Yếu tố ca dao trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn (Trên 3 bình diện thể thơ, giọng điệu và hệ thống đề tài - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN QUỐC KHÁNH Yếu tố ca dao trong thơ lục bát Đồng Đức
Bốn (Trên 3 bình diện: thể thơ, giọng điệu
và hệ thống đề tài)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
1.2.2.3 Biến thể lục bát 21
1.2.2.3.1 Dòng lục thay đổi dòng bát giữ nguyên 21
1.2.2.3.2 Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi 21
1.2.2.3.3 Cả hai dòng đều thay đổi 21
1.3 Thể lục bát từ ca dao đến thơ trung đại 22
1.3.1 Những yếu của tiếng Việt là điều kiện nội tại cho
sự hình thành thể thơ 22
1.3.2 Thể thơ lục bát trong văn học Trung đại đã đạt đến mẫu mực 25
1.3.2.1 Quá trình tìm tòi và định hình các hệ thống chuẩn mực 25
1.3.2. "Truyện Kiều" của Nguyễn Du đã đạt đến độ mẫu mực 30
1.4 Thể lục bát từ ca dao đến thơ Đồng Đức Bốn 31

Chương 2: yếu Tố ca dao trong thơ lục bát Đồng đức bốn trên bình diện
giọng điệu
2.1 Xung quanh khái niệm giọng điệu trong văn học 39
2.1.1 Quan niệm về giọng điệu của các nhà nghiên cứu 39
2.1.1.1 Quan niệm của nhà phê bình văn học Hoài Thanh 39
2.1.1.2 Quan niệm của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến 42
2.1.1.3 Quan niệm của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử 43
2.1.2 Định nghĩa đầy đủ về "giọng điệu" 45
2.2 Một số đặc trưng trong giọng điệu thơ lục bát Đồng Đức Bốn 48
2.2.1 Giọng thở than, tê tái 48
2.2.1.1 Cơ sở của giọng thở than tê tái
48
2.2.1.2 Đồng Đức Bốn kế thừa cách tổ chức sắc điệu của giọng thở than
tê tái trong ca dao 49
2.2.1.3 Diện mạo sắc điệu thở than tê tái trong thơ
Đồng Đức Bốn 52
2.2.2 Chất "giọng quê mùa" được tạo nên bởi hệ thống thi liệu 58


thơ chủ yếu của ca dao truyền thống.
Kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là sự khẳng định ưu
thế tuyệt đối của thể thơ này trong nền thơ ca dân tộc. Trước Nguyễn Du,
thể song thất lục bát cũng đã sản sinh ra hai tác phẩm bất hủ, đó là Cung
oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều và Chinh phụ ngâm (bản dịch của Đoàn
Thị Điểm). Có lẽ vì thế mà nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng lục bát là thể
thơ thể hiện rõ nhất tinh hoa của tiếng Việt.
Đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Cảnh trong cuốn Ngôn ngữ
thơ đã nhận xét: “… trong suốt nhiều thế hệ nghệ sĩ, văn hóa dân gian đã
luôn là nguồn cảm hứng, là tiền đề kĩ thuật cho mọi loại hình nghệ thuật…
và chẳng phải Truyện Kiều như là đỉnh cao của thi ca cổ điển đã được viết
bằng những câu ca dao dân dã đó sao” [3, 200].
1.2 Tiếp nối dòng chảy quá khứ, thơ ca hiện đại lại đóng góp những
tên tuổi lớn như: Tố Hữu, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Bùi Giáng, Phạm
Công Trứ, Đồng Đức Bốn… trong đó, Đồng Đức Bốn là một cái tên xuất
hiện khá muộn trên thi đàn. Tuy xuất hiện khá muộn màng và cũng không
ồn ào nhưng Đồng Đức Bốn đã tìm cho mình một chỗ đứng riêng trong
làng thơ lục bát. Để cho thật khách quan, chúng tôi xin trích dẫn những lời
nhận xét của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu về hiện
tượng Đồng Đức Bốn:
• “Đồng Đức Bốn là một nhà thơ khai sáng và sáng tạo ra những cái
mới trong thơ lục bát”, “Đồng Đức Bốn là người tự dưng đốn ngộ với riêng
NGUYỄN QUỐC KHÁNH LUẬN VĂN THẠC SĨ 2
thể thơ lục bát. Đó là ân huệ trời dành riêng cho anh”, “Đồng Đức Bốn vị
cứu tinh của thơ lục bát” – Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp [62, 533].
• “Một mình Đồng Đức Bốn đã làm một cuộc trường chinh. Gã xông
thẳng vào trận địa lục bát và chỉ một thời gian ngắn, Đồng Đức Bốn trở

