KHÔNG GIAN LÀNG QUÊ TRONG TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH, THANH CHÂU, ĐỖ TỐN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN - Pdf 13

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
1. Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, văn học
Việt Nam phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá. Chỉ trong một thời
gian ngắn (từ 1930 đến 1945), văn học giai đoạn này đã đạt được những thành
tựu phong phú, rực rỡ trên nhiều lĩnh vực, đồng thời làm thay đổi diện mạo
nền văn học nước nhà.
Trong giai đoạn văn học 1930-1945, truyện ngắn là thể loại có sự phát
triển nhảy vọt và có đóng góp quan trọng cho tiến trình hiện đại hoá nền văn
học dân tộc. Đặc biệt, loại hình truyện ngắn trữ tình đã phát triển thành một
dòng riêng với đội ngũ các nhà văn hết sức đông đảo: Nhất Linh, Hoàng Đạo,
Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Thanh Châu,
Ngọc Dao, Nguyễn Xuân Huy, Đỗ Tốn, Tuy nhiên, các công trình nghiên
cứu trước đây mới chỉ tập trung vào một số nhà văn mà tên tuổi của họ đã
được khẳng định như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh. Mặt khác, có
những nhà văn “nếu ta đọc kỹ, nghiền ngẫm, sẽ thấy họ có những đóng góp
nhất định vào sự phát triển truyện ngắn dân tộc thời hiện đại” [52] như
Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn và rất nhiều tác giả khác lại chưa được tìm
hiểu một cách đúng mức. Bởi vậy, chọn ba tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu,
Đỗ Tốn, chúng tôi mong muốn hướng tới mục đích nhận diện thêm một số
cây bút trong dòng truyện ngắn trữ tình, đồng thời khẳng định vị trí và những
đóng góp của họ cho dòng truyện ngắn này.
2. Trong văn học Việt Nam, “làng quê” là một đề tài quen thuộc, đã đi
vào sáng tác của rất nhiều các nhà văn, nhà thơ. Ở giai đoạn văn học 1930 -
1945, đề tài này cũng trở thành mối quan tâm lớn của rất nhiều tác giả, trong
đó có ba tác giả Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn. Có thể thấy, cả ba nhà văn
này đều có xuất thân từ làng quê và sự tương đồng trong khuynh hướng sáng
1
tác nên trong sáng tác của họ có rất nhiều những trang viết về con người, cảnh
vật quê hương.

ảo” ấy là một thi sĩ.
Một nhà nghiên cứu khác là Thế Phong lại cảm nhận truyện ngắn
Thanh Tịnh ở góc độ: “Văn ông nhẹ nhàng, buồn gợi cảm dĩ vãng. Đôi khi
hướng về quá vãng sâu đậm… những kỉ niệm ấu thơ gợi qua giọng văn trầm
buồn” [62].
Sau này, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành
Khung … đều thống nhất cho rằng: “Mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh là một
bài thơ”, trong đó “nhiều truyện của Thanh Tịnh có khuynh hướng lãng mạn
rõ rệt”, còn “một số truyện khác lại có khuynh hướng hiện thực: một chủ
nghĩa hiện thực trữ tình”.
Bên cạnh những ý kiến đánh giá về truyện ngắn của Thanh Tịnh, còn
có một số bài viết, luận văn, luận án khác nghiên cứu về những tác phẩm của
ông. Tác giả Phạm Thị Thu Hương với luận án: “Ba phong cách truyện ngắn
trữ tình Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh” đã có những nghiên cứu rất
công phu về đặc điểm phong cách truyện ngắn Thanh Tịnh, đặc biệt ở thế giới
nhân vật và chất thơ trong truyện ngắn của nhà văn.
Trong một số các bài nghiên cứu, đề tài “làng quê” trong truyện ngắn
Thanh Tịnh cũng được một số tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá.
