đời, nàng phải trả một cái giá
rất đắt… Cũng chính vì thế dù tàn bạo hay bắt buộc phải tàn bạo nàng cũng
chiếm được sự cảm thông nhất định ở người đọc” [99,29] hay đoạn văn nói về
nghệ thuật hư cấu trong tác phẩm Chúa Trịnh Khải: “Trong tác phẩm Chúa
Trịnh Khải, để nhằm mục đích ca ngợi những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của
người anh hùng Nguyễn Huệ, Nguyễn Triệu Luật đã hư cấu một số chi tiết
khác hẳn với trong lịch sử như chi tiết tên Trang đưa Trịnh Tông đến nộp cho
Nguyễn Huệ” [135,29].
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Mạnh trong giáo trình Lịch sử
văn học Việt Nam 1930 - 1945 khi đề cập tới dòng tiểu thuyết lịch sử có nhắc
đến tác giả Nguyễn Triệu Luật và xếp nhà văn này vào khuynh hướng lãng
phi thường từ khi còn là một cô gái hái chè cho đến phút làm khuynh đảo phủ
chúa rồi thản nhiên nhận lấy cái chết. Giữa một xã hội tao loạn đầy âm mưu cạm
bẫy, đầy những lối sống ươn hèn, người đàn bà này không chịu làm “con công
giữa bầy đàn” mà chọn cách sống quyết liệt để đạt điều mình muốn. Trịnh Sâm
mê Đặng Thị Huệ nhưng cũng rất thương con riêng, ông ta nhu nhược trong
hành động nhưng sâu xa cũng biết trọng hiền tài. Đấy là nhân vật được tác giả
dành cho cái nhìn cảm thông, thương hại” [4].
Trong bài Nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật, Mai
Thục đưa ra ý kiến: “Với giọng kể chuyện đa thanh đa điệu, Nguyễn Triệu
Luật dùng nhiều đối tượng và ngôn ngữ kịch nói, hợp với nhịp suy và nhịp
vận động của con người hiện đại. Đây là nghệ thuật kể chuyện đặc thù, rất nổi
bật của Nguyễn Triệu Luật. Người đọc bị cuốn hút vào những tiếng nói đa
7
thanh, những đối thoại sinh động trong từng trang viết làm cho không khí tiểu
thuyết sôi động, không nhàm chán, không gây căng thẳng, mệt mỏi bởi lời kể
lể lê thê, dài dòng của tác giả theo lối chương hồi cũ rích… Với tiểu thuyết
Nguyễn Triệu Luật, ngôn ngữ nhân vật đóng vai trò quan trọng bậc nhất thay
tác giả kể chuyện. Nhân vật trầm mình vào lịch sử mà kể chuyện. Những tâm
tình sâu kín của nhân vật lại mang màu sắc của con người hiện đại” [46].
Bài Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật - tinh thần nhân bản dồi dào,
Thi Thi đã trích dẫn lời nhận xét của nhà văn Trần Thùy Mai về tuyển tập tiểu
thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật: “Quả thực, với tuyển tập này, bạn đọc hôm
nay có dịp tiếp cận được với những tác phẩm kết hợp giữa chất liệu hấp dẫn
của sử liệu và sự rung động của văn chương. Trong đó, điểm chung dễ nhận
thấy là một "tinh thần nhân bản dồi dào" của ngòi bút Nguyễn Triệu Luật. Với
Hòm đựng người, tác giả đã đưa người đọc về thời kỳ Lê Trịnh và "cận cảnh"
vào số phận những cung nữ phải theo vào sơn lăng vua Lê, nhốt chặt tuổi
xuân ở chốn lạnh lẽo ấy. Bi kịch xảy ra khi một Hoàng tử nhà Lê cả gan thâm
nhập vào sơn lăng để chung sống với một cung nữ vốn là người yêu cũ” [43].