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về thơ lục bát Đồng Đức Bốn hiện nay chỉ
tồn tại dưới dạng các bài viết, các bài phê bình, phân tích ngắn mà chưa có
một chuyên luận hay bài nghiên cứu nào đi sâu khai thác yếu tố ca dao
(trên ba bình diện: thể thơ, giọng điệu và hệ thống đề tài) trong thơ lục bát
Đồng Đức Bốn. Trên cơ sở nguồn tư liệu bao quát được và trong phạm vi
quan tâm của đề tài, bước đầu, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
2.1 Các bài viết về nhà thơ Đồng Đức Bốn chủ yếu xoay quanh một số
khía cạnh như: tài năng bẩm sinh của nhà thơ, nét độc đáo, chất thơ mộc
mạc, cá tính nghệ sĩ, giọng điệu hay chất dân gian (mới chỉ là nêu lên vấn
đề chứ chưa đi sâu vào việc nghiên cứu).
Như vậy, chưa có một chuyên luận nào hay thậm chí một bài viết nào
tìm hiểu yếu tố ca dao (thể thơ, giọng điệu và hệ thống đề tài) trong thơ lục
bát Đồng Đức Bốn.
2.2 Chúng tôi xin thống kê các bài viết về Đồng Đức Bốn được đăng
và in trên các sách báo gần đây để thấy rõ sự thiếu vắng cũng như vai trò
quan trọng của đề tài này trong việc giải mã Đồng Đức Bốn:
Đồng Đức Bốn vị cứu tinh của thơ lục bát (Nguyễn Huy Thiệp).
Đồng Đức Bốn - Kẻ mượn bút của trời (Đỗ Minh Tuấn).
Múa võ trong không gian hẹp (Lê Quang Trang).
Đồng Đức Bốn – phiêu du vào lục bát (Nguyễn Đăng Điệp).
Những câu thơ tình tang quê mùa (Đoàn Hương).
Đọc thơ lục bát của Đồng Đức Bốn (Nguyễn Thị Anh Thư).
Đồng Đức Bốn – người cày ruộng trên cánh đồng nhớ thương
(Nguyễn Văn Quân).
Đồng Đức Bốn – tiếng chuông chùa kêu trong mưa (Khánh Phương).
Đóng gạch nơi nao? (Phạm Tiến Duật).
NGUYỄN QUỐC KHÁNH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ 5
thôn Đoài, thôn Đông, vẫn là cái ngậm ngùi của sự nghèo nàn và mất mát
khiến lòng ta nhói đau nhưng trong thơ Đồng Đức Bốn nó lại mang một
màu sắc khác. Trong cái chung, cái phổ biến ấy ta vẫn dễ dàng nhận thấy
cái mới lạ, độc đáo riêng biệt của thơ anh.
Trong bài viết của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã nêu lên tính đặc trưng
của thơ lục bát là dễ làm, khó hay. “Có thể nói thơ lục bát là một thể thơ
nôm na cổ truyền đặc trưng Việt Nam. Người Việt Nam vị tình. Thơ lục bát
cũng là một thể thơ vị tình. Nó gần gũi với lối sống, nếp nghĩ của người
nông dân Việt Nam thật thà, chất phác, thơ lục bát rất dễ làm nhưng chính
vì thế mà khó hay… Đồng Đức Bốn là người tự dưng đốn ngộ với thể thơ
lục bát” – Nguyễn Huy Thiệp.
Tổng hợp lại bài viết của Nguyễn Huy Thiệp có mấy ý chính sau:
- Thơ lục bát Đồng Đức Bốn hay.
- Tài năng thơ của anh ấy giống như là trời cho cái “lộc” vậy.
- Thơ Đồng Đức Bốn thường có chủ đề quay lại với các giá trị văn hóa
cổ truyền.
- Đề tài làng quê trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn có nhiều nét mới và
độc đáo.
Như vậy, một số bài viết đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề thể loại và
mối liên hệ mật thiết giữa thơ lục bát Đồng Đức Bốn và dòng chảy bắt
nguồn từ truyền thống. Tuy nhiên, chưa có vấn đề nào được nghiên cứu
sáng tỏ và rõ ràng, đây là những vấn đề còn để ngỏ.
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp cũng đánh giá rất cao thơ lục bát
Đồng Đức Bốn.
“Từ lục bát của ca dao, Nguyễn Du đã tạo nên một đột biến: “Khi
Nguyễn Du viết Truyện Kiều đất nước biến thành văn” (Chế Lan Viên).