Bài viết của tác giả Lưu Khánh Thơ đăng trên “Tạp chí sông Hương”
(số 141) đã nêu lên những đặc điểm rất riêng của truyện ngắn Thanh Tịnh:
“Đặc trưng lớn nhất trong nghệ thuật truyện ngắn của Thanh Tịnh là ông
thường miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật bằng cảm giác. “Cái tôi” của
tác giả khiêm nhường đứng đằng sau những con người bình thường và nhỏ
bé. “Cái tôi” của những cảm giác, cảm xúc mơ hồ, thoáng qua rất khó nắm
3
bắt. Những trạng thái tâm lý của nhân vật ít khi được bộc lộ một cách trực
tiếp, cụ thể mà thường được thể hiện nhẹ nhàng, kín đáo. Thanh Tịnh tập
trung sự chú ý của mình vào đời sống nội tâm của nhân vật, đặc biệt là
những xao động bất chợt, những giây lát gặp gỡ tình cờ mà làm khuấy động
cả một nếp sống thường ngày bình lặng” [54].

về tập truyện ngắn “Trong bóng tối”, nhà nghiên cứu Phan Diễm Phương đã
viết:“Trong bóng tối là tập truyện ngắn đầu tay của Thanh Châu nhưng đã
vạch ra một đường hướng mà các tác giả sẽ còn tiếp tục phát huy. Đó là
những truyện không thật có chuyện, chủ yếu diễn tả suy nghĩ, tâm trạng của
các nhân vật. Họ phần lớn là những người thuộc tầng lớp tiểu tư sản thị dân
mà tác giả có điều kiện tiếp xúc, hiểu biết” [61]. Đặc biệt, với truyện ngắn
“Hoa ti gôn”, Thanh Châu đã khẳng định được tiếng nói riêng trên văn đàn
văn học Việt Nam những năm 30 và bắt đầu được dư luận chú ý. Nhận xét về
truyện ngắn này của Thanh Châu, nhà văn Bùi Hiển viết: “truyện ngắn “Hoa
ti gôn” của Thanh Châu (7/1937) đã góp hương sắc và tiếng nói riêng biệt
của mình, giản dị đến mức mộc mạc, chân tình, sâu lắng, thoáng chút buồn
êm dịu, thiết tha. Thanh Châu kiên trì đi theo con đường ấy, không bao giờ
mãnh liệt, công phá. Ngòi bút ông chỉ tựa hồ lời thủ thỉ tâm tình, nhắn nhủ
hoặc nhắc nhở rằng mỗi con người chúng ta, giữa cái cảnh đời trần trụi,
khốn khó này, ít ra còn có một vật báu sở hữu, đó là một trái tim, một linh
hồn” [30].
Trong Từ điển văn học (Bộ mới, 2004), khi so sánh Thanh Châu với
Thạch Lam, nhà nghiên cứu Văn Tâm đã nhận xét: “Đọc Thanh Châu, độc
giả bắt gặp phảng phất không khí một số dòng viết của Thạch Lam (Tà áo
lụa), Hồ Dzếnh (Cơn giông), Tô Hoài (Trên bãi), Nam Cao (Đi nghỉ mát)”
5
[62]. Đồng thời nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong truyện ngắn
của ông: “Văn Thanh Châu còn thiếu chất thơ man mác như Thạch Lam, nỗi
u hoài đầy ám ảnh của Hồ Dzếnh, nụ cười ngán ngẩm ý vị của Tô Hoài, sự
sắc lạnh, sâu xa của Nam Cao. Cốt truyện của ông còn đơn giản” [61]. Tuy
nhiên những điểm mạnh, điểm sáng trong văn Thanh Châu cũng được nhà
nghiên cứu Văn Tâm nhấn mạnh: “Bù đắp lại, truyện ngắn của ông thường
chứa đựng những yếu tố tinh thần khả thủ: tâm trạng xót xa trước những kiếp
người bất hạnh, thái độ tán thành đức hy sinh, lòng chung thuỷ…Truyện
Thanh Châu có khả năng giúp con người hướng thiện”.

Trong lời giới thiệu cho tập truyện ngắn “Hoa vông vang” (Nhà xuất
bản Đồng Tháp năm 1989, GS.Lê Trí Viễn đã nhận xét: “Cái khéo, cái chắc
của ngòi bút thì đáng ghi nhận. Cá tính sáng tạo đã hằn lên khá rõ. Câu chữ
có khi còn tì vết nhưng tâm hồn thực sự có sức vang ngân” [67].
