Biện Thị Quỳnh Nga Thể loại song thất lục bát , Tr. 38-47 38
Thể loại song thất lục bát trong thơ mới (1932 - 1945)
Biện Thị Quỳnh Nga
(a)Tóm tắt.
Bài báo đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu thể loại song thất lục bát trong Thơ
mới 1932 - 1945 trên các phơng diện: vị trí, đặc trng chức năng, nội dung và thi
pháp thể loại; từ đó xác định vai trò, "vận mệnh" và sức sống của thể loại này trong
thơ Việt Nam hiện đại.
1. Song thất lục bát (từ đây viết tắt
là STLB) là thể thơ cách luật thuần túy
Việt Nam, đơn vị cơ bản là một tổ hợp
(hay khổ) gồm 4 câu trong đó có 2 câu
thất ngôn và 2 câu lục bát. (Nếu 2 câu
thất ngôn đi trớc rồi mới đến 2 câu lục
bát thì gọi là song thất lục bát. Ngợc
lại, nếu 2 câu lục bát đi trớc rồi tiếp 2
câu thất ngôn, gọi là lục bát gián thất).
Đây là thể loại có chức năng và nội
dung khá phong phú, có thi pháp chặt
dùng trong nhiều thể loại khác nhau,
trớc hết là trong ngâm khúc: Chinh
phụ ngâm - bản dịch của Đoàn Thị
Điểm (?), Cung oán ngâm khúc -
Nguyễn Gia Thiều, Tự tình khúc - Cao
Bá Nhạ, Thu dạ lữ hoài ngâm - Đinh
Nhật Thận, Ai t vãn - Lê Ngọc Hân ;
trong văn tế: Văn tế thập loại chúng
sinh - Nguyễn Du; trong thể hành: Tỳ
bà hành - bản dịch của Phan Huy Thực,
v.v Cuối thế kỷ XIX, ngoài các tác giả
(cha rõ) của Nhân nguyệt vấn đáp,
Bần nữ thán, Hà thành thất thủ ca,
Nguyễn Khuyến là ngời có hứng thú
đặc biệt và rất thành công với thể thơ
này. Ông viết liền đến 7 bài, trong đó có
những bài nổi tiếng nh Lời vợ anh
phờng chèo, Khóc Dơng Khuê, Văn di
chúc Cho đến chặng đờng cuối của
thời trung đại, STLB đã chứng tỏ đợc
u thế đặc thù của nó trong đảm nhận
Nhận bài ngày 03/4/2008. Sửa chữa xong 29/5/2008.
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 2B-2008
thân, nhập vai vào nhân vật trữ tình,
nói hộ nỗi niềm của nhân vật.
ở
Cung
oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều đã
hoá thân vào nhân vật ngời cung nữ
nói hộ tâm t, nỗi niềm buồn uất, sầu
muộn, day dứt triền miên trong đau
khổ, thất vọng và oán thán khi bị vua
ghẻ lạnh, bỏ rơi.
ở
Chinh phụ ngâm tác
giả cũng nhập vai vào nhân vật ngời
chinh phụ để bộc lộ, giãi bày nỗi cô đơn
sầu đau, day dứt triền miên do chiến
tranh phong kiến phi nghĩa. Toàn bộ
những tâm trạng này không phải là
bản tự thuật tâm trạng của Nguyễn
Gia Thiều, Đặng Trần Côn hay Đoàn
Thị Điểm, mà là của nhân vật ngời
cung nữ, nàng chinh phụ. Và cách thức
trữ tình ở đây không phải là trữ tình
trực tiếp, là những bản tự thuật tâm
trạng của các tác giả. Tuy nhiên, cũng
có một số trờng hợp tác giả đồng thời
là nhân vật trữ tình, qua tác phẩm, trực
tiếp bộc lộ giãi bày tâm trạng nh Tự
tình khúc của Cao Bá Nhạ, Ai t vãn
của Lê Ngọc Hân. Mặc dầu trong các
tác phẩm này tác giả phần nhiều là trực
hữu hiệu (về thể loại lục bát, chúng tôi
đã có bài viết riêng đăng trên Tạp chí
Biện Thị Quỳnh Nga Thể loại song thất lục bát , Tr. 38-47 40
Khoa học, Trờng Đại học Vinh [4], ở
đây chỉ tập trung vào thể loại STLB).
