Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
29
vị thế và đặc trng thi pháp
của Thể loại lục bát trong thơ mới 1932 - 1945
biện thị quỳnh nga
(a)Tóm tắt. Thơ mới 1932 - 1945 đánh dấu bớc đột khởi cha từng có trong lịch sử
thơ ca dân tộc; với nó, thơ Việt thực sự đợc hiện đại hóa, mang tính loại hình sâu sắc
của thơ hiện đại.
ở
đây, sự hiện diện của các thể loại thơ truyền thống - mà tiêu biểu
nhất là thơ lục bát - cần đợc đánh giá nh thế nào? Và đâu là những biến đổi về thi
pháp thể loại của nó?. Nhằm trả lời, luận giải cho vấn đề này, bài viết nghiên cứu, xác
định vai trò, vị thế và những đặc trng thi pháp của thể loại lục bát trong Thơ mới 1932
- 1945, từ đó để thấy đợc những đóng góp khó có thể thay thế của thể loại này cho thơ
Việt Nam hiện đại.
1. Vị thế của thể loại lục bát
trong Thơ mới 1932 - 1945
1.1. Thơ mới 1932 - 1945 vừa với t
cách là một phong trào, vừa với t cách
là một cuộc cách tân thơ, là hiện tợng
sách vừa nêu). Tên gọi thể thơ, ngoài
các thể thơ đã có tên gọi quen thuộc -
tức đã đợc định danh - nh lục bát,
song thất lục bát, tứ tuyệt (bao hàm cả
tứ tuyệt Đờng luật và tứ tuyệt "tự do"),
thất ngôn bát cú Đờng luật, thể hành
(một dạng của thơ Cổ phong), hợp thể
hoặc thơ "tự do"; các thể khác, chúng tôi
tạm gọi tên thể thơ theo số chữ / câu
thơ: thơ 2 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7
chữ, 8 chữ.
1.3. Điều đáng chú ý đầu tiên là
thể loại lục bát giữ một vị trí quan
trọng trong hệ thống thể loại Thơ mới
1932 - 1945. Qua khảo sát và thống kê
hệ thống thể loại Thơ mới 1932 - 1945,
chúng tôi nhận thấy: Ngoài các thể thơ
phổ biến nh thể 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ,
hợp thể và "tự do"; các thể loại thơ
truyền thống mà nổi bật là thể lục bát
đợc nhiều nhà thơ khai thác, vận
dụng. Trên hành trình đi đến hiện đại
của thơ Việt, sự hiện diện của các thể Nhận bài ngày 07/5/2007. Sửa chữa xong 14/8/2007.
sáng tạo nên.
Các nhà thơ của phong trào Thơ
mới 1932-1945 hình nh ít ai không
một lần đến với thể thơ này, thậm chí
nhiều ngời còn đạt con số hàng chục
bài. Trớc nhất phải kể đến Nguyễn
Bính với 29 tác phẩm toàn bằng thể lục
bát trong tổng số 57 sáng tác của ông.
Thứ đến là các tên tuổi nh: Hồ Dzếnh:
15 bài, Trần Huyền Trân: 20 bài, Xuân
Diệu: 6 bài và Huy Cận, Mộng Sơn, Thế
Lữ mỗi ngời đều 7 bài Thể lục bát
không chỉ khẳng định mình trên thi
đàn chỉ bằng số lợng mà ý nghĩa hơn,
lục bát còn sống mãi trong lòng ngời
bằng những tác phẩm mang giá trị cổ
điển nh: Chân quê, Lỡ bớc sang
ngang (Nguyễn Bính), Buồn đêm ma
(Huy Cận), Tiếng sáo thiên thai (Thế
Lữ), Chiều (Xuân Diệu) Thực tế này
cho thấy lục bát một thể thơ cổ truyền
của dân tộc đến thời hiện đại, trong thế
cạnh tranh với nhiều thể loại Thơ mới,
vẫn có vị thế vững chắc trên thi đàn.