Trong Từ điển tác phẩm văn xuôi từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1945,
mục viết về tập truyện ngắn “Hoa vông vang” của Đỗ Tốn, tác giả Bích Thu
đã đánh giá: “Hoa vông vang là tập truyện đầu tay của Đỗ Tốn nhưng tác
giả đã có một bút pháp già dặn, từng trải nhất là ở cách bố cục, cách dẫn
truyện, cách miêu tả chi tiết. Đỗ Tốn cũng tỏ ra tài hoa, tả tình, tả cảnh với
những xúc cảm man mác, bâng khuâng. Lời văn trong Hoa vông vang cũng
nhẹ nhàng mà thấm thía với những nhận xét tinh vi về tâm hồn con người”
[60]
Trong Từ điển văn học (bộ mới), mục viết về tác giả Đỗ Tốn, tác giả
Phạm Thị Thu Hương đã nhận xét: “Hoa vông vang là những truyện không
có chuyện, trong đó tác giả sử dụng bút pháp gợi nhiều hơn tả, viết bằng cảm
7
giác nhiều hơn là bằng ý nghĩ. Tâm hồn nhạy cảm và ít nhiều còn non dại của
tuổi hoa niên đã giúp nhà văn cảm nhận thật tinh tế và sâu sắc mùi vị của
đồng quê cùng những biến đổi mơ hồ, khó nắm bắt trong thế giới nội tâm con
người”[62].
Lúc khác, tác giả lại viết: “Mặt khác, Đỗ Tốn lại có sự già dặn của một
người đã sống nhiều, trải nhiều khi viết về những cảnh đời, những kiếp người
mòn mỏi, tàn lụi đi theo thời gian. Nhiều khi chỉ bằng những chi tiết ngỡ như
không có gì nhưng Đỗ Tốn đã gửi gắm vào đó những chiêm nghiệm độc đáo
về cuộc đời, về tình yêu. Đồng thời, qua những trang viết nhẹ nhàng, đôi khi
chập chờn và lỏng lẻo, Đỗ Tốn lại bộc lộ tình yêu sâu nặng, thấm thía với quê
hương, xứ sở”[62].
Những nghiên cứu về truyện ngắn của Đỗ Tốn nói chung rất hiếm hoi
và lại càng hiếm hơn những ý kiến tìm hiểu, khai thác về không gian làng quê
trong truyện ngắn của ông nói riêng. Ý kiến của các nhà nghiên cứu trong Từ

Ngoài ba tập truyện ngắn này, luận văn còn sử dụng thêm một số tác
phẩm của các tác giả được sáng tác trước năm 1945 hay được in rải rác trên
báo chí. Đồng thời trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn khảo sát thêm
một số truyện ngắn của các tác giả khác trong dòng truyện ngắn trữ tình như:
Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Nguyễn Xuân Huy,… hoặc các tác phẩm của các tác
giả văn học hiện thực để làm đối sánh.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Không gian làng quê trong truyện ngắn Thanh Tịnh,
Thanh Châu, Đỗ Tốn”, luận văn hướng tới mục đích nhận diện thêm một số
9
cây bút của dòng truyện ngắn trữ tình và làm nổi bật cái nhìn riêng của các
nhà văn khi viết về đề tài làng quê.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Do mục đích, yêu cầu và phạm vi nghiên cứu nên luận văn chỉ sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu sau:
1. Phương pháp phân tích chứng minh
Luận văn sử dụng phương pháp này để phân tích, chứng minh các luận
điểm thông qua các tác phẩm của ba nhà văn Thanh Tịnh, Thanh Châu, Đỗ Tốn.
2. Phương pháp so sánh
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh sẽ giúp chúng tôi chỉ ra những
điểm riêng của ba cây bút khi viết về cùng một đề tài với các nhà văn khác
trong dòng truyện ngắn trữ tình và các tác giả của các dòng truyện ngắn khác.
3. Phương pháp tổng hợp khái quát
Trên cơ sở phân tích để làm sáng rõ các luận điểm nghiên cứu, sau mỗi
thao tác chúng tôi tiến hành tổng hợp các phần lại với nhau, khái quát thành
những điểm chung nhất để đem đến cho độc giả cái nhìn bao quát nhất về vấn
đề được đặt ra.