Cùng với thể lục bát, STLB đã đạt
đến trình độ mẫu mực, điển phạm ở các
chặng đờng cuối thời trung đại (nửa
sau thế kỷ XVIII, thế kỷ XIX). Bớc
sang thế kỉ XX, đặc biệt từ khi xuất
hiện phong trào Thơ mới (1932 - 1945),
thể STLB phải đứng trớc nhiều thử
thách "khắc nghiệt". Trớc hết là môi
sinh - đất sống cho nó. Thời hiện đại
với nhịp sống gấp gáp và sự hấp dẫn
của tiếng gọi tự do khó có chỗ tồn tại
cho những thể loại khuôn mẫu, có chức
năng và nội dung "hồi cố", "tự tình"
với thi pháp quá chặt chẽ nh STLB.
Thứ hai, STLB thực sự đã rất đã ổn
định, khó có thể thay đổi, "làm mới"
hình thức thể loại. Thứ ba, các tác giả
Thơ mới 1932 - 1945 tìm đến với thể
loại này khi thành tựu của nó đã đạt
có 18 bài, chiếm 1,6%. Nếu so với thể
thơ Đờng luật (bao hàm cả hai dạng tứ
tuyệt và bát cú), STLB cha bằng 1/3.
So với lục bát - thể thơ hầu nh luôn
song hành cùng nó suốt một thời kỳ đài
trong thời trung đại, thì số lợng tác
phẩm STLB cũng quá khiêm tốn:
18/148 bài. Và số tác giả tìm đến với thể
STLB cũng chỉ đếm đợc trên đầu ngón
tay. Tiêu biểu có Lu Trọng L với 4
bài: Thơ sầu rụng, Giang hồ, Sứ giả,
Thú đau thơng; Phạm Huy Thông 3
bài: Tiếng đàn khuya, Cành liễu bên hồ,
Tiếng họa mi ca; Hàn Mặc Tử 2 bài:
Muôn năm sầu thảm, Say chết đêm nay.
Đó là những tác giả có số lợng bài
STLB nhiều nhất; còn lại mỗi tác giả
một bài, có: Bích Khê, Thế Lữ, Hồ
Dzếnh, Tế Hanh, Tú Mỡ, Vân Đài,
Hằng Phơng, Đào Xuân Quý, Đồ Phồn.
Về dung lợng, cũng nh thể lục
bát, STLB trong Thơ mới 1932 - 1945
cha có tác phẩm nào có quy mô nh
những khúc ngâm nổi tiếng trong văn
học trung đại. Hầu hết, 18 bài STLB
toàn vẹn trong Thơ mới 1932 - 1945 đều
có quy mô nhỏ. Bài ngắn nhất là Thơ
sầu rụng của Lu Trọng L có 10 câu,
bài dài nhất là Tiếng họa mi ca của
Phạm Huy Thông, 60 câu. Trong số 18
khúc hay văn tế thời trung đại nữa,
nghĩa là nó là một thể thơ độc lập, tồn
tại cho chính nó. Thứ hai, chức năng
trữ tình của nó bây giờ chủ yếu với nội
dung bày tỏ tình cảm, tâm trạng của cái
Tôi cá nhân cá thể. ở đây, không còn
hiện tợng tác giả phải hoá thân nhập
vai vào nhân vật trữ tình nh trong
ngâm khúc nữa. Phần lớn điệu thơ
STLB Thơ mới 1932 - 1945 là lời giãi
bày trực tiếp của chính nhà thơ. Chủ
thể trữ tình - nhân vật trữ tình lúc này
thống nhất với tác giả hoặc đồng thời là
tác giả. Nỗi khát khao thơng nhớ
mãnh liệt nhng đầy đau thơng quằn
quại trong Muôn năm sầu thảm chính
là bản tự thuật của hồn thơ Hàn Mặc
Tử, nhân vật trữ tình trong bài thơ
không ai khác ngoài thi nhân:
Nghệ hỡi Nghệ! Muôn năm sầu thảm
Nhớ thơng còn một nắm xơng thôi
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nớc mắt bời bời ruột gan
Đây là cốt lõi làm nên sự khác biệt
về chức năng, nội dung của STLB trong
văn học trung đại và STLB Thơ mới
1932 - 1945. STLB ở những bài ngâm
khúc truyền thống, đúng nh nhận xét
của Phan Diễm Phơng, là những tác
phẩm trữ tình trờng thiên, chúng
dẳng, triền miên xuyên suốt chiều dài
bài thơ. Đặc điểm này nảy sinh do đặc
thù của thể loại ngâm khúc. Trong
ngâm khúc thờng có sự tham gia của
cả hai yếu tố tự sự (thể hiện rõ nhất ở
Biện Thị Quỳnh Nga Thể loại song thất lục bát , Tr. 38-47 42
một cốt truyện sơ giản) và trữ tình, tuy
nhiên trữ tình vẫn đóng vai trò chủ đạo.