Phạm Tú Châu với bài Tính lịch sử: khả năng và mức độ qua tiểu
Nhân kỉ niệm 110 năm ngày sinh Nguyễn Triệu Luật (1903- 2013),
ngày 23-8-2012 , Hội nhà văn Hà Nội do ông Phạm Xuân Nguyên chủ trì đã
tổ chức long trọng hội thảo Nguyễn Triệu Luật - con người và tác phẩm. Hội
thảo với rất nhiều tham luận của các nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu… về
cuộc đời cũng như tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật như Lại Nguyên Ân,
Phạm Toàn, Phạm Tú Châu, Nguyễn Xuân Khánh, Lê Văn Ba… Nhưng quan
trọng nhất là nói về tác phẩm và bút pháp viết tiểu thuyết lịch sử Nguyễn
Triệu Luật. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết, tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật
9
giúp ông nhìn ra một định nghĩa về tiểu thuyết lịch sử: “viết tiểu thuyết lịch
sử không cần theo phép Sử học. Tác giả chỉ phải tưởng tượng ra một “truyện
có thể có” ở một thời đại, rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy. Mục
đích là lấy một chuyện không đâu mà làm sống một thời đại” (Tựa Hòm đựng
người). Theo Phạm Toàn: “lịch sử là một dòng chảy, sử gia chỉ là những
người câm và nhà văn viết lịch sử là người góp phần gợi nỗi niềm cho người
đời về những sự thật của lịch sử. Khác với các sử gia, người viết tiểu thuyết
lịch sử tham gia vào tâm lý của nhân vật. Nguyễn Triệu Luật đã viết tiểu
thuyết lịch sử với tinh thần như thế chứ không phải một sử gia chép sử” [18].
Nguyễn Huệ Chi trong bài Nguyễn Triệu Luật - cây bút tiểu thuyết lịch
sử xuất sắc của nền tiểu thuyết Việt Nam hiếm có người so sánh tổng kết lại
nội dung hội thảo Nguyễn Triệu Luật - con người và tác phẩm để rồi tác giả
kết luận: “Có thể nói sự nghiệp và cống hiến của Nguyễn Triệu Luật, đúng
như tiêu đề bài viết của Phạm Toàn, kết tinh trong sáu chữ: Tài hoa - uyên bác
- dấn thân. Các bản tham luận đều đánh giá cao tài năng xuất sắc và cống hiến
của ông đối với tiểu thuyết lịch sử và nhiều thể loại văn học khác thời kỳ
trước 1945 mà về sau cũng chưa dễ đã có người sánh kịp” [6].
Bài Nguyễn Triệu Luật - người viết tiểu thuyết lịch sử bị quên lãng của
Hà An trích dẫn lời nhận xét của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh - một hậu duệ
của Nguyễn Triệu Luật trong dòng tiểu thuyết lịch sử có nhắc tới ba bài tựa
Hòm đựng người (1937), Bà Chúa Chè (1938) và Ngược đường trường thi
phán, dòng văn học cách mạng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Từ tình hình nghiên cứu trên, trong điều kiện tư liệu và khả năng cho
phép, tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
11
3.1. Nhiệm vụ chính: Tìm hiểu một số đặc điểm về nội dung và hình
thức nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật. Từ đó khẳng định
sự đóng góp của tác giả này đối với nền văn học dân tộc nói chung, đối với
tiểu thuyết lịch sử nói riêng.
3.2. Để thực hiện nhiệm vụ chính như trên, luận văn còn có nhiệm vụ
khái quát đôi nét về tiểu sử, văn nghiệp cũng như quan điểm của Nguyễn
Triệu Luật khi viết tiểu thuyết lịch sử.
3.3. Ngoài ra, luận văn sẽ tìm hiểu một số vấn đề lí luận chung như giới
thuyết về tiểu thuyết lịch sử, sơ lược quá trình phát triển tiểu thuyết lịch sử ở
giai đoạn trước và cùng thời với tác giả nhằm tạo công cụ cho quá trình xử lí
nội dung đề tài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng khảo sát của luận văn là tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm 8 tác phẩm được tập hợp trong
cuốn Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật (do Nhà xuất bản Khoa học xã
hội ấn hành năm 2011).
1. Hòm đựng người (1938)
2. Bà Chúa Chè (1938)
3. Loạn kiêu binh (1939)
4. Ngược đường trường thi (1939)
5. Chúa Trịnh Khải (1940)
6. Rắn báo oán (1941)
7. Thiếp chàng đôi ngả (1941)
8. Bốn con yêu và hai ông đồ (1943)
5. Phương pháp nghiên cứu.
niệm viết tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Nguyễn Triệu Luật.
Chương 2: Nội dung tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật.