Các phương pháp này có liên quan chặt chẽ và có ý nghĩa bổ trợ nhau,
được sử dụng phối hợp linh hoạt trong quá trình nghiên cứu.
V. Đóng góp của luận văn

thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Không có
hình tượng nghệ thuật nào không có không gian …và không có nhân vật nào
không có một nền cảnh nào đó” [49]. Không gian nghệ thuật là phương thức
tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật trở thành
phương tiện chiếm lĩnh đời sống, “mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật”. Và
sự miêu tả, trần thuật bên trong tác phẩm văn học bao giờ cũng xuất phát từ
một điểm nhìn, ta xác định được vị trí của chủ thể trong không - thời gian, thể
hiện ở phương hướng nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định. Không
gian nghệ thuật có bốn đặc trưng cơ bản:
1. Không gian nghệ thuật mang tính chủ quan.
2. Ngoài không gian vật thể có không gian tâm tưởng.
3. Không gian nghệ thuật có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của
bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự.
4. Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác
phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng mà còn cho thấy quan niệm về thế
giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học. Nó cung
12
cấp sơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu các loại
hình của các hình tượng nghệ thuật.
Như vậy, không gian nghệ thuật là một hình thức, một kiểu tư duy nghệ
thuật của nhà văn, qua đó bộc lộ quan niệm, thái độ của nhà văn về hiện thực
đời sống. Chính đặc điểm này đã phân biệt không gian nghệ thuật với những
không gian khác chỉ là nơi tồn tại mà không phải là không gian nghệ thuật.
Trong mỗi tác phẩm văn học, khi câu chuyện về một số phận, một hiện tượng
hay một sự việc nào đó được kể lại, nhà văn thường phải đặt nó trong một bối
cảnh không gian, thời gian nhất định. Có thể là không gian của một con
đường, một dòng sông, một cánh đồng hay một ngôi nhà,… Nhưng bản thân
những không gian vật thể đó chưa phải là không gian nghệ thuật nếu nó
không ngầm chứa bên trong hình tượng nghệ thuật nhằm biểu hiện mô hình
thế giới về con người. Do đó, không thể đồng nhất không gian trong tác phẩm

thẩm mĩ”[49]. Điều này rất quan trọng khi đi sâu tìm hiểu, khám phá thế giới
nghệ thuật trong mỗi sáng tác của mỗi nhà văn.
1.2. Không gian làng quê trong văn học Việt Nam trước 1945
Quê hương làng cảnh Việt Nam là một đề tài lớn xuyên suốt trong nền
văn học dân tộc. Ở mỗi thời kì văn học, các nhà văn, nhà thơ đều viết về đề
tài này và ít nhiều trong số họ đã đạt được những thành công nhất định. Bởi
đất nước Việt Nam gắn với nền nông nghiệp lúa nước, hơn 80% dân số là
nông dân đã sống ngàn đời sau lũy tre làng với những thuần phong mỹ tục và
những nếp sinh hoạt văn hóa cổ truyền. Tất cả những gì thuộc về thiên nhiên,
con người đậm chất Việt đều được thể hiện rõ nhất trong những trang viết về
tình yêu quê hương đất nước, tình nghĩa xóm làng hay những nét đẹp của
những con người chốn quê mùa: mộc mạc, hồn nhiên, chân chất cùng với bao
14
nếp sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc của mỗi vùng miền. Từ xưa đến
nay, từ văn học dân gian đến văn học viết, quê hương, làng cảnh, con người
Việt Nam đều được tái hiện rất đẹp, rất chân thực.