STLB trong Thơ mới 1932 - 1945 đã
thoát ra đợc khỏi áp lực của thể loại
ngâm khúc, không phải đảm nhận chức
năng tự sự thì đã đành (STLB trong
Thơ mới 1932 - 1945 ít khi gắn với cốt
truyện), chức năng trữ tình của nó cũng
đã đổi khác. Nó chỉ nhằm bày tỏ một t
tởng, tình cảm, một trạng huống tâm
hồn nhất định nào đó: có thể là hoài cổ,
hồi cố, trầm t hay day dứt đau buồn
v.v Một số ít sáng tác bằng thể STLB
của các nhà thơ mới nh Tra vắng của
Hồ Dzếnh, Sứ giả của Lu Trọng L có
kể chuyện, tuy nhiên yếu tố tự sự ở đây
không nhằm mục đích kể, tả mà là đòn
bẩy làm bật nổi những dòng tâm t
biệt ở thể loại ngâm khúc, do bị chi phối
bởi chức năng tự tình với nội dung bày
tỏ tình cảm hồi cố, băn khoăn, lo lắng,
bi ai, đã vận dụng khá phổ biến hình
thức các câu hỏi, câu cảm thán. Những
hình thức câu hỏi này với âm điệu khắc
khoải, da diết nh day dả xoáy sâu vào
lòng ngời rất thích hợp để thể hiện
tâm trạng buồn đau, bế tắc của con
ngời (Chinh phụ ngâm - bản dịch của
Đoàn Thị Điểm [3] có đến 20 câu hỏi, 6
câu cảm thán; Cung oán ngâm khúc của
Nguyễn Gia Thiều [6] có đến 35 câu hỏi,
30 câu cảm thán). Chức năng trữ tình
của STLB trong Thơ mới 1932 - 1945 đã
có những đổi khác nên rất ít khi sử
dụng câu hỏi. STLB trong Thơ mới 1932
- 1945 còn mang một số chức năng và
nội dung khác: chức năng trào phúng
với nội dung châm biếm, phê phán (Cái
chuông ông Trùm - Tú Mỡ, Khóc cụ
Tôlăngxơ - Đồ Phồn). Tuy vậy, chừng ấy
thay đổi dờng nh cũng cha đủ để tạo
nên một ấn tợng mới rõ rệt. Tính chất
trữ tình, hồi cố vốn đợc tạo ra từ thời
hoàng kim của thể thơ vẫn chiếm u
thế.
Rõ ràng,
bớc sang thời hiện đại,
mới thể loại này?
Trớc hết, xét về cấu trúc.
