vần và nhịp trong thơ lục bát thời kỳ thơ mới (1932 - 1945) - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

TRẦN THỊ QUYẾT

VẦN VÀ NHỊP TRONG THƠ LỤC BÁT
THỜI KỲ THƠ MỚI (1932 - 1945)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ

THÁI NGUYÊN - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển, nghiên cứu
khảo sát các tác phẩm của các tác giả dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH Lý
Toàn Thắng
Các số liệu và khẳng định trong luận văn này là trung thưc, do tôi tự
nghiên cứu, khảo sát và thực hiện.

Trần Thị Quyết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi
thì còn có sự giúp đỡ, động viên của rất nhiều thầy cô, đồng nghiệp. Trước hết
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo GS.TSKH Lý Toàn Thắng,
người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học sư
phạm Thái Nguyên, Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư
Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những vấn đề lí luận làm
cơ sở cho việc nghiên cứu, đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể cán bộ giáo viên
trường THPT Cô Tô đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2012
Tác giả Trần Thị Quyết

1.2.2. Nhịp trong thơ lục bát 16
1.3.Giới thiệu về phong trào Thơ Mới 1932 - 1945 19
1.3.1.Khái niệm Thơ Mới 19
1.3.2.Quá trình hình thành, phát triển và kết thúc của phong trào Thơ Mới 19
1.3.3.Đóng góp của Thơ Mới với nền thi ca dân tộc 21
1.4. Vai trò của thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới 22
1.5. Giới thiệu một số tác giả tiêu biểu 24
1.6. Tiểu kết 31
Chương 2: HIỆP VẦN TRONG THƠ LỤC BÁT THỜI KÌ THƠ MỚI 32
2.1. Vần và các chức năng của vần trong thơ 32
2.1.1. Khái niệm “vần thơ” 32
2.1.2. Chức năng của vần thơ 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
2.1.3. Phân loại vần thơ 34
2.2. Vần trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới 35
2.2.1. Tư liệu thống kê 35
2.2.2. Các nhận xét 36
2.3. Tiểu kết 53
Chương 3: NHỊP TRONG THƠ LỤC BÁT THỜI KÌ THƠ MỚI 55
3.1. Nhịp và các chức năng của nhịp trong thơ 55
3.1.1. Khái niệm “nhịp thơ” 55
3.1.2. Vai trò của nhịp thơ 56
3.1.3. Dấu hiệu hình thức của nhịp trong thơ 57
3.1.4. Nhịp trong thơ lục bát 59
3.2. Ngắt nhịp trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới 61
3.2.1.Nhịp của dòng lục 62
3.2.2.Nhịp của dòng bát 76

trong lịch sử xã hội Việt Nam, mà đối với nền văn học nước nhà đây là mốc
ghi dấu sự đổi mới nền văn học theo hướng hiện đại hoá. Giai đoạn này xuất
hiện hai trào lưu văn học hiện thực và lãng mạn. Sự ra đời của phong trào Thơ
Mới chính thức khép lại nền văn học Trung đại Việt Nam, mở ra hướng đi mới
cho văn học Việt Nam nói chung và thơ ca Việt Nam nói riêng. Trong giai
đoạn này, tiếng Việt được nâng niu, trân trọng và là công cụ sáng tác thơ ca.
Thơ lục bát - “điệu hồn” của dân tộc vẫn tiếp tục phát triển trong giai đoạn này.
Các tác giả Thơ Mới đã di dưỡng, làm lạ hoá lục bát dân tộc, làm cho lục bát
dân tộc đến với người đọc với diện mạo, phong cách mới, vừa quen vừa lạ.
Phong trào Thơ Mới ra đời đánh dấu sự đổi mới của nền văn học Việt
Nam trên tất cả các mặt tư tưởng, nội dung và hình thức tác phẩm. Lục bát
giai đoạn này trở về gần truyền thống, song vẫn mang hơi thở của thời đại
mới. Có lẽ vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ lục bát trong phong trào Thơ
Mới 1932 - 1945 luôn là đề tài hấp dẫn, có ý nghĩa cho những ai quan tâm đến
việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn học. Tuy nhiên từ trước đến nay, hầu hết
các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phương diện văn học, cũng
có nghĩa là việc tìm hiểu thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới từ góc nhìn
của ngôn ngữ học chưa được quan tâm thỏa đáng.
Thơ lục bát là thể loại được đưa vào giảng dạy khá nhiều trong nhà
trường, trong đó có cả thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới. Vì thế việc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
nghiên cứu thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới không những góp phần tìm
hiểu về sự phát triển của một thể loại thơ truyền thống để thấy vẻ đẹp của
ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó mà đó còn là một nhu cầu cấp
thiết, có ý nghĩa thiết thực giúp cho việc giảng dạy thơ lục bát ở trường phổ
thông được tốt hơn và đúng hướng hơn.
Trên đây là những lí do chính để chúng tôi chọn đề tài Vần và nhịp

