Đặc điểm thơ tự do của Bằng Việt luận án thạc sĩ - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––

VŨ THỊ LOAN

ĐẶC ĐIỂM THƠ TỰ DO CỦA BẰNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM THÁI NGUYÊN – 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho
việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận
văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Ngƣời viết luận văn
VŨ THỊ LOAN

VŨ THỊ LOAN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
CHỮ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Bố cục của luận văn 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1. Khái quát về thơ 9
1.1.1. Khái niệm về thơ 9
1.1.2. Cấu trúc của thơ 11
1.2. Khái quát về thơ tự do 13
1.2.1. Quan niệm về thơ tự do 13
1.2.2. Phân biệt thơ tự do và thơ văn xuôi 16

2.3.2. Nhận xét về đặc điểm câu thơ trong thơ tự do của Bằng Việt 54
2.3.2.1. Đặc điểm câu thơ ngắn 54
2.3.2.2. Đặc điểm câu thơ có độ dài gần như thơ truyền thống 57
2.3.2.3. Đặc điểm câu thơ dài 59
Tiểu kết chương 2 63
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM THƠ TỰ DO CỦA BẰNG VIỆT THỂ HIỆN QUA
VẦN, NHỊP, HÀI THANH 64
3.1. Vần trong thơ tự do của Bằng Việt 64
3.1.1. Kết quả thống kê, phân loại về hiện tượng gieo vần, hiệp vần 65
3.1.1. Nhận xét về hiện tượng gieo vần, hiệp vần trong thơ tự do của Bằng Việt 66
3.1.2.1. Cách gieo vần, hiệp vần rất phong phú 66
3.1.2.2. Thơ không vần chiếm tỉ lệ lớn 73

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v
3.2. Nhịp trong thơ tự do của Bằng Việt 74
3.2.1. Thống kê, phân loại nhịp trong thơ tự do của Bằng Việt 76
3.2.2. Nhận xét về nhịp điệu trong thơ tự do của Bằng Việt 78
3.2.2.1. Kiểu tổ chức nhịp điệu đối xứng 78
3.2.2.2. Kiểu tổ chức nhịp điệu trùng điệp 80
3.2.2.3. Kiểu tổ chức nhịp điệu tự do 83
3.3. Thanh điệu trong thơ tự do của Bằng Việt 86
3.3.1. Kết quả khảo sát về sự tập trung thanh điệu 88
3.3.2. Nhận xét về thanh điệu trong thơ tự do của Bằng Việt 89
3.3.3.1. Những câu thơ tập trung thanh bằng 89
3.3.2.2. Những câu thơ tập trung thanh trắc 91
3.3.2.3. Những câu thơ sử dụng thanh điệu kiểu đối lập bằng trắc 94
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v
DANH MỤC BẢNG

STT
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
1
2.1
Thống kê bài thơ (tính theo thể thơ/số chữ) trong
tám tập của Bằng Việt
26
2
2.2
Thống kê các mô hình bài thơ tự do của
Bằng Việt
27
3
2.3
Thống kê phân loại khổ thơ (tính theo số
câu/khổ) trong bài thơ tự do của Bằng Việt
41
4
2.4
Thống kê phân loại câu thơ (tính theo số
chữ/câu) trong bài thơ tự do của Bằng Việt

3.1
Biểu đồ biểu thị cao độ và trường độ trong câu thơ tập
trung thanh bằng của Bằng Việt
92
3.2
Biểu đồ biểu thị cao độ và trường độ trong câu thơ tập
trung thanh trắc của Bằng Việt
92 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trải qua mười thế kỉ văn học Trung Đại, thơ Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu
sắc của luật thơ truyền thống, thơ Đường luật với những quy tắc nghiêm ngặt. Bước
sang đầu thế kỉ XX, với công cuộc hiện đại hoá văn học, thơ Việt Nam thực sự
chuyển mình và phát triển theo nhiều xu hướng khác nhau, trong đó có khuynh hướng
thơ tự do.
Với ưu thế rõ rệt trong việc mở rộng dung lượng phản ánh hiện thực, linh hoạt
trong hình thức biểu đạt thế giới nội tâm phong phú của con người và phát huy tối đa
cá tính sáng tạo của nhà thơ, đặc biệt là với ngôn ngữ thơ được cách tân mạnh mẽ,
thơ tự do đã khẳng định được vị trí không thể thay thế được của nó trên thi đàn thơ ca