Quan
sát 18 bài thơ STLB ít ỏi, có thể thấy
mô hình chuẩn của STLB từng đợc xác
lập trong văn học trung đại vẫn đợc
các nhà thơ mới bảo lu, và có lẽ cũng
khó có thể phá vỡ. Có một ít biến đổi
nhng với mức độ thấp và không đáng
kể. Duy nhất có một trờng hợp (bài
Giọt lệ trích tiên của Bích Khê) vắng
bóng hoàn toàn cặp câu lục bát, vai trò
kết bài đợc trao cho hai câu thất. Tuy
vẫn bảo lu mô hình chuẩn mực của
STLB cổ truyền nhng các bài STLB
thơ mới tỏ ra a dùng kiểu lục bát
gián thất hơn (hai câu lục bát đi trớc
rồi mới đến hai câu thất). Trong số 18
bài STLB thì có tới 8 bài mở đầu bằng
cặp câu 6/8: Thức giấc (Thế Lữ), Thơ
sầu rụng và Sứ giả (Lu trọng L), Giọt
lệ trích tiên (Bích Khê), Quán cũ trong
sơng (Hằng Phơng), Khóc cụ
Tôlăngxơ (Đồ Phồn), Nửa đêm (Đào
Xuân Qúy). Riêng trờng hợp bài Sứ
giả của Lu Trọng L, giữa bài thơ có
một dòng 7 trên bị bớt tiếng co lại
thành dòng 4, dòng 7 dới giãn ra
thành dòng 8; kéo theo hiện tợng xô
cạnh cách ngắt nhịp truyền thống 3/4
(lẻ trớc, chẵn sau) ở hai câu thất, nhịp
chẵn về cơ bản ở hai câu lục - bát; STLB
Thơ mới cũng có những phá cách, sáng
tạo mới mẻ. Ví dụ ngắt nhịp 1/ 4 / 2 ở
câu thất trên:
ừ
! / Cụ sớm lựa thời / là phải
(Nhng chờ chi nay mới cuốn xiêm)
(Đồ Phồn - Khóc cụ Tôlăngxơ)
Em: / sứ giả Minh Hoàng / ngời cũ,
(Chốn ngọc cung mái phủ sầu che)
Biện Thị Quỳnh Nga Thể loại song thất lục bát , Tr. 38-47 44
(Lu Trọng L - Sứ giả)
Ngắt nhịp 1/ 2 / 4 ở câu thất trên:
Nhng; / than ôi ! / giọng ta vừa cất.
(Chim họa mi im bặt lời ca)
(Phạm Huy Thông - Tiếng họa mi ca)
Chàng! / chàng ơi! / sao chàng hờ hững
(Để lòng em nặng đựng thơng đau)
(Phạm Huy Thông - Vọng phu)
Ngắt nhịp 2/ 2 / 3 ở câu thất trên:
Nhng không! / nhng không! / chàng
vẫn sống
Nhng; than ôi ! giọng ta vừa cất.
Chim họa mi im bặt lời ca
(Phạm Huy Thông - Tiếng họa mi ca)
Chàng! chàng ơi! sao chàng hờ hững
Để lòng em nặng đựng thơng đau
(Phạm Huy Thông - Vọng phu)
Thứ ba, về giọng điệu và ngôn
ngữ. STLB truyền thống, đặc biệt đợc
dùng trong ngâm khúc, với nội dung diễn
tả những tâm trạng mang tính chất bi
kịch nên mang âm điệu chủ đạo là bi ai,
sầu não, có lúc nh đợc đẩy đến tuyệt
vọng. Giọng điệu đặc thù này của STLB
đã tìm thấy sự đồng điệu ở những tâm
hồn bế tắc, mang nặng niềm đau thơng
nhân thế ở những cái Tôi thơ mới. Vì thế
không phải ngẫu nhiên mà các nhà thơ
mới tìm về với thể thơ này trong bối cảnh
mà họ có nhiều hớng lựa chọn thể loại.
Giọng điệu trong thơ Hàn Mặc Tử có lúc
đợc thể hiện qua những thanh âm trúc
trắc, biểu lộ sự quằn quại trong tuyệt
vọng, là tiếng gọi níu luyến đầy thiết tha
hy vọng của một kẻ đam mê đến gần đứt
sự sống:
Nghệ hỡi Nghệ! muôn năm sầu thảm
Nhớ thơng còn một nắm xơng thôi
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nớc mắt bời bời ruột gan.
(Hàn Mặc Tử - Muôn năm sầu thảm).
(Tế Hanh - Cảm thông).