13
Trong phần này, luận văn nhằm đi sâu khám phá những mặt thành công
về nội dung của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật như đề tài, chủ đề, cảm
hứng chủ đạo, thế giới nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con người.
Chương 3: Nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật.
Trong phần này, luận văn sẽ trình bày những độc đáo của tiểu thuyết
lịch sử Nguyễn Triệu Luật trên phương diện nghệ thuật như mối quan hệ giữa
hư cấu với sự thật lịch sử, nghệ thuật kết cấu, nghệ thuật khắc họa nhân vật,
không gian, thời gian nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật và một vấn đề nữa
không thể thiếu đó là ngôn ngữ sử dụng trong các tác phẩm của nhà văn.
Phần kết luận của luận văn có tác dụng tổng kết lại những thành công
cũng như hạn chế thiếu xót của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật.
Phần phụ lục của luận văn tóm tắt ngắn gọn 8 tác phẩm tiểu thuyết lịch
sử Nguyễn Triệu Luật.
7. Đóng góp của luận văn.
Đề tài góp phần tái hiện diện mạo tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu
Luật - một tác giả viết tiểu thuyết lịch sử có nhiều thành tựu trong giai đoạn
sau của quá trình hiện đại hóa văn học 1930 - 1945 nhưng do nhiều nguyên
nhân mà chưa được nghiên cứu nhiều.
Trên cơ sở tìm hiểu quan niệm viết tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn
Triệu Luật cũng như vài nét về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, những thành
công về phương diện nội dung và nghệ thuật, luận văn nhằm khẳng định vị trí
của Nguyễn Triệu Luật đối với dòng tiểu thuyết lịch sử giai đoạn 1930 - 1945
nói riêng, tiểu thuyết lịch sử đầu thế kỉ XX đến năm 1945 nói chung. Kết quả
bước đầu này của luận văn sẽ góp phần bổ sung tài liệu cho việc nghiên cứu
thể loại tiểu thuyết lịch sử trong quá trình hiện đại hóa nền văn học cũng như
những điểm mới của nó với giai đoạn phát triển trước từ đầu thế kỉ XX đến
năm 1930.
sự kiện. Các nhà chép sử chủ yếu ghi chép sự kiện xảy ra ở một thời đại, một
triều đại, một giai đoạn nào đó trong lịch sử dân tộc qua các đời vua, chúa
khác nhau, phong tục tập quán, hiện tượng tự nhiên, mốc thời gian, những
nhân vật lịch sử có ảnh hưởng đến sự phát triển hay suy vọng của một triều
đại nào đó.
Bàn đến vấn đề khác nhau giữa tiểu thuyết lịch sử với sử học hay khoa
học về lịch sử hay lịch sử trong chính sử đã không ít những nhà nghiên cứu
16
nói đến một cách cụ thể và tương đối đầy đủ như Luccas, Nguyễn Đình Thi,
Nguyễn Lương Bích, Vũ Ngọc Phan, Tân Dân Tử… Tôi có thể tóm lược lại
những phương diện khác nhau sau:
- Điểm khác nhau trước hết, quan trọng nhất giữa sử học và tiểu thuyết
lịch sử đó là vấn đề tư duy. Nếu tư duy trong sử học là tư duy sự kiện lịch sử
theo năm, tháng, chính xác, nhân vật chính xác thì tiểu thuyết lịch sử là tư duy
hình tượng. Các nhà văn chỉ tập trung vào một số chi tiết sinh động để tạo nên
hình tượng nghệ thuật đặc sắc.
- Nếu mục đích của sử học là khám phá sự thật lịch sử, phản ánh gương
mặt khách quan của lịch sử thì tiểu thuyết lịch sử thông qua việc tái hiện lịch
sử rút ra những quan niệm và suy ngẫm về cuộc sống, về con người.
- Nếu nhiệm vụ của nhà sử học xem trọng biên niên, sự kiện, lấy sự thật
làm giá trị thì nhà viết tiểu thuyết lịch sử xem trọng hư cấu lấy hư cấu làm giá
trị. Vì vậy “nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử khác với nhà sử học ở chỗ họ phải
làm sống lại những tài liệu lịch sử bằng trí tưởng tượng, bằng hư cấu nghệ
thuật” [12,17].
- Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn nhân vật trong
chính sử như Luccas có viết: “Các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử phải sinh
động hơn cả các nhân vật lịch sử vì các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử được
trao cho sự sống còn của các nhân vật lịch sử thì đã sống” [30-31,17]. Hơn
nữa chính sử chỉ đủ đất cho những nhân vật chính như vua, chúa, quan lại,
người đứng đầu một cuộc nổi dậy… và hầu như không có chỗ cho quần
Thứ hai: Về hình thái tư duy.
18
Nếu tiểu thuyết lịch sử trong thời kì văn - sử bất phân có sự đan xen
giữa hai hình thái tư duy: luân lí và tư duy hình tượng tức là tư duy hình
tượng chưa lấn át hoàn toàn tư duy luân lý thì tiểu thuyết lịch sử hiện đại tư
duy hình tượng chiếm vị trí chủ đạo, tư duy luân lý tan biến vào trong hình
tượng.
Thứ ba: Về phương diện đề tài.
Trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trung đại hầu như chỉ đề cập đến đề
tài lịch sử và không phải là lịch sử quá khứ mà là lịch sử đương đại còn tiểu
thuyết lịch sử hiện đại không giới hạn về phạm vi đề tài và lịch sử được miêu
tả là lịch sử quá khứ có thể xa hoặc gần khác nhau tùy theo sự lựa chọn của
mỗi nhà văn.
Thứ tư: Về người sáng tác.
Nếu tiểu thuyết lịch sử hiện đại thuần túy là sự sáng tác của bản thân
một tác giả thì tiểu thuyết lịch sử trung đại hầu như là do tập thể sáng tác như
Hoàng Lê nhất thống chí do nhóm Ngô gia văn phái viết.
Thứ năm: Về chữ viết, bố cục.
Đối với tiểu thuyết lịch sử trung đại chỉ trừ Tây Dương Gia Tô bí lục là
chia quyển còn Hoàng Lê nhất thống chí, Nam triều công nghiệp diễn chí
hoàn toàn theo mô hình chương hồi Trung quốc và viết bằng chữ Hán. Mỗi
hồi chứa đựng một sự kiện chính có một câu đối ở đầu hồi, tóm gọn nội dung
sự kiện, cách trần thuật mở đầu bằng niên hiệu lịch sử, cách dẫn chuyện bằng
“nói về”, “lại nói”, “chuyện chia thành hai mối” y như là cách kể của tiểu
thuyết chương hồi.
Sự khác nhau của thể loại tiểu thuyết lịch sử ở hai thời kì trung đại và
hiện đại là do nguyên nhân từ quan niệm sáng tác văn chương. Trong thời
trung đại, quan niệm chủ đạo như mọi người đã thừa nhận là “văn dĩ tải đạo”,
“văn dĩ quán đạo”, “văn dĩ minh đạo”. Với quan niệm như thế thì trong sáng
19
- Bản chất của tiểu thuyết lịch sử là vừa đối thoại với lịch sử vừa đối
thoại với người đương thời về quá khứ để tìm mối quan hệ ngầm giữa xưa và
nay. Nó không phải là sự vẽ lại những sự kiện, nhân vật hay bức tranh về
phong tục tập quán trong quá khứ mà điều quan trọng là nhà văn phải “đi sâu
vào giải quyết những vấn đề quan trọng của con người, những vấn đề thiết
thân đối với con người, phải có một quan điểm nghệ thuật về con người tiến
bộ. Không những thế nhà văn phải tập trung thể hiện con người trong mối
quan hệ với cuộc sống” [17].
