1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ NGỌC HÂN
THƠ LỤC BÁT PHẠM THIÊN THƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI] HỌC VINH
VÕ THỊ NGỌC HÂN
THƠ LỤC BÁT PHẠM THIÊN THƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
MÃ SỐ: 60.22.34
Giảng viên hướng dẫn: T.S. Lê Thời Tân
4
2.2. Thơ lục bát Phạm Thiên Thư mang đậm tính lịch sử ...................................52
Chương 3: ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT THƠ LỤC BÁT PHẠM THIÊN THƯ
...............................................................................................................................61
3.1. Thể thơ lục bát của Phạm Thiên Thư.............................................................61
3.2. Ngôn ngữ thơ lục bát của Phạm Thiên Thư...62
3.3. Giọng điệu thơ lục bát của Phạm Thiên Thư.....................................70
3.4. Một số thủ pháp, bút pháp trong thơ lục bát của Phạm Thiên Thư........72
3.5. Nhạc điệu trong thơ lục bát của Phạm Thiên Thư.........................................80
3.6. Ảnh hưởng ca dao, dân ca Việt Nam trong thơ lục bát của Phạm Thiên Thư
...............................................................................................................................96
KẾT LUẬN.......................................................................................................102
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................104
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lục bát là một thể thơ rất phổ biến trong văn học dân gian cũng như văn
học viết. Thể thư truyền thống này vốn đã tinh tế, giàu nhạc điệu trong những
câu ca dao, đạt đến trình độ mẫu mực trong kiệt tác Truyện Kiều. Và đến nay, nó
vẫn không ngừng tìm ra hướng đi mới để làm phong phú nội dung và hình thức
thể loại. Cho dù phát triển theo hướng nào đi nữa, các nhà thơ vẫn chú ý phát
huy tính mềm mại, uyển chyển của thanh điệu và nhịp điệu câu lục bát. Đây
chính là thế mạnh mà không một thể loại thơ nào khác có thể có và thay thế
được.
Tuy nhiên, thể thơ lục bát đã không còn sức quyến rũ đối với các nhà thơ
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của người đi trước, bản thân muốn đưa ra
một số nhận xét nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm những đóng góp về nội dung
và nghệ thuật thơ lục bát của Phạm Thiên Thư.
2. Lịch sử vấn đề
Phạm Thiên Thư xuất hiện trên thi đàn khá muộn, nhưng ông đã
góp vào kho tàng văn học một khối lượng lớn tác phẩm văn học nghệ thuật khá
độc đáo. Suốt cả cuộc đời Phạm Thiên Thư đã cống hiến hết mình và sáng tạo
không biết mệt mỏi cho đời và văn học nghệ thuật. Vì vậy thơ ông đã thu hút sự
chú ý quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà lí luận phê bình. Nhìn chung,
trên báo chí, sách vở vẫn luôn tồn tại nhiều cách nhìn nhận đánh giá khác nhau
về Phạm Thiên Thư và các tác phẩm của ông. Khi các tác phẩm của Phạm Thiên
Thư được nhận giải thưởng, cũng là lúc sự nghiệp sáng tác của ông đã khẳng
định vị trí của mình trong nền văn học dân tộc, đặc biệt là văn học miền Nam lúc
bấy giờ. Mặc dù chưa có nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp văn học của
Phạm Thiên Thư, nhưng có nhiều chuyên luận của các tác giả Việt Nam đã đi
đến những nhận định và nhất trí về tư tưởng thơ Phạm Thiên Thư. Ông là một
trong những nhà thơ xứng đáng tiêu biểu cho dòng thơ ca về lịch sử dân tộc
7
“Người viết sử bằng thơ” với thể thơ của dân tộc mang một tinh thần hiện đại.
Đó là thể lục bát.
Nghiên cứu thơ Phạm Thiên Thư có rất nhiều chuyên luận, các tạp chí đề
cập đến tiêu biểu như.
Cuốn Lục bát hậu truyện Kiều của Phạm Đan Quế, nhà xuất bản thanh niên
năm 2002 đã đánh giá cao về sự nghiệp sáng tác của Phạm Thiên Thư: “Trong
những quyển hậu Kiều thì Đoạn trường Vô Thanh của Phạm Thiên Thư là thành
công hơn cả, ít nhất về cái bình dị, tự nhiên đậm chất ca dao dân ca trong câu thơ
lục bát. Tác phẩm đã đoạt giải nhất văn chương tại miền Nam tạm chiếm năm
cuộc sống ta bà, lặng yên thi hóa kinh phật”. Đọc thơ ông, ta tìm thấy những điều
phong phú và mới lạ về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Giữa một thời đạn lửa,
ông bình thản lập cho mình một cõi thi ca riêng: trong trẻo, trữ tình và đậm chất
Thiền” [25]
Vào năm 2007 Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã ghi nhận Phạm Thiên
Thư là “người Việt Nam đầu tiên sáng tác Từ điển cười bằng thơ”, và năm 2009
tác phẩm Kinh Hiền Ngu của ông đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam
công nhận kỷ lục “tác phẩm thi hoá theo thể thơ lục bát dài nhất Việt Nam”.