Trong nền văn học dân gian, đặc biệt thể ca dao, có riêng một mảng thơ
nói về tình yêu quê hương đất nước. Ở đó những bức tranh phong cảnh của tất
cả các vùng miền trên quê hương đất Việt đều được các tác giả dân gian tái
hiện rất sinh động. Người đọc có thể bắt gặp hình bóng quê hương mình trong
mỗi dáng hình ngọn núi, con sông. Những bức tranh thiên nhiên rất đẹp về
thiên nhiên, con người Việt Nam trong ca dao đã thể hiện niềm tự hào về vẻ
đẹp non sông gấm vóc và tình yêu quê hương đất nước thiết tha sâu nặng của
mỗi tâm hồn mỗi người con đất Việt. Bởi vậy, khi đi xa quê hương, dù ở
chân trời góc bể nào, trái tim mỗi người vẫn luôn hướng về quê hương, vẫn
luôn nhung nhớ thiết tha những bóng hình yêu dấu: “Anh đi anh nhớ quê nhà/
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai giãi nắng dầm sương/ Nhớ ai
tát nước bên đường hôm nao”.
Đến văn học viết, trước hết là giai đoạn văn học trung đại, cũng có
không ít những nhà thơ, nhà văn viết về làng quê Việt. Nguyễn Trãi là một

sự sâu kín. Đó cũng chính là lời nhận xét của GS.Nguyễn Đình Chú về bức
tranh làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến: “Bức tranh làng quê này đại thể có
hai mảng: cảnh vật của đất trời và cuộc sống con người. Cảnh đất trời thì
thanh xơ, xinh đẹp đáng yêu biết bao nhưng phơn phớt một sắc buồn toả ra từ
nỗi buồn thời thế của Nguyễn Khuyến ở buổi ấy. Còn cuộc sống con người thì
tiêu điều, xơ xác quá đỗi” [12]. Mặc dù vậy, những bài thơ viết về quê hương
của Nguyễn Khuyến vẫn là những sáng tác hết sức tiêu biểu khiến ông trở
thành “Nhà thơ của làng cảnh quê hương Việt Nam” (Xuân Diệu). Như vậy,
16
trong giai đoạn văn học trung đại, các tác giả đã phần nào đề cập đến khung
cảnh thiên nhiên làng quê. Tuy nhiên thơ ca trung đại vì chịu sự chi phối lớn
của thi pháp thơ Đường với bút pháp ước lệ tượng trưng nên những bức tranh
về không gian làng quê vẫn chưa thực sự hiện lên sáng rõ.
Trong nền văn học hiện đại, đề tài làng quê được tiếp tục triển khai và
thực sự trở thành đề tài nổi bật trong các sáng tác của các nhà văn, nhà thơ.
Nền văn học giai đoạn này có sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn học phương Tây,
với lực lượng sáng tác chủ yếu là các trí thức Tây học, đặc biệt sự cởi trói về
cái tôi cá nhân đã khiến cho văn học có sự phát triển mạnh mẽ, tiến theo con
đường hiện đại hoá. Ở mọi thể loại văn học, đề tài về làng quê đã được khai
thác một cách triệt để với những đặc điểm rất riêng trong từng dòng, từng trào
lưu văn học. Thơ ca giai đoạn này, đặc biệt là phong trào thơ mới đã phát
triển mạnh mẽ mà mỗi bước phát triển đều gắn liền với những tên tuổi tác giả
tiêu biểu. Và chỉ đến giai đoạn này, thơ viết về làng quê mới thực sự trở nên
phong phú. Bởi mỗi nhà thơ đều có một quê hương. Những hình ảnh thân
thuộc về quê nhà yêu dấu luôn ghi sâu trong tâm thức mỗi người và trở thành
nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca. Hơn nữa vẻ đẹp bình dị, êm đềm của
khung cảnh làng quê rất phù hợp với thẩm mỹ sáng tác của các nhà thơ mới.