khảo sát và đánh giá chúng tôi còn hướng tới việc chỉ ra những đóng góp của nhà thơ
đối với thể loại thơ tự do trong thơ ca thời kì kháng chiến chống Mỹ, cũng như trong
quá trình tự do hoá ngôn ngữ thơ, hiện đại hoá nền thơ trong nền thơ Việt. Những vấn
đề đặt ra ở trên chính là lí do, cũng là mục đích của luận văn khi thực hiện đề tài
“Đặc điểm thơ tự do của Bằng Việt”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về thơ tự do
Xuất hiện chậm hơn so với thế giới, ở nước ta, mãi tới những năm 1932 - 1945
của thế kỷ XX thơ tự do mới được hình thành. Mặc dù vậy, thơ tự do cũng đã được
rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bàn đến.
Đầu tiên phải kể đến ý kiến của nhà phê bình Hoài Thanh trong công trình
nghiên cứu về phong trào thơ Mới, cuốn “Thi nhân Việt Nam” (Nxb. Văn học, Hà
Nôị,1998). Theo ông “Thơ tự do chỉ là một phần nhỏ của thơ Mới. Phong trào thơ
Mới trước hết là một cuộc thử nghiệm táo bạo để định lại giá trị của những khuôn
phép xưa” và “Trong các khuôn phép mới xuất hiện đều bị tiêu trầm như thơ tự do,
thơ mười chữ, mười hai chữ …” [62; tr41,42]. Điều đó có nghĩa là thơ tự do đã thực
sự xuất hiện với tư cách là một thể thơ độc lập từ phong trào thơ Mới. Và ngay từ khi
được khai sinh, thơ tự do đã là một thể thức góp phần đổi mới hình thức nghệ thuật
thơ dân tộc, đối chọi lại những khuôn luật cứng nhắc của thơ cổ điển.
Đồng quan điểm với Hoài Thanh về thời điểm khai sinh của thơ tự do từ
phong trào thơ Mới là ý kiến của các tác giả Bằng Giang với bài viết “Từ thơ Mới
đến thơ tự do” (Tạp chí Văn học, số 4, năm 1996):“Từ thơ Mới, thơ tự do mở đường
nhập hội Tao Đàn” [30]. Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức với chuyên luận “Các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3
thể thơ và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam” (Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1971) :“Về hình thức, phong trào thơ Mới đã có những đóng góp
quan trọng vào việc phát triển các thể thơ, nâng cao khả năng biểu hiện của một số


4
Ngoài ra còn có một số luận văn, luận án nghiên cứu về thơ tự do như:
Khương Thị Thu Cúc với luận văn “Sự vận động của thể thơ tự do từ phong trào thơ
Mới đến nay” [9] nhìn nhận vấn đề thơ tự do theo quan điểm văn học sử. Hà Thị
Diễm Hường với luận văn “Khảo sát nhịp điệu trong thơ tự do” [33] nghiên cứu theo
quan điểm phong cách học. Nguyễn Thị Phương Thuỳ với luận án “Nghiên cứu sự tự
do hoá ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại thế kỉ XX” [64] lại nhìn nhận các bước tiến
của ngôn ngữ trong thơ theo hướng tự do hoá. Đỗ Thị Khánh Phượng với đề tài
“Khảo sát thể thơ tự do” [57] nghiên cứu về thể thơ tự do dưới góc độ phong cách
học.
Qua nguồn tài liệu đã tiếp cận trên, chúng tôi thấy rằng, thơ tự do đã được tìm
hiểu chủ yếu ở hướng khái quát về thể loại. Hướng nghiên cứu thơ tự do gắn với tác
giả cụ thể chưa được nhiều người quan tâm. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa, phát triển kết
quả nghiên cứu của những người đi trước, luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu về “Đặc
điểm thơ tự do của Bằng Việt”
2.2. Vài nét về nhà thơ Bằng Việt
Bằng Việt là một trong số những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ
chống Mĩ. Thuộc vào thế hệ Trường Sơn, thế hệ sáu mươi, nhà thơ Bằng Việt là
người của một thời lịch sử đầy biến động. Bằng Việt, tên thật là Nguyễn Việt Bằng,
sinh ngày 15 tháng 6 năm 1941, nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất,
thành phố Hà Nội, nhưng ông sinh tại phường Phú Cát, thành phố Huế. Tri thức, hiểu
văn và tâm hồn thơ trữ tình giàu tưởng tượng, cùng với truyền thống gia đình đã góp
phần làm nên tư chất và phẩm cách thơ Bằng Việt. Tuổi thơ Bằng Việt vang động
những sự kiện của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Giã từ chiếc khăn quàng
đỏ thời niên thiếu, Bằng Việt học xong trung học tại Hà Nội và được cử đi học Đại
học Luật ở Liên Xô. Cũng chính trong thời gian này, việc tiếp xúc với một nền văn
hóa lớn cùng nhiều tên tuổi văn học của thế giới đã có ảnh hưởng không nhỏ đến
phong cách sáng tác và dịch thuật của Bằng Việt. Sau khi tốt nghiệp Khoa Pháp lí,
Trường Đại học Tổng hợp Kiev vào năm 1965, Bằng Việt về Việt Nam, công tác tại