Lê Thanh Cảnh với bài viết Đôi dòng cảm đề cũng đã bày tỏ cảm nhận của
mình về Phạm Thiên Thư “ Qua tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh, Phạm Thiên
Thư, với lời thơ thanh nhã và siêu thoát đã xứng đáng đứng vào hàng ngũ con
dân khả ái của Đất Nước vậy” [49 – tr 230]
Vương Mộng Giác với bài viết Cảm đề sau khi đọc xong Đoạn Trường Vô
Thanh cũng cho rằng: “Thi ca của Phạm tiên sinh tiếp nối suối nguồn thi ca dân
tộc Việt và thi ca Nguyễn Du. Qua miền đoạn trường, kẻ thức giả chợt nhận ra
rằng, thì ra thi ca cũng là tiếng kêu sâu thẳm của một thực tại vĩnh cửu, có năng
lực diệu dụng độ khách lữ thứ qua bến hàn giang vào một chiều thu cô liêu”[49 –
tr 224]
9
Giáo sư Cao Xuân Hạo – Nhà ngôn ngữ học trong bài Đôi lời Vô Thanh
cũng có nhận xét về Phạm Thiên Thư, tác giả cuốn Đoạn Trường Vô Thanh, kể
đến nay thành công hơn cả. Những dòng thơ lục bát rất gần gũi với câu Kiều và
thiên tự sự đầy hình tượng và màu sắc của anh về đoạn sau của đời nàng Kiều
mà Nguyễn Du chưa kịp viết” [49 – tr 202]
Trong Nhuận sắc của Trần Phế Phiệt khi bàn đôi nét về hát ru Việt sử thi
của nhà thơ Phạm Thiên Thư: “ Sự nghiệp văn chương của Phạm Thiên Thư gắn
liền vơi thể thơ đậm đà sắc thái dân tộc và mang âm hưởng của ca dao. Ông đã
Làm sáng tỏ được những đóng góp về nội dung và nghệ thuật của thơ lục bát
Phạm Thiên Thư
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát những nét chung về đời và thơ của Phạm Thiên Thư
- Khảo sát thơ lục bát của Phạm Thiên Thư
- Tìm hiểu những đặc điểm về nội dung trong thơ lục bát Phạm Thiên Thư
- Tìm hiểu nghệ thuật thơ lục bát của Phạm Thiên Thư
4. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và tư liệu, bản thân chỉ tập trung khảo sát những đóng
góp của Phạm Thiên Thư ở thể thơ lục bát xoay quanh các tác phẩm:
- Phạm Thiên Thư - Đoạn trường vô thanh, Nxb. Văn nghệ.
- Phạm Thiên Thư – Trại hoa đỉnh đồi, Nxb. Văn nghệ.
- Phạm Thiên Thư – Thơ, Nxb. Văn nghệ
- Phạm Thiên Thư - Kinh Hiền (Thi hoá Kinh Hiền Ngu)
Trong quá trình thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh, tôi có thể sử dụng thêm
một số tư liệu có sẵn được trích dẫn lại trong các công trình có liên quan đến nội
dung đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi sẽ vận dụng chủ yếu các phương pháp sau:
11
- Phương pháp thống kê - phân loại .
- Phương pháp so sánh - đối chiếu .
- Phương pháp phân tích - tổng hợp .
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành.
6. Đóng góp của luận văn
Qua luận văn này, tôi mong muốn hệ thống hóa các quan điểm đánh giá, phê
bình về thơ Phạm Thiên Thư, để chỉ ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ
thông qua đó ông đã ngộ ra một điều: đó là, ông đã tự tìm cho mình một cõi
riêng, một kiểu tu hành riêng...Nhờ ở chùa, ông được tiếp xúc sâu sắc với giáo lý
nhà Phật. Và cũng nhờ ở chùa, ông đã không phải cầm súng bắn vào đồng bào
mình do việc bắt lính gắt gao của chế độ Sài Gòn.