Đây là điều mà chỉ duy nhất thể lục bát
có đợc so với các thể thơ truyền thống
khác. Đó là cha kể tới những tác phẩm
làm bằng thể loại khác có xen lục bát.
Hình thức khẳng định chủ yếu của lục
(nh bài Về nẻo thanh tuyền của Trần
Dần), cũng có bài lấy các thể khác làm
nền (nh bài Mời hai tháng sáu của
Vũ Hoàng Chơng, Lên chơi trăng của
Hàn Mặc Tử, Trờng tình của Tchuya
(Đái Đức Tuấn). Lục bát trong Thơ mới
1932 - 1945 đã khai thác triệt để, đa
dạng các chức năng và nội dung thể loại
nhằm thể hiện những cung bậc cảm
xúc, những trạng huống tâm hồn phong
phú, tinh vi của những hồn Thơ mới.
Trong đó nổi bật nhất là chức năng trữ
tình với nội dung bày tỏ t tởng, tình
cảm của cái Tôi cá nhân cá thể Khảo
sát một thể loại văn học, theo chúng tôi
cần căn cứ trên 3 phơng diện: Chức
năng, nội dung và thi pháp thể loại.
ở
đây, do khuôn khổ của bài báo (theo
quy định của tạp chí), bài viết này chỉ
tập trung khảo sát ở phơng diện thi
pháp của thể loại.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số
2b
-2007
du dơng, êm đềm Chẳng hạn, ở 4 cặp
câu lục bát sau đây, tất cả đều gieo vần
bằng và 40/56 là tỷ lệ thanh bằng đợc
dùng so với thanh trắc: Tiếng đa hiu
hắt bên lòng. Buồn ơi xa vắng mênh
mông là buồn
(Thế Lữ -
Tiếng sáo thiên
thai). Đêm ma làm nhớ không gian.
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
(Huy Cận - Buồn đêm ma). Không
gian nh có dây tơ. Bớc đi sẽ dứt động
hờ sẽ tiêu (Xuân Diệu - Chiều). Láng
giềng đã đỏ đèn đâu. Chờ em ăn giập
miếng giầu em sang (Nguyễn Bính -
Chờ nhau). Thứ ba, lục bát Thơ mới
cũng kế thừa cách ngắt nhịp đôi thờng
thấy trong lục bát ca dao, lục bát
Truyện Kiều. 147 bài thơ lục bát nguyên
thể, kể cả những bài thơ lục bát phối
xen trong Thơ mới 1932 - 1945 chủ yếu
là ngắt nhịp này. Ví dụ:
Ngắt nhịp 2 / 2 / 2 - 2 / 2 / 2 / 2:
Thôn Đoài / ngồi nhớ / thôn Đông
Một ngời / chín nhớ / mời mong
/ một ngời
(Nguyễn Bính - Tơng t)
Nghe đi / rời rạc / trong hồn
Những chân / xa vắng / dặm mòn
/ lẻ loi
thờng thấy). Việc trao vai trò kết bài
cho dòng lục (6 chữ) hẳn không phải là
không có nguyên cớ. Một mặt, có thể do
ảnh hởng của cách kết ở thể loại hát
nói (bài hát nói chính cách bao giờ cũng
kết thúc bằng câu 6 chữ), mặt khác, có
lẽ với dụng ý diễn tả những sắc thái
cảm xúc bất thờng xảy ra trên dòng
mạch đều đều của tâm trạng (đợc tạo
nên từ kiểu kiến trúc dòng 6 tiếp dòng 8
lần lợt luân phiên đều đặn của thể lục
bát) mà các nhà thơ mới nảy sinh ý
tởng đặt dòng 6 cuối bài vừa có vai trò
kết, vừa có vai trò mở, gợi nhiều liên
tởng cho cảm nhận của ngời đọc!