trái ngược rất thực của cuộc sống. Chính bởi có hồn thơ ấy, tư duy thơ theo lối ấy mà
thơ Bằng Việt đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng về một phong cách thơ “rất
lạ”, lạ từ chất liệu, thi liệu đến giọng điệu.
Trong rất nhiều công trình nghiên cứu về văn học chống Mĩ như: “Những
đóng góp của thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước”, “Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam”,
“Lịch sử văn học Việt Nam” - tập 3, “Văn học Việt Nam trong thời đại mới”, “Nhà
văn và tác phẩm trong nhà trường” đều nhắc tới Bằng Việt với tư cách là cây bút chủ
chốt, có nhiều đóng góp giá trị.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

6
Căn cứ vào tình hình nghiên cứu về thơ Bằng Việt, chúng tôi thấy rằng: những
công trình nghiên cứu về Bằng Việt đã chỉ ra và phân tích khá đầy đủ về các mặt tư
tưởng, phong cách, thế giới nghệ thuật cùng những thành tựu cách tân về ngôn ngữ,
hình ảnh … của nhà thơ. Tuy thế, các bài viết, công trình nghiên cứu mới chỉ thiên về
góc độ văn học, thi pháp học. Việc nghiên cứu thơ Bằng Việt từ góc độ ngôn ngữ,
phong cách học vì thế còn khá nhiều khoảng trống. Chúng tôi cũng thấy rằng, chưa
có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về thơ tự do, thể thơ ghi được trọn vẹn
dấu ấn tài năng và những đóng góp độc đáo, có ý nghĩa đột phá của Bằng Việt trong
văn học Việt Nam.
Ở luận văn này, trên cơ sở kế thừa những ý kiến của những người đi trước,
chúng tôi sẽ tập trung khảo sát một cách có hệ thống những bài thơ tự do trong 8 tập
thơ tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của Bằng Việt theo hướng tìm hiểu về “Đặc
điểm thơ tự do của Bằng Việt”
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này lựa chọn thơ tự do trong sự nghiệp sáng tác của Bằng Việt làm
đối tượng nghiên cứu theo quan điểm của phong cách học. Đặc điểm thơ tự do của
Bằng Việt sẽ được khảo sát từ các cấp độ bài thơ, khổ thơ, câu thơ thuộc các thể khác
nhau như 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ… Mảng thơ tự do của Bằng Việt khá rộng vì vậy