tích và chứng minh cho nó.
Trong cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân, đây có
thể coi là một công trình nghiên cứu có giá trị về Thơ Mới, tác phẩm là những
phê bình mang tính chủ quan của tác giả và chủ yếu thiên về lối giảng văn.
Tác giả có trích dẫn khá nhiều bài thơ lục bát của các nhà thơ trong phong
trào Thơ Mới, nhưng chưa có sự tổng hợp và đánh giá một cách hệ thống về
hình thức thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới.
Đến năm 1993 sau cuộc hội thảo nhân dịp kỉ niệm 60 năm phong trào
Thơ Mới, cuốn sách “Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm
phong trào thơ mới)” - Huy Cận, Hà Minh Đức là một công trình tập hợp
những bài viết, đánh giá của các tác giả trong cuộc hội thảo. Trong cuốn sách
này, tác giả Văn Tâm có bài Giới thuyết “Thơ mới” cũng bàn về các thể thơ
trong phong trào Thơ Mới, tuy nhiên tác giả mới chỉ đưa ra bảng thống kê về
thể loại ở 10 nhà Thơ Mới tiêu biểu qua 11 thi phẩm tổng cộng 592 bài thơ.
Như vậy có thể thấy trong các công trình lớn khi bàn về Thơ Mới đã
dành một vị trí nhất định cho thể thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới, nhưng
tất cả vẫn chỉ dừng ở những nhận định về sự cách tân, đổi mới của thể lục bát
trong thời kì này ở nhịp điệu mới mẻ, lạ lẫm, ngôn ngữ thơ biến hóa linh hoạt,
giàu tính nhạc hoặc nêu ra như những dẫn chứng minh họa cho việc đổi mới,
cách tân về hình thức của Thơ Mới. Và cho đến nay vẫn chưa có một công
trình riêng biệt nào dành nghiên cứu chuyên sâu mang tính hệ thống về thơ
lục bát trong phong trào Thơ Mới. Ở luận văn này chúng tôi sẽ cố gắng tập

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
trung khảo sát một cách hệ thống những đặc điểm cơ bản và chỉ ra những
cách tân của thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới, trên tinh thần tiếp thu
những thành quả của những người đi trước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

phạm vi đề tài của luận văn, chúng tôi chỉ nghiên cứu về mặt hình thức, cụ thể
là về các đặc trưng ngữ âm chủ yếu bao gồm: nhịp thơ, vần thơ của lục bát
trong các tập thơ kể trên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
*Phương pháp thống kê, phân loại.
Được dùng để thống kê tần số xuất hiện của các đặc trưng ngữ âm như
các kiểu vần thơ, nhịp thơ của thơ lục bát trong thời kì Thơ Mới 1932 - 1945.
Trên cơ sở này chúng tôi đi sâu vào mô tả, phân tích, lý giải một số đặc trưng
và vận động của thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới.
*Phương pháp miêu tả.
Thông qua việc phân tích, miêu tả các đặc trưng ngữ âm trong các bài
thơ lục bát khảo sát, chúng tôi đi đến khái quát đặc điểm hình thức của thể
loại thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới.
*Phương pháp so sánh.
Tiến hành so sánh, đối chiếu giữa thể thơ lục bát thời kì Thơ Mới và thể
lục bát truyền thống để làm sáng tỏ sự vận động, biến đổi trong thơ lục bát
thời kì Thơ Mới.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chương.
Chƣơng 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
Chƣơng 2: Hiệp vần trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới
Chƣơng 3: Nhịp trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
NỘI DUNG
Chƣơng 1