Dòng mạch cảm xúc của thi nhân đơng
buồn rầu bỗng dng chững lại một niềm
thảng thốt, ngậm ngùi:
Chén sầu đổ ớt trờng giang
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số
2b
-2007
32
Canh gà bên nớ giằng sang bên này
hớng tới sự chuẩn mực của thơ cách
luật, nghĩa là hoàn toàn sử dụng vần
bằng. Hơn thế, họ còn cố gắng đạt đợc
mức độ hòa âm cao bằng cách triệt để
sử dụng vần chính". Chẳng hạn, nh ở
các bài thơ lục bát dài hơi nh Lỡ bớc
sang ngang (Nguyễn Bính), Độc hành
ca (Trần Huyền Trân). ở đây, tỷ lệ các
dòng thơ sử dụng các bộ vần có khuôn
âm trùng khít là: 87/110 dòng (Lỡ bớc
sang ngang), 50/92 dòng (Độc hành ca);
số vần còn lại tuy gieo vần thông nhng
mức độ hòa âm cũng khá rõ, nh "đời"
gieo với "cời" Về vị trí gieo vần, thực
ra khó có thể đổi khác so với hình mẫu
lục bát cổ điển truyền thống. Khả năng
gieo vần ở tiếng thứ t dòng bát, vốn
khá quen thuộc với "lỗ tai" dân gian
cũng không đợc Thơ mới quan tâm vận
dụng nhiều nh thơ lục bát hiện đại sau
Thơ mới 1932 - 1945. Trờng hợp gieo
vần ở tiếng thứ t câu bát chỉ xẩy ra
một lần trong bài Sáng quê của Hồ
Dzếnh:
Gió đa mặt trời dần cao
Khóm tre rì rào muôn tiếng chim
kêu.
Nh vậy, cách thức gieo vần của
lục bát trong Thơ mới 1932 - 1945 hầu
nh không biến đổi. Nhắc lại điều đã
Hôm nay / trời nhẹ lên cao
Tôi buồn / không hiểu / vì sao /
tôi buồn
(Xuân Diệu - Chiều)
Nhịp 4/2 - 2/2/4:
Nắng chia nửa bãi / chiều rồi
Vờn hoang / trinh nữ / xếp đôi lá
sầu
(Huy Cận - Ngậm ngùi)
Nhịp 2/4 - 2/1/3/2:
Non xanh / ngây cả buổi chiều
Nhân gian / e / cũng tiêu điều /
dới kia
(Huy Cận -
Thu rừng
)
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số
2b
-2007
33
Đặc biệt có không ít câu thơ đợc
Bóng,/ tôi,/ tôi,/ bóng trùng trình
Nàng,/ tôi đuổi mãi / canh tà,/
tà canh
(Cẩm Lai - Đuổi bóng)
Sự đa dạng, phong phú trong cách
ngắt nhịp câu thơ đã góp phần biểu
hiện những "phức điệu tâm hồn" của
con ngời thời đại mới mà lục bát nhịp
đôi khó có khả năng biểu đạt. Ví nh
cách ngắt nhịp 4/2 - 2/1/3/2 trong câu
thơ: Cái gì nh thể / nhớ mong. Nhớ
nàng? / không? / Quyết là không / nhớ
nàng (Nguyễn Bính), là tiết nhịp của
tâm trạng đầy mâu thuẫn, vừa muốn
phủ định lại vừa muốn đón nhận niềm
rung cảm mới: tình yêu. Cách ngắt nhịp
mới lạ hiện đại này là một cơ sở để phân
biệt lục bát của Nguyễn Bính với lục
bát của ca dao.
2.2.4. Về
phối thanh
(luật bằng
trắc), ngoài phần nhiều những bài lục
bát theo sát khuôn mẫu đã đợc xác
lập, trong lục bát Thơ mới, có một số ít
trờng hợp "phạm luật". Tiếng thứ 2,
tiếng thứ 4 dòng lục từ bằng chuyển
thành trắc và từ trắc chuyển thành
bằng. Sự thay đổi này theo chúng tôi là
do sự chi phối của dòng cảm xúc nhân
Các bài thơ Tiếng sáo thiên thai của
Thế Lữ, Mơ tiên của Bích Khê cũng có
những hình thái biểu hiện tơng tự.