Mang giọng điệu tơi vui này còn
phải kể đến Tra vắng (Phạm Huy
Thông) và Hồ xuân và thiếu nữ (Thế
Lữ). Tú Mỡ, Đồ Phồn còn trao cho STLB
một thứ giọng lạ lẫm, tởng nh rất
chối tai, vậy mà khi đọc lên, những
thanh âm STLB lại diễn tả rất hiệu quả
ý đồ của nhà thơ. Đó là giọng trào
phúng, cời cợt, mỉa mai, châm biếm,
đả kích. Chẳng hạn Đồ Phồn Khóc cụ
Tôlăngxơ. Bài thơ này Đồ Phồn nhại
theo Nguyễn Khuyến ở bài Khóc Dơng
Khuê. Nhng ở bài Khóc Dơng Khuê
của Nguyễn Khuyến, giọng điệu chủ
đạo là giọng hoài niệm, tiếc thơng, đau
xót. Còn ở Đồ Phồn là giọng kể tội,
châm chọc, nhạo báng cụ Tô Sự đa
dạng hoá trong âm thanh giọng điệu
của thể STLB là một cố gắng tìm kiếm
mới trong thơ của các nhà thơ mới, góp
phần chuyển điệu thơ STLB từ trữ
tình điệu ngâm sang trữ tình điệu
nói.
Phù hợp với giọng điệu, ngôn ngữ
thơ cũng có những biến đổi. Các tác giả
STLB đặc biệt chú trọng khai thác từ
láy nhằm tăng hiệu quả nghệ thuật cho
hình tợng ngôn từ. Rất nhiều những
từ láy mang sắc thái chủ quan mạnh
những biến đổi bất ngờ. Nghệ thuật đối
kể cả lối bình đối (đối cách cú) và tiểu
đối (đối vế trong dòng câu) cũng ít đợc
vận dụng. Hiện tợng vắt dòng chỉ xảy
ra hai lần trong Tiếng hoạ mi ca của
Phạm Huy Thông:
- Qua khung cửa, bóng trăng bỗng rọi
Mớ hào quang chói lọi vào phòng.
- Đơng sáng sủa tựa hồ dòng suối
Chảy vội vàng trên khối pha lê.
Sự xuất hiện dấu chấm câu giữa
dòng làm dòng thơ chia tách thành hai
đơn vị cú pháp độc lập chỉ xảy ra duy
nhất một lần trên dòng thất:
Giờ thanh thoát. Đất ơi! có biết.
Ta không buồn tử biệt, sinh ly.
(Tế Hanh - Cảm thông)
Biện Thị Quỳnh Nga Thể loại song thất lục bát , Tr. 38-47 46
và một lần trên dòng lục:
Lạnh lùng, gió cuốn. Hững hờ,
Trên cao một đám mây mờ đi qua
(Phạm Huy Thông - Cành liễu bên hồ)
Tóm lại, STLB khi đi vào Thơ mới
1932 - 1945 tuy đã đợc cách tân, làm
bát), thiếu những tác phẩm để đời (Có
lẽ vì thế chăng mà trong Thi nhân Việt
Nam [7] Hoài Thanh - Hoài Chân đã
không lựa chọn đợc tác phẩm xuất sắc
nào?)
Cũng không vì thế mà cho rằng
STLB cũng nh một số thể loại thơ
truyền thống khác đã đến hồi cáo
chung, hết vai trò lịch sử, không còn có
thể đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con
ngời hiện đại. Sau Thơ mới 1932 -
1945, vẫn xuất hiện những tác phẩm
STLB có tiếng vang, tiêu biểu nh
Hành phơng nam của Nguyễn Bính,
Ba mơi năm đời ta có Đảng của Tố
Hữu, Trờng ca kể chuyện Bác Hồ của
Sóng Hồng. Đặc biệt gần đây có trờng
ca Con Hồng cháu Lạc của Nguyễn
Khánh Toàn với hơn 15 nghìn câu thơ
[8] Rõ ràng, con đờng đi đến hiện đại
của thơ ca nói riêng và văn học dân tộc
nói chung hãy còn tiếp tục; trên con
đờng ấy, sự tham gia của một số thể
loại truyền thống, trong đó có STLB,
cha phải đã kết thúc. Vấn đề là tài
năng vận dụng, sáng tạo của ngời
nghệ sĩ và khoa học khảo cứu, thẩm
định của các nhà nghiên cứu.
poetry (1932 1945)
The paper studies carefully on the seven - seven - six - eight meter in the
renovation poetry 1932 - 1945, especially on its features: position, functionnal
characteristics, content, and prosody. From that, it defines the role, desnity
anh the life of type in Viet Nam modern poetry.
(a)
Cao học 14 - Văn học Việt Nam, Trờng Đại học Vinh.