Vì vậy trong sự nghiệp sáng tác của bất kì nhà thơ nào trong giai đoạn này, ta
cũng có thể bắt gặp một đôi bài hay một đôi câu hay nhất về làng quê. Các
nhà thơ như Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Tế Hanh,… tuy không viết nhiều về làng

tiêu biểu nhất. Ông là một nhà thơ rất “chân quê” và đã mang đến cho thơ ca
một hồn thơ đậm chất quê. Trong Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình văn học
Hoài Thanh đã nhận xét rằng: “… Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ưa
sống trong tình quê mà ít chú ý đến cảnh quê”. Cái “tình quê” trong thơ
18
Nguyễn Bính là tình người hồn hậu, ấm áp, đầy chân tình giữa những con
người sống trong cộng đồng làng quê: tình nghĩa xóm giềng, tình thân gia
đình. Cái tình quê trong thơ ông rất chân tình, tha thiết, nhuốm đẫm cả cảnh
vật: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi / Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn”
(Người hàng xóm), “Em ơi em trở lại nhà / Vườn dâu em đốn, mẹ già em
chăm”. Chính cái tình quê thấm đẫm trong cảnh vật ấy đã khiến cho làng quê
trong thơ Nguyễn Bính có một vẻ đẹp rất riêng, khác biệt với các nhà thơ
cùng thời, một vẻ đẹp vừa hiện thực vừa lãng mạn. Có thể thấy, nhân vật
trong thơ Nguyễn Bính rất đông đúc: người mẹ, người chị, người em, người
hàng xóm, cô láng giềng, cô lái đò…Mỗi bài thơ của ông như một câu chuyện
về con người, cuộc sống nơi quê nhà. Điều này cũng tạo cho nhà thơ chân quê
một thế giới nghệ thuật riêng như PGS.TS Lê Quang Hưng có nhận xét: “Thế
giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính đầy ắp sự việc và phong phú nhân vật.
Không một thi sĩ thơ mới lãng mạn nào đem lại cho ta cảm giác đầy đủ, sung
mãn trên phương diện này như Nguyễn Bính. Rất nhiều bài thơ của ông nếu
nhẩn nha kể, có thể “tóm tắt cốt truyện” được” [22]. Như vậy trải qua một
thời gian dài phát triển, thơ ca viết về làng quê có sự phát triển, đạt nhiều
thành tựu và đã kết tinh nhiều nhất trong phong trào thơ mới cùng những
gương mặt nhà thơ tiêu biểu. Những bức tranh về làng quê trong sáng tác của
các nhà thơ mới không chỉ gợi lên niềm tự hào về cảnh đẹp non sông xứ sở
mà còn chứa đựng những tình cảm yêu nước sâu kín trong mỗi tâm hồn nhà
thơ trong thời đại bấy giờ.
Bên cạnh sự phát triển của đề tài làng quê trong thơ ca, nền văn xuôi
hiện đại Việt Nam cũng có những thành tựu đặc sắc về đề tài này. Văn xuôi
viết về làng quê kết tinh thành tựu tiêu biểu hơn cả trong thể loại tiểu thuyết

20
tương lai mới tươi sáng hơn. Họ cũng rơi vào hoàn cảnh khốn cùng của cái
đói, nằm cận kề giữa ranh giới của sự sống và cái chết nhưng cuối cùng nhà
văn đã tìm ra cho họ một con đường giải thoát khỏi số phận bất hạnh. Bởi vậy
những truyện ngắn của Kim Lân buồn nhưng không bi lụy. Có thể nói, các
nhà văn hiện thực đã dựng lên một bức tranh nghệ thuật tương đối toàn diện
về bức tranh làng quê Việt Nam trước cách mạng tháng Tám một cách chân
thực, sinh động và đầy ám ảnh.