2.3 Từ những khảo sát trên đây, có thể thấy, cho đến nay chưa có một
công trình nghiên cứu một cách hệ thống “yếu tố ca dao trong thơ lục bát
Đồng Đức Bốn (trên ba bình diện: thể thơ, giọng điệu và hệ thống đề tài)”.
Ai cũng biết thơ lục bát thật dễ làm nhưng để hay và đi vào lòng
người đọc thì quả thực đã làm nhiều cây bút phải nản lòng vì điều đó thật
không dễ chút nào. Bằng chứng là nếu kể tên các nhà thơ hiện đại Việt
Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ 7
Nam thành công ở thể loại này có lẽ chỉ đếm được trên đầu ngón tay:
Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Bùi Giáng, Phạm Công Trứ Chính vì thế
mà những đóng góp của Đồng Đức Bốn cho thơ Việt Nam hiện đại là
điều hết sức đáng quý.
Đồng Đức Bốn là nhà thơ sử dụng nhiều lối nói dân gian, có cái gì vừa
thô mộc, vừa hoang dại lại rất ý tứ, ẩn chứa những triết lí sâu xa. Ta có thể
thấy rất nhiều câu thơ mà anh sử dụng nhuần nhuyễn thành ngữ như thế
nào. Bên cạnh đó, những hình ảnh quen thuộc ở vùng nông thôn như con
cò, con vạc, cánh diều, cánh đồng, đường làng xuất hiện với tần số cao
trong thơ anh:

Ngang trời tiếng vạc mảnh mai
Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi
Mảnh nào em để cho tôi
Khi buồn chỉ đặt ngang môi làm kèn
(Cái đêm em ngủ với chồng)
Rồi thì:
Không em ra ngõ kéo diều
Nào ngờ được mảnh trăng chiều trong mây
Luồn kim vào nhớ để may

thật hồn nhiên, ngây thơ, dễ hiểu và lúc này cái kinh nghiệm trẻ con mới
cần phát huy tối đa. Thế chẳng phải là cái hồn nhiên đầy kinh nghiệm đó
sao.
Không thể phủ nhận một điều rằng thơ của anh hay và có nói gì thì
nói một nhà thơ thành công, có nghĩa là thơ của anh ta phải được nhiều
người thuộc, nhiều người thích. Thơ Đồng Đức Bốn đã đáp ứng một cách
đầy thuyết phục tiêu chí này. Không những thế anh còn được coi là người
tiếp nối dòng chảy dân gian trong thơ ca và có những đóng góp không nhỏ
trên thi đàn.
3. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ 9
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “yếu tố ca dao trong thơ lục bát
Đồng Đức Bốn” trên ba bình diện: thể thơ, giọng điệu và hệ thống đề tài.
Như vậy, chúng tôi chỉ khảo sát thơ lục bát Đồng Đức Bốn, còn các sáng
tác của anh thuộc thể loại khác như tự do, ngũ ngôn… chúng tôi không đề
cập trong luận văn này.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các bài thơ lục bát của Đồng Đức
Bốn nằm rải rác trong các tập thơ mà anh đã in:
- Con ngựa trắng và rừng quả đắng (NXB Văn học, 1992)
- Chăn trâu đốt lửa (NXB Lao động, 1993)
- Trở về với mẹ ta thôi (NXB Hội nhà văn, 2000)
- Cuối cùng vẫn còn dòng sông (NXB Hội nhà văn, 2000)
- Chuông chùa kêu trong mưa (NXB Hội nhà văn, 2002)
- Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (NXB Hội nhà văn, 2006)
3.3 Phương pháp nghiên cứu