2.2.5. Giọng điệu và ngôn ngữ là
phơng diện quan trọng hàng đầu của
mọi tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Nó
phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhng
quyết định là do phong cách cá nhân,
phong cách thể loại. Giọng điệu luôn
gắn liền với ngôn ngữ. Giọng điệu quyết
định việc lựa chọn ngôn ngữ và ngôn
ngữ là cơ sở tạo tính nhạc cho giọng
điệu. Âm hởng chung của Thơ mới
1932 - 1945 là "buồn đau, u sầu" (cũng
là giọng điệu chính của thơ lãng mạn).
Âm điệu ấy tràn vào Thơ mới 1932 -
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số
2b
-2007
34
1945 ở tất cả các thể loại, đặc biệt rất
phù hợp với thể lục bát. Vốn là một thể
thơ có nguồn gốc dân gian nên lục bát
có một chất giọng rất đặc trng - trữ
hởng từ nhiều nguồn trong đó có
nguồn truyền thống, nhất là ở thể lục
bát, nhng vẫn tạo đợc bản sắc cho
mình. Lục bát Thơ mới 1932 - 1945 vừa
mang nét chung của phong cách thời
đại, vừa mang nét riêng của phong cách
thể loại và phong cách cá nhân. Lục bát
của ca dao do đặc trng của loại hình
folklore, không xuất hiện giọng điệu
chủ thể cá nhân. Đến lục bát trong văn
học viết trung đại đã có những đổi thay
quan trọng, dĩ nhiên đã mang màu sắc
cá nhân, nhng cũng chủ yếu để tự sự
(lục bát ở truyện Nôm mà đỉnh cao là
Truyện Kiều
- Nguyễn Du). Bớc sang
thời đại Thơ mới 1932 - 1945, ý thức về
cái tôi cá nhân cá thể trỗi dậy mạnh
mẽ, cái tôi này đòi hỏi đợc giải phóng,
đợc khẳng định, vì thế "những sợi tơ
lòng" lãng mạn của những cái tôi ấy,
theo đó, cũng rung lên, rất nhạy cảm
với những đờng nét, sắc thái riêng.
Lục bát Thơ mới, trên cái "giọng nền"
buồn thơng - u sầu, có vô vàn những
"nghịch âm"không thể trộn lẫn: Giọng
tơi vui, yêu đời của Thế Lữ trong
Tiếng sáo thiên thai; giọng thuần hậu,
dễ thơng của Đoàn Văn Cừ trong Hè,
Đêm đông, Chơi xuân; giọng "quê mùa"
buồn (Tơng t chiều - Xuân Diệu). Tuy
nhiên, hiện tợng dùng từ láy kiểu này
không phải là nét riêng của lục bát Thơ
mới (Nguyễn Du trong Truyện Kiều
cũng đã từng có những câu thơ lục bát
dùng từ láy đạt hiệu quả nghệ thuật
cao: Buồn trông cửa bể chiều hôm.
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa
xa. Buồn trông ngọn nớc mới sa. Hoa
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số
2b
-2007
35
trôi man mác biết là về đâu. Buồn
trông nội cỏ dầu dầu. Chân mây mặt
đất một màu xanh xanh). Nhng, có
thể nói "hệ từ láy trong thơ trung đại bị
áp chế bởi tính ớc lệ cao của ngôn ngữ
nên "tính ý tợng" vẫn là hiện tợng nổi
bật. Trong khi đó, các từ láy của lục bát
Thơ mới thờng gắn liền với cảm xúc cụ
thể, màu sắc "cảm tính" rõ hơn nên có
khả năng biểu đạt giọng điệu chủ thể
nổi bật hơn" [3]. Trong khuynh hớng
giống vô tri trên đời. (Tú Mỡ - Hội bảo
trợ súc vật
)
Lục bát Thơ mới 1932 - 1945 sử
dụng rất nhiều hô ngữ: Em ơi hãy ngủ
anh hầu quạt đây (Huy Cận), Lại gần
ta hỏi ai rằng ai ơi (Thế Lữ), Ôi coi !