Con người Phạm Thiên Thư là con người luôn sống theo cái qui luật của câu
tục ngữ dân gian “thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa” nên dù
mặc áo cà sa suốt 9 năm, nhưng ông vẫn hoàn tục và tiếp tục sáng tác thơ văn.
1.1.2. Hành trình thơ Phạm Thiên Thư
Phạm Thiên Thư là một nhà thơ có vị trí quan trọng trong văn học miền
Nam Việt Nam hiện đại. Trong khoảng 50 năm cầm bút, ông để lại cho đời một
di sản văn học đa dạng và phong phú về nội dung và hình thức. Ở lĩnh vực nào
thì Phạm Thiên Thư cũng đều đạt được thành tựu lớn và để lại dấu ấn riêng trong
sáng tác.
Giữa một thi đàn với hàng ngàn cây bút, năm 1968, ngay tập thơ đầu tiên ông
đã lấy tên: Thơ Phạm Thiên Thư. Là một tu sĩ Phật giáo, ông nghiên cứu về thiền
và bắt đầu làm thơ với những thi phẩm ở dạng khá độc đáo. Từ đó ông liên tục
cho ra đời nhiều tác phẩm lớn có giá trị, đặc biệt là thơ đạo.
Với những tác phẩm đầu tay của Phạm Thiên Thư, ông đã đem đem đến
cho văn học miền Nam một tiếng thơ trẻ và rất lạ. Chính tiếng thơ ấy đã rung
13
động nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ hàng đầu của Sài Gòn lúc đó. Phạm Duy phổ
nhạc liền mấy bài thơ tự do phá cách của Phạm Thiên Thư. Cả miền Nam lên
“cơn sốt” với ca khúc Ngày xưa Hoàng thị, lời thơ gần với thơ dân gian:
“Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non dấu mỏ
Dưới cội hoa vàng”
2005, Nhà xuất bản Thanh niên đã cho xuất bản cuốn sách của ông Từ điển cười
với cái tên y học là Tiếu liệu pháp, giải thích từ vựng dưới góc độ thơ hài hước.
Cuốn sách đề cập đến mọi góc độ khác nhau của con người trong cuộc sống như:
“Cười” (tác giả đưa ra 106 cách hài hước khác nhau), “chết” (135 góc cạnh để
cười), hay “ăn” (có 53 cách)… Phương châm của tác giả khi viết Từ điển cười Tiếu liệu pháp đã được ông gửi gắm trong những câu thơ sau:
“Luôn biết mình dốt,
Để gột tính kiêu,
Để yêu như mới,
Để cởi mối hiềm,
Để thêm tinh tiến”.
Có thể nói Từ điển cười - Tiếu liệu pháp là một phương cách sử dụng sự
hài hước, tiếng cười để chữa tâm bệnh và Phạm Thiên Thư là người
Việt Nam đầu tiên biên soạn từ điển cười
Hướng về cội nguồn văn hóa dân tộc, nhưng bằng sự sáng tạo riêng của
mình vào năm 1969, Phạm Thiên Thư còn gây bất ngờ cho mọi người khi ông
dám chạm vào một vấn đề mà ít ai dám vọng tưởng: Viết tiếp hậu Truyện Kiều
của Nguyễn Du bằng thi phẩm Đoạn trường vô thanh gồm 27 chương, 3.296
câu thơ lục bát. Tác phẩm Đoạn trường vô thanh (Nỗi đau không nói thành lời).
Theo Phạm Thiên Thư, trường thi này đã mô tả quãng đời sau 15 năm lưu lạc
của nàng Kiều sau khi hội ngộ với Kim Trọng. Có thể khẳng định thành tựu rực
15
rỡ nhất trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Thiên Thư bằng tác phẩm Hậu
Truyện Kiều - Đoạn trường vô thanh (1972), đoạt giải nhất văn chương miền
Nam tạm chiếm đã đưa Phạm Thiên Thư lên một vị trí xứng đáng trong ngôi
đền thiêng của thi ca Việt Nam.
Dù ngoài 70 tuổi, ông vẫn sáng tác hằng ngày. Có điều khác người là ông
kết hợp nghề làm thuốc với nghề làm thơ. Từ năm 1973 ông đã sáng tạo ra
“Từ bi là cách nhiệm mầu,
Tùy duyên bất biến có đâu ngại ngàn
Kiếm dùng ngăn ác phù chân,
Lời dùng giải oán chúng nhân mọi đường”.
Ngoài ra, để đưa người đọc về với từng bước chân của cha ông trong quá
trình làm nên lịch sử hào hùng, tạo dựng truyền thống văn hóa sáng ngời chủ
nghĩa nhân văn sâu sắc, tác giả đã gởi đến người đọc tác phẩm Hát ru Việt sử thi.