Hàn Mặc Tử nói: “Làm thơ tức là điên”. Chế Lan Viên cũng có quan
điểm tương tự: “làm thơ là sự phi thường. Thi sỹ không phải là Người, nó là
Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tình, là
Yêu. Nó thoát hiện tại, nó xáo trộn dĩ vãng, nó ôm trùm tương lai. Người ta
không hiểu được nó vì nó vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lí” [ tựa
Điêu tàn - tr.193]. Như vậy, nghiên cứu bản chất sự sáng tạo thơ, nhiều người
xem nghệ sĩ là kẻ siêu phàm và coi quá trình sáng tạo thơ như một cái gì đó
thần bí.
Thứ hai, giải thích bản chất của thơ ca xuất phát từ việc gắn sứ mệnh
của thơ với đời sống xã hội. Người ta xem cuộc sống chính là mảnh đất phù
sa màu mỡ, là chất hương nồng của thơ ca. Không có cuộc sống thì không có
thơ ca. Nhà thơ Tố Hữu viết: “Thơ là cái nhụy của cuộc sống” và “thơ chỉ trào
ra khi tim ta cuộc sống thật tràn đầy”. Nhà thơ Sóng Hồng phát biểu: “Thơ là
sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp nhất” và “thơ chính là
cuộc sống được tinh lọc”.
Thứ ba, giải thích thơ ca xuất phát từ vấn đề đồng cảm trong thơ. Tố
Hữu cho rằng: “Thơ là một điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu”, “thơ là
tiếng nói đồng tình, đồng chí”, là “thơ là tiếng nói tri âm”
Thứ tư, hình thức hóa thơ ca, xem bản chất thơ thuộc về những nhân tố
hình thức. Phan Ngọc trong bài viết Thơ là gì? cũng đưa ra cách kiến giải khá
độc đáo. Theo ông, “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để
bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ cho hình thức tổ
chức ngôn ngữ ấy” [41]. Chữ “quái đản” mà Phan Ngọc dùng ở đây chính là
nói đến cách tổ chức khác thường của ngôn ngữ thơ. Tuy vậy, khuynh hướng
này có hạn chế là nhìn nhận đánh giá bản chất thơ ca còn quá chủ quan, phiến
diện. Vì quá tuyệt đối hóa yếu tố hình thức nên vô hình chung đã hạ thấp nội
dung xuống bình diện thứ yếu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
các thể loại khác. Thơ ca phản ánh cuộc sống bằng phương thức trữ tình. Vì
thế, ngôn ngữ thơ chính là ngôn ngữ bão hòa cảm xúc. Cuộc sống được chiếu
rọi qua lăng kính tâm hồn đầy cảm xúc của nhà thơ, thơ phát khởi từ trong
lòng người ta (Lê Quý Đôn).
1.1.3. Hình thức thơ
Tác phẩm văn học dù thuộc thể loại nào, bao giờ cũng có hai bình diện:
nội dung và hình thức. Đây là vấn đề khá phức tạp, bởi thực tế, hình thức và
nội dung là hai khái niệm của triết học, và hai khái niệm này được áp dụng
đối với nhiều phạm trù, được sử dụng trong nhiều ngành khoa học. Vì vậy,
khi nói đến nội dung và hình thức của tác phẩm văn học, có cảm tưởng nội
hàm của khái niệm hơi rộng so với đối tượng. Có lẽ vì thế mà hiện nay, giới
nghiên cứu ngữ văn thường dùng hai khái niệm: Văn bản và ý nghĩa để thay
thế cho hai khái niệm rất rộng kia.
Nói như vậy, không có nghĩa nội dung và hình thức của tác phẩm văn
học (trong đó có tác phẩm thuộc thể loại thơ) là “bất khả tri”. Thực tế, người
ta vẫn có thể phân biệt hai phạm trù một cách tương đối ở các thể loại văn học
(nói phân biệt tương đối là bởi, trong văn học, nội dung phải gắn với hình
thức, hình thức là hình thức của một nội dung cụ thể).
Nói đến nội dung của thơ, người ta thường nói đến tình cảm được biểu
hiện trong đó. Nội dung của thơ, thực chất là những cung bậc cảm xúc được
biểu hiện trong tác phẩm. Thơ có thể nói đến thế giới tự nhiên và cuộc sống
con người, nhưng nó không “chụp ảnh”, không tái hiện kiểu “soi gương”, mà
phải được khúc xạ qua lăng kính tâm hồn của người làm thơ. Hình ảnh một
“sông dài trời rộng” trong Tràng giang là hình ảnh thiên nhiên rợn ngợp được
phản chiếu qua tâm hồn đơn côi của Huy Cận. Vườn tược và hình bóng người
Thôn Vĩ là những hình ảnh được khúc xạ qua những nỗi niềm của Hàn Mặc
Tử. Anh giải phóng quân trong một số bài thơ Xuân của Tố Hữu là anh giải