Từ đầu những năm ba mươi, trong nền văn học hiện đại Việt Nam,
khuynh hướng lãng mạn đã phát triển thành trào lưu lãng mạn chủ nghĩa. Đó
là khuynh hướng thẩm mỹ chú trọng đề cao cái Tôi cá nhân được giải phóng
về mặt tình cảm, cảm xúc để thể hiện những khát vọng mơ ước. Nó đề cao cái
Tôi cá nhân, đề cập đến quan hệ riêng tư, những số phận cá nhân có mối bất
hoà với thực tại nên thường tìm cách thoát khỏi hiện thực bằng cách đi sâu
vào thế giới nội tâm, thế giới mộng ước. Khuynh hướng coi nỗi buồn cái đau
chính là cái đẹp nên thường nói đến những chuyện thất tình, nỗi cô đơn, cảnh
biệt ly và cái chết. Bởi vậy các nhà văn trong khuynh hướng này thường tập
trung sáng tác về các đề tài tình yêu, thiên nhiên, tôn giáo. Những thành tựu
nổi bật của trào lưu này được kết tinh ở tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, sau
đó là văn xuôi trữ tình của các tác giả Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh,
Thanh Châu, Nguyễn Xuân Huy, Đỗ Tốn… Văn xuôi viết về làng quê của
những cây bút trong Tự lực văn đoàn thường miêu tả bức tranh làng quê trong
sự giao thoa giữa hai luồng tư tưởng, hai lối sống phong kiến và hiện đại, dân
chủ. Đó còn là sự tấn công mạnh mẽ vào thành trì kiên cố của những quan
niệm, lễ giáo phong kiến kiềm toả cái tôi tự do sống, tự do yêu đương của mỗi
cá nhân trong Nửa chừng xuân (Khái Hưng), Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn
của Nhất Linh, Làm lẽ của Mạnh Phú Tứ. Riêng với nhà văn Thạch Lam, ông
lại có hướng viết rất riêng về làng quê. Truyện ngắn của ông lại là bức tranh
21
cuộc sống buồn tẻ, tù đọng, mòn mỏi, quạnh hiu của người nông dân trước

thanh tĩnh, mộng mơ gắn liền với những câu hát mái nhì mái đẩy đã thấm
đẫm trong những lời hát ru với tâm hồn nhà văn từ khi còn nhỏ. Chính vẻ đẹp
của cảnh vật, con người, truyền thống văn hoá của riêng quê hương xứ Huế đã
trở thành cội nguồn sáng tạo vô tận cho con đường nghệ thuật của nhà văn.
Điều đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến những truyện ngắn của Thanh Tịnh sau
này khi mỗi truyện ngắn của ông đều mang đậm những nét thân thuộc về cảnh
vật, con người nơi ông đã gắn bó suốt thời thơ ấu. Những truyện ngắn viết về
làng quê của Thanh Tịnh lại hay miêu tả những con sông quê hương êm đềm
chảy giữa đôi bờ xanh biếc, tạo nên không gian đặc trưng trong tác phẩm của
ông. Hơn nữa, miền quê Thanh Tịnh ở còn gần với ga xép. Như vậy ngôi làng
mà nhà văn sống ở giữa không gian bên này là dòng sông thơ mộng êm chảy
và sóng đối phía bên kia lại là nhà ga với đường ray xe lửa. Chính sự sóng đối
của hai không gian này dường như đã trở thành một nguyên mẫu rất tự nhiên
đi vào những truyện ngắn trong “Quê mẹ”.
Sinh thời, khi còn đi học, Thanh Tịnh còn đặc biệt rất thích truyện ngắn
của hai nhà văn Pháp An-phông-xơ Đô-đê và Mô-pát-xăng. Chính sự đam mê
những tác phẩm của hai nhà văn này có lẽ đã hình thành nên cho nhà văn sau
này một khuynh hướng thẩm mỹ trong sáng tác, theo khuynh hướng lãng mạn
Đồng thời, người đọc dễ dàng nhận ra bóng dáng sự ảnh hưởng của những
truyện ngắn của Thanh Tịnh từ các nhà văn này trong cách xây dựng nhân vật
truyện là cậu bé xưng “tôi”, kể lại những câu chuyện về ngày thơ ấu. Bởi
dòng tiểu thuyết viết về thời thơ ấu cũng là một khuynh hướng của văn học
phương Tây hiện đại. Ở điểm này, nhà văn Thanh Tịnh có sự gặp gỡ với
23
Thạch Lam. Truyện ngắn của hai nhà văn đều xây dựng lên hình tượng nhân
vật “tôi” thường ngoái nhìn lại quá khứ thông qua những câu chuyện được kể
lại bằng những hồi ức và kỉ niệm, đặc biệt là kỉ niệm thời thơ ấu.
Thanh Tịnh sinh ra và lớn lên trên quê hương xứ Huế nhưng một nửa
quãng thời gian cuộc đời sau này, ông lại chủ yếu công tác và sinh sống ở Hà
Nội và không có mấy dịp trở lại thăm quê cũ. Sâu thẳm trong tâm hồn người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status