- Trong tiểu thuyết lịch sử thì lịch sử chỉ là cái cớ, nhân vật lịch sử là
chất liệu, là phương tiện để nhà văn xây dựng lên tác phẩm. Nếu như hư cấu
là kĩ thuật đương nhiên của nhà tiểu thuyết thì đối với tiểu thuyết lịch sử,
nghệ thuật hư cấu là lĩnh vực chủ yếu để nhà văn thể hiện sự sáng tạo của
mình. Tuy nhiên hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử có một nét đặc thù riêng tức
là phải căn cứ vào sự kiện và nhân vật lịch sử có thật. Do đó hư cấu giống như
chất phụ gia cho lịch sử chứ không thể làm sai lệch lịch sử. Vì vậy theo quan
điểm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, hư cấu trong tiểu
thuyết lịch sử phải có giới hạn, phải đảm bảo tính chân thực lịch sử. Những
chi tiết, sự kiện lịch sử thiếu chính xác có thể sẽ dẫn đến cách đánh giá sai
lệch và những suy diễn chủ quan làm cho người đọc hiểu sai về lịch sử. Bên
cạnh đó cần phải chú ý hư cấu còn xuất phát từ quan niệm nghệ thuật của mỗi
nhà văn khi viết tiểu thuyết lịch sử, cho nên cũng không nên tuyệt đối hóa nó
trong đánh giá thành công của tác phẩm bởi có nhà văn chủ trương trung
thành với lịch sử, có người lại đề cao sự sáng tạo của hư cấu. Vì vậy luôn phải
có cái nhìn khách quan đánh giá.
21
- Tiểu thuyết lịch sử phải có tính sinh động và một trí tưởng tượng
phong phú. Bởi lẽ tiểu thuyết lịch sử sẽ mất đi tính hấp dẫn nếu thiếu tính sinh
động và sự bay bổng của trí tưởng tượng, người đọc tìm đến loại hình tiểu
thuyết này không cốt nhằm thỏa mãn tri thức về các sự kiện mà họ muốn tìm
đến chân dung tinh thần của thời đã qua. Rồi từ thời đại đã qua suy ngẫm về
thiết lập, hệ tư tưởng Nho giáo trở thành quốc giáo, các vua Lê chỉ lo hưởng
thụ, không quan tâm tới tình hình chính trị trong nước, kết quả là quyền bính
về tay họ Mạc. Vua nhà Mạc cố giữ cho cỗ xe chính trị khỏi rơi xuống vực
nhưng lực bất tòng tâm. Trong lúc đó lòng hoài Lê đã bén rễ quá sâu vào tâm
trí tầng lớp trí thức và đám quan lại nhà Lê làm bùng lên cuộc nội chiến Lê -
Mạc. Thế kỉ XVI -XVII, đất nước tạo thành cục diện tam phân Mạc - Lê -
Nguyễn, đời sống nhân dân lầm than. Cuối thế kỉ XVIII, về cơ bản chiến cục
ba bên đã chấm dứt nhưng Đàng Ngoài hình thành ra một chính quyền hết sức
rối ren có vua lại có chúa. Đàng Trong cũng chẳng sáng sủa hơn. Chính vì
thế, chính trị trong nước ngày càng trở nên căng thẳng. Do đó, nhân dân hai
miền đã đồng khởi chống lại chính quyền phong kiến trên phạm vi toàn quốc
với quy mô lớn chưa từng thấy.
Hoàn cảnh xã hội ở trên đã ảnh hưởng đến bộ mặt sự thay đổi của văn
học mà về cơ bản văn học Việt Nam đã tiếp thu được tinh hoa văn học nước
ngoài mà chủ yếu là văn học Trung Hoa về cả ngôn ngữ sử dụng, cả thi liệu…
nhưng quan trọng nhất vẫn là các thể loại văn học như hịch, cáo, chiếu,
biểu… và không thể bỏ qua thể loại tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi chữ
Hán viết về vấn đề lịch sử. Do đó, tiểu thuyết chương hồi trung đại có thể
được coi là tiểu thuyết lịch sử.
Thực ra, tiểu thuyết lịch sử trung đại xuất hiện đầu thế kỉ XVIII với số
lượng tác phẩm không nhiều nhưng giữ một vai trò quan trọng trong tiến trình
phát triển của nền văn xuôi Việt Nam trung đại. Chúng ta phải kể đến các tác
23
phẩm như Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm (1719),
Thiên Nam liệt truyện (khuyết danh), Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm Ngô
gia văn phái, Hoàng Việt hưng long chí của Ngô Đậu Giáp, Việt Lam tiểu sử
của Lê Hoan. Như trên chúng ta có nói đến ảnh hưởng của nền văn học Trung
Hoa đến Việt Nam mà cơ bản thể hiện ở mặt thể loại. Đó chính là tiểu thuyết
chương hồi. Vì vậy lễ tất nhiên, tiểu thuyết lịch sử trung đại sẽ mang những
đặc điểm chung của tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa như kết cấu tác phẩm