Qua đó, Phạm Thiên Thư còn phơi diễn những kiến giải của riêng mình về lịch
sử nước nhà
Hát ru Việt sử thi, những câu thơ lục bát viết về lịch sử Việt Nam. Với
3.320 câu lục bát hát ru sử Việt của thi sĩ Phạm Thiên Thư - người con Thái Bình
vọng hướng về Đại lễ ngàn năm Thăng Long - Hà Nội như thể kể chuyện lịch sử
bằng câu hát, lời ru cất lên tự đáy lòng, tự trái tim người Việt Nam, thấm đẫm
nghĩa tình. Qua từng câu thơ lục bát trong Hát ru Việt sử thi. Việt sử thi là sự
sống con người, Đời này, đời nọ qua siêu thức hát ru, từ tình cảm gia đình dân
tộc, bà mẹ, chị em, con cháu…
Những lời ru ngọt ngào, từng vầng thơ như hòa quyện vào không gian bao la,
phảng phất như gió thoảng bay qua cánh đồng ca dao bất diệt của ngàn đời dân
tộc Việt. Tầng tầng lớp lớp những bài hát ru nối tiếp nhau xuyên suốt trường kỳ
lịch sử dân tộc từ thuở sương mù hình thành và quá trình dựng nước, giữ nước,
phát triển đất nước của cha ông ta xưa:
“Lạc Long Quân vốn dòng Rồng.
17
Lấy Âu Cơ đẻ trăm dòng từ đây.
Nửa theo mẹ tới non mây.
Nửa theo cha xuống sum vầy biển vang.
Con trưởng làm vua Văn Lang.
Cất từ cái thuở sương mù cha ông.
Chim Hồng chim Lạc qua song.
Bay qua Việt sử từng dòng là thơ.
Đêm đêm nhịp võng trăng mờ.
Trăng soi câu hát ru hờ con tim.
Tay bà hóa cánh chim lên.
Nhẹ đưa nhịp võng ru - thuyền tương lai.
Lòng bà thành chiếc võng đay.
Hồn quê thơm điệu ru này, à ơi!
Mai sau khôn lớn làm người.
Đi lên chân bước tuyệt vời mênh mông!”
Thơ Phạm Thiên Thư trở về với cách nói gần gũi, chân tình đằm thắm của
thơ ca truyền thống. Phạm Thiên Thư đã sử dụng thành công nhiều hình thức thơ
dân tộc. Thể lục bát được nhà thơ sử dụng khá nhiều, chính điều ấy đã nói lên
tầm quan trọng của thể lục bát dối với thơ của Phạm Thiên Thư. Thơ lục bát
trong sáng tác của Phạm Thiên Thư thể hiện giọng điệu thơ đằm thắm, thiết tha
mang hồn quê hương đất nước đặc biệt là tác phẩm Đoạn trường vô thanh. Ở
đây, Phạm Thiên Thư không sử dụng những điển tích từ chương của Trung Hoa
mà thay thế vào đó là một loạt các hình ảnh, nhân vật hoàn toàn thuần ty Việt
Nam. Người ta bắt gặp ở đó những tên tuổi quen thuộc, từ lâu đã đi vào tâm thức
bao thế hệ: Tiên Dung, Chử người Đồng Tử, Thánh Gióng, Tản Viên, Bạch
Vân… khiến cho người đọc khó có thể phân biệt được bút pháp tả cảnh, tả tình
tài hoa của Phạm Thiên Thư với đại thi hào Nguyễn Du:
19
“ Sông dài cởi yếm hoàng hôn
Bầy chim ngủ đậu bên cồn lại bay
Gió về đưa ngọn sóng say
Bên cạnh đó còn có những bài kệ kể về các nhân vật kiệt xuất của nhà
chùa như: Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không… Đây là những tác phẩm tự sự
ra đời do chịu sự ảnh hưởng của sinh hoạt Phật giáo trong dân gian. Nó có nội
dung tôn giáo nhưng cũng có phần phản ánh cuộc sống của nhân dân.