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
của ngôn ngữ thơ” thì Roman Jakobson lại có cái nhìn bao quát về ngôn ngữ
thơ khi ông kết luận: “Chức năng thi ca đem nguyên lý tương đương của trục
tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp”. Nhìn chung, những quan niệm về ngôn ngữ
thơ như trên đã bao quát được vấn đề, song còn khái quát, trừu tượng. Cũng
với ý nghĩa đó, chúng ta có thể diễn đạt một cách cu thể như sau: “Ngôn ngữ
thơ ca là ngôn ngữ đời sống nhưng được chọn lọc, tinh giản đến mức súc tích
nhất, chúng được tổ chức chặt chẽ, có khoảng ngắt, có vần điệu và có quy
luật phối âm riêng, tùy thuộc vào từng ngôn ngữ”.
Roman Jakobson - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã phân biệt thơ và
văn xuôi trên phương diện hình thức biểu đạt: ngôn ngữ văn xuôi là phương
tiện biểu đạt một ý nào đó, sau đó người ta quên ngôn ngữ ấy. Ngược lại,
ngôn ngữ thơ tự lấy mình làm mục đích. Chính vì vậy mà ngôn ngữ thơ nó có
đặc trưng riêng như sau: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo
hình, tính biểu cảm Tuy nhiên, ở mỗi loại tác phẩm khác, những biểu hiện
ấy lại biểu hiện dưới những sắc thái và mức độ khác nhau. Đồng thời, mỗi
loại tác phẩm lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng. So với ngôn ngữ văn
xuôi, ngôn ngữ thơ có những đặc điểm khác biệt sau:
a. Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính
Thơ trữ tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm.
Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà
còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy. Nếu như trong văn xuôi các
đặc tính thanh học của ngôn ngữ như cao độ, cường độ, trường độ không
được tổ chức thì trong thơ, trái lại những đặc tính ấy lại được tổ chức chặt
chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ
ngữ không nói hết. Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu
mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca.

thể loại mà nó biểu hiện một cách tập trung, với yêu cầu cao nhất trong ngôn
ngữ thơ. Nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường,
nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
phồn tạp đến cực độ để tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lí con người trong sự
sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ngôn ngữ thơ lại mang nặng tính đặc
tuyển. Là thể loại có dung lượng ngôn ngữ hạn chế nhất, nhưng thơ lại có
tham vọng chiếm lĩnh thế giới. Nói như Êgiêrốp: “Bài thơ là một lượng thông
tin lớn nhất trong một diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất”. Chính sự hạn định số
tiếng trong câu thơ, bài thơ buộc người nghệ sĩ phải “thôi xao”, nghĩa là phải
phát huy sự tư duy ngôn ngữ để có sự lựa chọn phù hợp nhất cho từng trường
hợp sử dụng.
Như vậy tính hàm súc được hiểu là khả năng của ngôn ngữ có thể miêu
tả mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ý tại ngôn ngoại. Đây
chính là cách dùng từ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu đạt cao nhất, kiểu như:
- Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh
- Đã nghe rét mướt luồn trong gió
(Xuân Diệu)
Chỉ với một chữ luồn, một chữ rủa, mà Xuân Diệu đã hữu hình hóa sắc
thu (sắc đỏ), khí thu (rét mướt), và đồng thời cũng vật chất hóa, giúp người
đọc cảm nhận một cách cụ thể sự chuyển động tinh vi của đất trời chuyển
mình sang thu. Cũng thế, nỗi nhớ nhung, sầu não đến hao gầy, phôi pha của
người con gái được thi sĩ Tản Đà thể hiện rất rõ nét chỉ bằng một từ khô (Suối
khô dòng lệ chờ mong tháng ngày).
Để đạt được tính hàm súc, có thể biểu hiện được cái vô hạn của cuộc
sống trong những cái hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ, thơ ca phải tính đến
những cách tổ chức đặc biệt, cái mà nhà nghiên cứu Phan Ngọc gọi là “quái