cho việc miêu tả, so sánh, kết luận về câu thơ, khổ thơ, bài thơ theo mục đích chung
mà luận văn đã đề ra.
- Phương pháp miêu tả phân tích: dùng để miêu tả mô hình các bài thơ; miêu tả
về các khổ thơ, câu thơ; miêu tả về vần, nhịp, hài thanh. Miêu tả kết hợp với phân
tích để rút ra những nét đặc sắc của thơ tự do của Bằng Việt nói riêng, thơ tự do thời
chống Mĩ nói chung trong sự kế thừa thơ ca truyền thống cũng như thơ Mới.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: dùng để đối sánh thơ tự do của Bằng Việt
trong tương quan với thơ truyền thống, thơ tự do trong phong trào thơ Mới, thơ tự do
của các nhà thơ cùng thời để làm nổi bật sự kế thừa cùng những cách tân của thơ tự
do Bằng Việt.
6. Đóng góp của luận văn
- Về lí luận: kết quả nghiên cứu của luận văn hướng tới việc rút ra những đặc
điểm cơ bản của thơ tự do và đặc trưng phong cách thơ tự do của Bằng Việt. Đồng
thời góp phần rút ra sự biến đổi ngôn ngữ thơ thời chống Mĩ ở ba cấp độ: bài thơ, khổ
thơ, câu thơ.
- Về thực tiễn: đề tài góp những cứ liệu vào việc nghiên cứu Văn học Việt
Nam, đặc biệt là ở góc độ ngôn ngữ thơ, từ cách tiếp cận ngôn ngữ học, hướng tới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

8
việc nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ (tổ chức mô hình, niêm luật, vần, nhịp,
thanh điệu). Kết quả nghiên cứu đề tài có thể được sử dụng trong việc giảng dạy môn
Văn học trong nhà trường, đặc biệt là các tác phẩm thuộc thể thơ tự do.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan
Chương 2: Đặc điểm thơ tự do của Bằng Việt thể hiện qua bài thơ, khổ thơ,
câu thơ
Chương 3: Đặc điểm thơ tự do của Bằng Việt thể hiện qua vần, nhịp, thanh điệu

hậu, giản dị, thẳng thắn, không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà suốt cuộc
đời chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay mới là đặc sắc của thơ”
[59; tr74]. Theo học giả này, giá trị của thơ là ở sự giản dị, khi đạt được sự giản dị
thơ sẽ đạt đến sự nhuần nhuyễn, thâm hậu.
Trong sách “Vân Đài ngôn ngữ” Lê Quý Đôn bày tỏ: “Ta thường cho làm thơ
có ba điều chính. Một là tình, hai là cảnh, ba là sự vật (…) còn như thể chế, chí thú,
âm tiết, cách điệu đều là bàn thêm” [59; tr 251].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

10
Cả hai ý kiến bàn về thơ của Ngô Thì Nhậm và Lê Quý Đôn đều chú trọng đến
nội dung phản ánh gắn với chức năng và giá trị của thơ. Đó cũng là quan niệm phổ
biến của người xưa về thơ.
Đến thời kì hiện đại, quan niệm về thơ lại càng đa dạng, phong phú từ nhiều
góc nhìn khác nhau. Chúng ta có thể điểm qua ý kiến tiêu biểu của các nhà thơ, nhà lí
luận phê bình và các nhà ngôn ngữ học.
Đứng từ góc độ cảm hứng sáng tác, các nhà thơ quan niệm “Thơ là hiện thân
cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người”
(Lamactin), “Thơ là điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu” (Tố Hữu), “Thơ là biểu
hiện cuộc sống một cách cao đẹp” (Sóng Hồng), “Thơ chính là một trong những lĩnh
vực lao động tạo ra các giá trị phi vật thể của một dân tộc (…) Người nghệ sĩ làm
cho cuộc đời đẹp hơn, sâu hơn” (Lê Đạt), “Thơ ca không nên là những tụng ca thời
thượng mà phải đi sâu vào tâm trạng con người. Thơ ca cần phải liên tục đổi mới để
đuổi kịp sự phát triển của đời sống” (Trần Dần), [64; tr15].
Ở lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học, các nhà lí luận văn học cho rằng:
“Làm thơ cốt tả tính tình” (Viên Mai), “Thơ là tiếng lòng” (Diệp Tiếp), “Thơ trước
hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”, “Thơ là một thông báo thẩm mĩ, trong đó
kết hợp bốn yếu tố “Ý- tình- hình- nhạc” (Mã Giang Lâm), “Thơ là tình không tách
rời ý. Nếu chỉ là tình, dẫu là tình tột bậc, cũng không thể làm nên những vần thơ tuyệt

văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ
bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [32; tr 154].
Cách hiểu về thơ trong sự tương xứng giữa nội dung và hình thức sẽ là cơ sở
để chúng tôi tìm hiểu những vấn đề cụ thể hơn liên quan đến đề tài nghiên cứu như
bài thơ, khổ thơ, câu thơ, vần, nhịp, hài thanh …
1.1.2. Cấu trúc của thơ
Là dạng thức ban đầu của văn học, trải qua quá trình lịch sử phát triển lâu dài,
thơ ca đã hình thành được những hình thức vô cùng phong phú. Tuy nhiên dù phong
phú đến đâu về mặt hình thức thơ vẫn phải đảm bảo về mặt cấu trúc. Cấu trúc của thơ
được tổ chức theo các cấp độ: Bài thơ, khổ thơ, câu thơ. Mỗi bài thơ có thể làm theo
nhiều thể với những qui tắc riêng về số chữ trong câu, khổ, bài, về cách gieo vần; về
niêm luật. Đến bậc khổ thơ cũng phân chia thành nhiều loại: Khổ tứ tuyệt, khổ bát cú,
khổ tự do … tuỳ thuộc vào số câu trong khổ. Ở bậc câu thơ cũng có nhiều kiểu loại
câu thơ khác nhau, tuỳ thuộc vào số chữ và cách tổ chức nhịp điệu trong câu.
Dựa trên các tài liệu tham khảo, chúng tôi sẽ thống nhất các quan niệm về bài
thơ, khổ thơ, câu thơ thuộc cấu trúc thơ để làm cơ sở lựa chọn, khảo sát, xử lí tư liệu
và đánh giá những vấn đề mà luận văn quan tâm.
Trước hết là khái niệm “Bài thơ”. Theo “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên,
Trung tâm từ điển ngôn ngữ, Viện Ngôn ngữ học, năm 1992), thì “Bài được hiểu là công

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

12
trình sáng tác, biên tập, có nội dung tương đối hoàn chỉnh nhưng không dài. Ví dụ: Bài
bình luận. Bài hát. Bài đăng báo” [66; tr 40]. Ta có thể đặt khái niệm bài thơ vào hệ thống
khái niệm về “Bài” như trên khi định nghĩa “Bài thơ” theo nghĩa rộng.
“Bài thơ” theo cách định nghĩa của Lê Lưu Oanh trong cuốn “Văn học và các
loại hình nghệ thuật”, (Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006) Theo nghĩa hẹp: “Do
cảm xúc là những phiến loạn tình cảm, một vận động, một hứng khởi của tâm hồn,
mỗi bài thơ là một sự bộc bạch, diễn đạt một niềm vui, một nỗi buồn, một mối suy tư,

được kết thúc bằng một khoảng nghỉ dài.
Cấp độ nhỏ nhất trong cấu trúc của thơ là “Câu thơ”. Mỗi câu thơ là đơn vị cơ
bản làm nên giá trị của bài thơ.
Có nhiều ý kiến cho rằng câu thơ trùng khớp với dòng thơ. Đó là ý kiến của
nhà nghiên cứu Clatơrôva: “Đa số dòng thơ trùng khớp với câu thơ, là chu kì lặp lại
tạo nên nhịp thơ đủ chia cắt dòng ngữ âm liên tục bằng hai câu, hai nhịp nghỉ và thời gian
của sự phát âm có sự tương ứng” [33; tr 163]. Trong “Văn học và các loại hình nghệ
thuật” (Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, năm 2006) Tác giả Lê Lưu Oanh cũng quan niệm:
“Câu thơ là dòng thơ, một đơn vị nhịp điệu, đơn vị ý nghĩa, đơn vị liên kết trong bài thơ
(…) câu thơ (với cấu trúc và các kiểu tổ chức của nó) bộc lộ một cảm quan về từ ngữ, cách
tổ chức điểm nhìn, thể hiện một giọng điệu …” [54; tr152, 153].
Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng, đơn vị câu thơ hoàn toàn khác với đơn vị
dòng. Nếu xem câu thơ như một đơn vị cú pháp đứng ở lập trường này, Nguyễn Bá
Thành trong “Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại” cho rằng: “Rất ít câu thơ
trùng với dòng”.
Trên thực tế ta thấy có những câu thơ giãn thành nhiều dòng, lại có những
dòng thơ chứa nhiều câu. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc khảo sát về nhịp điệu,
thanh điệu, các cách kết hợp từ … chúng tôi quan niệm câu thơ là dòng thơ, là một
đơn vị nhịp điệu, đơn vị ý nghĩa, đơn vị liên kết trong một bài thơ (Trừ thơ lục bát).
Mỗi câu thơ được biểu hiện bằng một dòng thơ.
1.2. Khái quát về thơ tự do
1.2.1. Quan niệm về thơ tự do
Dựa vào những tiêu chí và mục đích nghiên cứu, người ta chia thơ thành nhiều
thể loại khác nhau.
Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” (…) các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “dựa vào thể luật, có thể chia ra thơ cách luật và thơ tự
do” [32; tr 262]. Đồng quan điểm với các tác giả này trong “Mấy vấn đề giảng dạy
tác phẩm văn học theo loại thể” (Nxb. Giáo dục, năm 1971, tác giả Trần Thanh Đạm
cũng khẳng định: “đứng về mặt thi pháp, thơ Việt Nam xưa nay phân chia tổng quát
thành hai loại lớn. Thơ cách luật và thơ tự do” [21; tr 82].