Tất cả các tác phẩm nói trên lúc đầu đều tồn tại dưới dạng truyền khẩu, về
sau được chép lại bằng chữ Nôm, lúc này đã được gọt giũa đi ít nhiều, và chưa
biết được là xuất hiện và thời gian nào. Những tác phẩm này là cơ sở để xuất
hiện các thể loại tự sự trong văn học chữ Hán và chữ Nôm sau này như: thơ vịnh
sử, diễn ca lịch sử…
Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam ít được giới trẻ quan tâm, thì việc
chuyển các sự kiện này thành thơ để có sức thu hút hơn đối với đọc giả, mà đặc
biệt là thế hệ trẻ sau này. Đó là một việc làm cần thiết, và Phạm Thiên Thư đã
dốc hết tâm trí của mình để hoàn thành được quyển Hát ru Việt sử thi - cuốn
sách có độ dài 3.325 câu thơ lục bát, mở đầu từ thời thượng cổ và kết thúc vào
thời Tây Sơn. Đây là một món ăn tinh thần nhằm nuôi dưỡng đời sống tâm hồn
những người trẻ thời hiện đại. Thuộc sử, nhớ sử Việt Nam bằng tiếng mẹ đẻ tức
là yêu nước, yêu tiếng nước mình”. Bởi vì ông cha ta thường quan niệm rằng:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Kể năm hơn bốn nghìn năm
21
Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa”
(Hồ Chí Minh)
Để thực hiện được tác phẩm Hát ru Việt sử thi này, ông dựa một phần vào
bộ Việt Nam sử lược, phần còn lại được lấy từ nhiều nguồn sử liệu khác nhau
của Việt Nam. Ông phân tích, tổng hợp và chắt lọc các sử kiện, sắp xếp chúng
theo dòng thời gian, sau đó biện giải theo cách của mình. Chỉ những diễn biến
Hơn sống nô lệ cúi lòn ngoại bang”.
Có thể nói, Hát ru Việt sử thi đã kế thừa văn học viết và văn học dân
gian, phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc ta, tác giả đã ca ngợi những
anh hùng, hào kiệt của đất nước, tự hào về đất nước con người Việt. Tuy nhiên
tư tưởng của Hát ru Việt sử thi lại có phần tiến bộ, đó là quan niệm vì dân. Trong
tác phẩm, tư tưởng vì dân gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Nghĩa là đấu tranh
chống giặc là vì dân, đưa dân thoát khỏi cảnh lầm than cơ cực. Quan niệm này có
thể bắt gặp trong một số nhà Nho xuất sắc của các giai đoạn trước như: Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…Có nhiều đoạn trong tác phẩm thể hiện tư tưởng này
như:
Hát ru về Trưng Vương:
“Mình voi hai vị nữ vương
Uy nghi giáp bạc, giáp vàng như hoa
Giáo gươm nhật nguyệt sáng lòa
Điều quân toàn tướng đàn bà ngựa dong”.
Hát ru quân sử:
“Hy sinh vì nước vì non
Kể chi già trẻ, sống còn phải toan
Hội cờ họp bến Bình Than
Trái cam bóp nát-can tràng tuổi thơ”.
23
Hát ru kháng chiến 10 năm đánh giặc Minh của nghĩa quân Lê Lợi ở núi rừng
Lam Sơn như là lời hát ru mới năm nào:
“Con nằm chiếc võng dù căng
Võng từng theo bố rừng chăng tháng ngày
Che mưa, che nắng, che mây
Ngắm trăng qua vạt vải dày màu xanh
Nắm xương cá bống cũng nên phượng hồng”.
Một ngấn tích son của Phật giáo Việt Nam là nhập thế trong lòng dân tộc, giúp
dân giúp nước cứu đời. Khúc hát ru về Thiền Sư Vạn Hạnh cho ta hiểu rõ hơn về
nguồn gốc xuất thân của vua Lý Thái Tổ và nghĩa ân từ nhà chùa:
“Ngày xưa có một cảnh chùa
Có thầy Vạn Hạnh già nua bạc đầu
Thầy trầm tư lẽ nhiệm mầu
Làm sao hiện hóa Giao Châu diệu huyền
Giúp sao cho vạn đời lên
Cho nhân sinh hóa uyên tuyền một phương
Tìm trong kinh sử cho tường
Tìm trong thiền đạo con đường hội thông
Chăm lo dạy dỗ tiểu đồng
Lòng thầy như ngọn lửa hồng sáng soi
Tre già cho lớp măng coi
Dạy người để cứu giống nòi lầm than
Dạy con nuôi Lý Khánh Vân
Là Lý Công Uẩn tinh thần sáng cao
Rõ ràng một bậc anh hào
Thầy đem nhật nguyệt gửi vào tuổi thơ
Truyền võ nghệ, giảng binh thơ
Thiền tâm, học thuật mong chờ rồng bay
25
Biết bao tâm huyết đêm ngày
Con đường Vạn Hạnh trao tay một người
À ơi! Đi kiếm cả đời
Mong sao gặp được như người mà trao”.