thơ. Chẳng hạn:
Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương
(Tản Đà)
Các âm cuối tắc, vô thanh -p trong thấp và -t trong uất tạo nên ấn tượng
về sự nghẹn ngào, còn các phụ âm cuối mũi, vang -ng trong giang, -n trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
quên, -ng trong hương cùng các âm tiết mở (hồ, quê, mê), nửa mở (chơi) lại
gợi một trạng thái lâng lâng khó tả, ung dung tự tại của một tâm hồn thoát tục.
Sự đối lập nhạc điệu ở hai câu thơ nối tiếp nhau đã tạo nên những biểu
tượng ngữ âm trái chiều nhau. Qua đó những câu thơ đó sẽ gây được cảm xúc
thẩm mĩ trong lòng độc giả.
1.2. Thơ lục bát
Thơ lục bát là một trong những thể thơ mang đậm dấu ấn của văn học
dân tộc, được bắt nguồn sâu xa từ cội rễ văn học dân gian. Lục bát, bởi thế
cũng mang những đặc điểm chung về vần và cách ngắt nhịp của thơ ca tiếng
Việt như đã trình bày ở trên. Song như chúng ta biết, mỗi thể thơ, bên cạnh
đặc điểm chung ra thì đều có những đặc điểm riêng, lục bát cũng không phải
là ngoại lệ.
1.2.1. Vần trong thơ lục bát
Về vần, trong thể lục bát gồm cả vần lưng và vần chân. Ở dạng cơ bản
nhất, một bài thơ lục bát chỉ có hai dòng và mỗi dòng có một vần. Dòng lục
mang vần chân và dòng bát mang vần lưng ở âm tiết thứ sáu hoặc âm tiết thứ
tư. Ví dụ:
Đêm trăng thanh anh nói với nàng:
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
(Ca dao)

tám luân phiên đều đặn không đổi giữa các dòng tạo cho thể thơ này một cái
nền vững chắc. Đó là cái nền của nhịp chẵn. Dựa trên cái nền ấy, nhịp nhỏ
trong hai dòng thơ lục bát được ngắt ra, trước hết cũng là một nhịp chẵn.
Nhịp chẵn là nhịp điệu tự nhiên trong lời nói tiếng Việt. Nó quen thuộc,
phổ biến và ăn sâu vào tiềm thức của người Việt như một thứ đặc điểm dân
tộc cố hữu, giống như từ láy đôi, từ ghép đôi, như đối xứng đối chọi, như lối
sóng đôi biền ngẫu trong từ chương cổ. Điều này cũng được các tác giả Bùi
Văn Nguyên và Hà Minh Đức chứng minh cụ thể. Đó là trong 16 dạng phổ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
biến nhất của nhịp thơ lục bát (dòng sáu có 6 dạng, dòng tám có 10 dạng) thì
có tới 10 dạng là nhịp chẵn (6, 2/2/2, 2/4, 4/2; 8, 2/2/2/2, 2/6, 6/2, 4/4, 2/4/2).
Đặc điểm này dẫn đến một hệ quả rất đáng lưu ý là khả năng và xu hướng đưa
về nhịp chẵn trong trường hợp có sự tranh chấp hoặc khó xác định vị trí ngắt
nhịp. Đưa về nhịp chẵn cũng tức là không ngắt nhịp nhỏ ở giữa dòng, nơi mà
nếu nhất thiết phải ngắt thì đó lại là nhịp lẻ. Ví dụ:
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời
(Nguyễn Du - Truyện Kiều)
Cặp lục bát này nếu không đưa về nhịp chẵn, nhịp lớn thì phải ngắt
thành nhịp lẻ như sau:
Trong/ như tiếng hạc bay qua
Đục/ như nước suối mới sa nửa vời
Tuy phổ biến và có áp lực mạnh như vậy nhưng không có nghĩa nhịp
chẵn là duy nhất. Tồn tại bên cạnh nhịp chẵn là nhịp lẻ, là sự phá vỡ cái đều
đặn cân đối, phá vỡ cái nhịp nhàng đơn điệu để tạo nên sự biến đổi và thiết
lập một sự hài hòa mới. Nhịp lẻ xuất hiện một cách bất ngờ, có tác dụng củng
cố cho cái nền nhịp chẵn, có giá trị như một nét biến điệu để rồi ngay sau đó

Ví dụ:
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn tay cấy mạ non
(Tố Hữu - Bầm ơi)
Tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám trong cùng một dòng bát phải khác
thanh nhau, tức là nếu tiếng thứ sáu là thanh huyền thì tiếng thứ tám phải là
thanh không hoặc ngược lại. Ví dụ:
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng
Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn
(Thế Lữ - Tiếng sáo thiên thai)
Qua phần trình bày trên có thể thấy rằng: vần, nhịp và thanh điệu là
những yếu tố không thể thiếu trong thơ ca tiếng Việt nói chung cũng như

Trích đoạn Khái niệm “nhịp thơ” Dấu hiệu hình thức của nhịp trong thơ Ngắt nhịp trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới Mối quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status