hồn đờng say nghiền (Bích Khê), Em
ơi em ở lại nhà (Nguyễn Bính), Nhng
tôi nghèo lắm: than ôi! (Tế Hanh),
Liên ơi! đã mát ruột mày hay cha
(Trần Trung Phơng).v.v Hiện tợng
này đã từng xuất hiện không ít lần
trong lục bát ca dao, nhng "thiếu màu
sắc chủ thể". Còn ở đây là những tiếng
nói của những cá nhân đơn nhất, cá
biệt, yêu cầu phải đợc trò chuyện,
"giao tiếp" một cách trực tiếp để bộc lộ,
giãi bày tâm t, cảm xúc của mình.
Phải chăng do đặc trng của Thơ mới
lãng mạn là sự "tràn bờ của cảm xúc"
nên yêu cầu đợc bày tỏ trực tiếp là
điều tất yếu của ngôn ngữ lục bát Thơ
mới 1932 - 1945?.
2.2.5. Bên cạnh việc cho phép xử lý
các yếu tố nằm trong cơ cấu luật vừa
nêu, lục bát còn cho phép có những biến
đổi thi pháp, diễn ra trên các dòng thơ.
Dòng thơ là một trong hai vế song hành
kìa) trong t thế hớng tới đối
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số
2b
-2007
36
tợng đợc nhắc đến ở dòng dới tạo
thành một hơi thơ để hoàn chỉnh một ý:
Ô kìa! hai con hạc trắng bay về bồng
lai. Đây là hiện tợng vắt dòng trong
câu thơ lục bát Thơ mới 1932 - 1945.
Kiểu cấu trúc câu thơ độc đáo này đợc
các nhà thơ mới phát huy và hởng ứng
nhiệt tình:
Mùa thi sắp tới!- Em thơ
Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau
(Xuân Diệu - Mùa thi)
Sầu thu lên vút, song song
Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh
hiu
(Huy Cận - Thu rừng)
Tôi say? Tha trẻ cha đầy
Cái đau nhân thế thì say nỗi gì?
(Trần Huyền Trân - Uống rợu với
Tản Đà)
mới đã mạnh dạn thực hiện hơn hai đơn
vị cú pháp ngữ nghĩa gần nh độc lập
với nhau trên một dòng:
Cổng làng rộng mở. ồn ào.
Nông phu lững thững đi vào nắng
mai
(Bàng Bá Lân - Cổng làng)
Cái gì nh thể nhớ mong
Nhớ nàng? không? Quyết là không
nhớ nàng
(Nguyễn Bính -
Ngời hàng xóm
)
Khá nhiều bài sử dụng những dấu ngắt
câu tạo thành nhiều đơn vị cú pháp
trên một câu thơ nh vậy (giữa dòng lục
bát): Tha bà, Chiều ma, Đêm trừ tịch
(Trần Huyền Trân); Chiều xa (Huy
Cận); Quê bạn (Tế Hanh); Bên cầu tái
sinh
(Việt Châu) Lục bát
Thơ mới
1932 - 1945 còn vận dụng biện pháp
nghệ thuật tiểu đối của câu thơ lục bát
truyền thống (3/3, 4/4) nhằm hớng tới
xác lập những vế tơng ứng trong nội
bộ dòng thơ, khiến dòng thơ có vẻ đẹp
hài hoà, cân đối: Trai tơ khăn lục / gái
hồng thắm môi (Hồ Dzếnh - Chiều xuân
-2007
37
không ít kiểu kiến trúc câu thơ leo
thang rất bắt mắt nh:
Chỉ còn cỏ mọc bên trời
Một bông hoa nhỏ
lặng
rơi
ma
dầm
(Nguyễn Trọng Tạo - Không đề). v.v
Cách trình bày các dòng thơ lục bát
thành bậc thang nh thế có tác dụng
vừa "bắt mắt"(thẩm mỹ) vừa gợi ý cách
đọc sao cho thể hiện thật hữu hiệu nội
dung xúc cảm,v.v Rõ ràng, khi vào
tay những phong cách lục bát tài hoa,