nổi tiếng về thơ tự do Pablô Nêruđa (1904-1973) phát biểu rằng “làm gì có ai có
quyền buộc nhà thơ phải viết thơ bằng những câu dài hay ngắn (…) cả trời lẫn quỷ
dữ đều không thể đưa ra một công thức nên viết thơ như thế nào” [37; tr 12].
Từ các quan niệm về thơ tự do trên, ta có thể hiểu rõ khái niệm “tự do” trong
thơ tự do. Đó là sự thoát li trong sáng tác khỏi những gò bó khắt khe của các quy tắc,
luật lệ, của các thể thơ cách luật, thoát li khỏi những quy định, khuôn phép vốn là sự
kiềm chế của các luật thơ xưa. Thơ tự do tạo điều kiện để người viết tự do bộc lộ cảm
xúc, tình cảm, đồng thời mở ra những tìm tòi, sáng tạo vô hạn cho người làm thơ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

15
Thế nhưng nếu cứ chạy theo cảm xúc triền miên thơ dễ sa vào tình trạng lan
man, dàn trải. Nói như Nguyễn Đức Mậu trong bài viết “Cảm xúc trong thơ” đăng ở
phụ san báo văn nghệ (số 23, năm 2005): “người làm thơ đâm ra nói nhiều mà người
đọc cảm thấy mông lung rất khó nắm bắt”. Theo tác giả bài viết này thì ngoài cảm
xúc trào tuôn ra, người làm thơ phải biết tiết chế cảm xúc của mình.
Hơn nữa, đã tồn tại như một thể loại, đương nhiên thơ tự do buộc phải tuân
theo những quy ước, nguyên tắc của thể loại. Nghĩa là thơ tự do phải giữ được phẩm
chất của thơ trong nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Điều này đã được tác giả
Nguyễn Xuân Nam đề cập trong bài viết “Tăng cường tính nghệ thuật của câu thơ tự
do” (Tạp chí văn học, số 6 năm 1979) “Câu thơ tự do cần có nhạc điệu, nhiều hoặc ít
cần có vần”, “câu thơ tự do cần cô đúc, dòng thơ không nên kéo dài quá tám chữ,
lúc cần kéo dài cần chú ý vận dụng linh hoạt các thể thơ, các cách ngắt giọng trong
thi pháp truyền thống”, “toàn bài cần chú ý sự hài hoà cân xứng giữa các câu, giữa
các đoạn để tạo thêm nhịp điệu trữ tình thích hợp” [48; tr 32 – 39].
Cũng ý thức rõ về điều này, nhà thơ Xuân Diệu, người có đóng góp không nhỏ
vào sự nghiệp phát triển của thể thơ tự do phát biểu “Tự do là mình đặt kỉ luật cho
mình, một kỉ luật linh động, tuỳ theo mỗi truờng hợp, nhưng luôn luôn có kỉ luật.(…)
Làm thơ tự do tức là mỗi đề tài tự tạo ra cho mình một nhạc điệu riêng cho thích hợp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status