thể thơ lục bát có nhiều biến đổi về
chất. Các nhà Thơ mới trên cơ sở kế
thừa những yếu tố thi luật cũ đã thực
hiện những bớc cách tân táo bạo, tạo
nên hệ thi pháp" đặc thù của lục bát
Thơ mới 1932 - 1945, đóng góp đáng kể
vào công cuộc hiện đại hoá thi ca dân
tộc, đặc biệt trên phơng diện hình thức
của thể loại. Tuy nhiên những đặc điểm
thi luật này không phải là đặc quyền sở
hình của nó
3. Một số
kết luận
Thể loại văn học là phạm trù có vai
trò quan trọng hàng đầu trong nghiên
cứu văn học. Nghiên cứu văn học theo
hớng loại hình - thể loại đang là một
hớng nghiên cứu đầy triển vọng. Tìm
hiểu đặc trng thi pháp thể loại lục bát
trong
Thơ mới
1932 - 1945 không chỉ để
nhận thấy bản chất và sự vận động của
thể loại văn học dân tộc truyền thống
trong thời hiện đại mà còn để thấy đợc
diện mạo đặc sắc của thơ Việt Nam hiện
đại - Thơ mới 1932 - 1945 khi có sự
tham gia của thể loại thơ truyền thống.
Rõ ràng trong hệ thống thể loại của Thơ
mới 1932 - 1945, lục bát vẫn giữ một tỷ
lệ và vai trò, vị trí quan trọng.
Thi pháp thể loại thơ lục bát đều
đợc thể hiện đầy đủ trên các phơng
diện vần, luật, số lợng chữ trong từng
câu thơ, các tổ hợp, bố cục, giọng điệu,
ngôn ngữ tóm lại là trên các phơng
diện tự pháp, cú pháp, chơng pháp
38
tiếp nối, kế thừa truyền thống. Mặt
khác, tìm hiểu thể loại Lục bát trong,
và sau Thơ mới 1932 - 1945, chúng tôi
còn nhận thấy Lục bát đang vận động,
đang có sức hấp dẫn lớn, và đang đặt ra
nhiều thử thách cho các thế hệ đến sau.
Sau Thơ mới 1932 - 1945, thực sự đã có
một số hớng tìm tòi làm mới thể loại
này. Một xu hớng rất độc đáo là xu
hớng của trờng thơ Bút tre [5] (cả Bút
Tre hữu danh và "Bút tre" dân gian).
Một xu hớng khác rất "hiện đại" nh
muốn "nổi loạn" ở thể loại này với
những câu thơ "ngô nghê" "lạ lùng"
nhng đầy sức quyến rũ, kiểu nh: Một
hai hai một di hài. Dài hy hữu mộng an
bài chẩm ma. Chả xin? Chả hỏi? vịt
gà?. Và thân thể máu me và thịt
xơng (Bùi Giáng) [6]. Xu hớng tìm
về truyền thống, "làng quê", "chân quê"
từ Nguyễn Bính càng ngày càng có
nhiều tài thơ "theo bớc" (Nguyễn Duy,
Đồng Đức Bốn [7]. v.v ). Xu hớng nào
cũng cho thấy sức sống mãnh liệt của
thể lục bát. Vấn đề đặt ra là tài năng,
sáng tạo của ngời nghệ sỹ trong khai
thác u thế và tiềm năng (cha phải đã
cạn kiệt) của thể loại này
six - eight - word distich meter? And where are its changes in genre versification?
In order to answer, interpret these questions, the research paper defines the role,
position and versification characteristics in the innovation movement of poetry
from 1932 to 1945. Deriving from these, we can see the irreplaceable role of this to
Vietnamese modern poetry.
(a)
Cao học 14 Văn học Việt Nam, Trờng Đại học Vinh.