6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn được
triển khai theo ba chương:
Chƣơng 1 - Vài nét về tiến trình của thể lục bát từ ca dao đến
thơ hiện đại
Chƣơng 2 - Yếu tố ca dao trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn trên bình
diện giọng điệu
Chƣơng 3 - Yếu tố ca dao trong thơ Đồng Đức Bốn trên bình diện
hệ thống đề tài
Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ 11
Phần nội dung

CHƢƠNG 1
Vài nét về tiến trình của thể lục bát từ ca dao đến thơ hiện đại

1.1 Mối liên hệ giữa Văn học dân gian và Văn học viết
1.1.1 Khái niệm văn học dân gian
Theo một số nhà nghiên cứu văn học Việt Nam thì trước những năm
50 của thế kỷ XX, khái niệm Văn học dân gian được gọi là “văn chương
truyền khẩu”, “văn nghệ dân gian”, “sáng tác dân gian”… Chúng ta có thể
nhầm lẫn giữa các khái niệm mà thoạt nghe có vẻ không khác nhau là mấy
như “văn hóa dân gian”, “văn nghệ dân gian”… Tuy nhiên, giữa văn học
dân gian với văn hóa dân gian và giữa thành phần ngôn ngữ với các thành
phần nghệ thuật khác trong nội bộ văn học dân gian có những mối quan hệ
hữu cơ hết sức chặt chẽ. Vì thế, văn học dân gian có vị trí đặc biệt trong
nền văn hóa dân gian và trong hệ thống các loại hình nghệ thuật.
ở phương Tây, người ta dùng thuật ngữ Folklore dùng để chỉ những di

“Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao
động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thủy, trải qua các thời kỳ phát triển
lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại
hiện nay” [24, 7].
Một tính chất quan trọng của văn học dân gian, đó là tính chất nhiều
chức năng. Trong văn học dân gian, chức năng “nhận thức”, chức năng
“giáo dục”, chức năng “thẩm mĩ” và chức năng “sinh hoạt” hợp thành một
thể thống nhất. Lê - nin đã chỉ ra, trong văn học dân gian có sự thể hiện
“thế giới quan”, “những mong chờ và khát vọng” của quần chúng, “tâm
hồn của nhân dân” và đã xem văn học dân gian là một trong những hình
thức biểu hiện của “những tư tưởng triết học nhân dân”.
Cho dù là dòng văn học thời kỳ sơ khai của loài người nhưng văn học
dân gian đã mang gần như đầy đủ các yếu tố và bản chất của văn học.
Chính mối quan hệ với hoạt động thực tiễn và tính nguyên hợp về hình thái
ý thức xã hội bao giờ cũng làm cho văn học dân gian sinh động và đa dạng.
Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ 13
Cuộc sống văn học dân gian không phải là cuộc sống dưới hình thức văn
bản, cuộc sống của văn học dân gian phải là cuộc sống gắn liền với một
môi trường sinh hoạt nhất định của văn hóa dân gian. Do đó cuộc sống của
văn học dân gian được biểu hiện ra thành vô số hình thức sinh hoạt, những
hình thức sinh hoạt này cũng phong phú, đa dạng như bản thân những hình
thức sinh hoạt trong đời sống thực tiễn của nhân dân.
1.1.2 Sự hình thành của dòng văn học viết
Văn học dân gian luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền văn
học dân tộc. Trong thời kỳ dân tộc chưa có chữ viết hoặc chữ viết chưa phổ
cập, nó có đóng góp lớn trong việc giữ gìn và phát triển ngôn ngữ dân tộc,
nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân. Tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của văn

1.2. Sự xuất hiện của ca dao với tƣ cách là một thể loại của văn
học dân gian
1.2.1 Các hình thức sinh hoạt trong ca dao, dân ca
Ca hát dân gian là một hình thức sinh hoạt tự nhiên của nhân dân lao
động. Ca dao và dân ca bắt nguồn từ chính các hình thức sinh hoạt ca hát
dân gian. Đây là một hành động sáng tạo nghệ thuật hồn nhiên, một hành
động sáng tạo nghệ thuật mà mục đích chủ yếu là thể hiện ngay tức khắc,
một cách trực tiếp, những tình cảm tự nhiên, những ý nghĩ, thái độ nảy sinh
trực tiếp từ một hoàn cảnh sống, mối quan hệ với thiên nhiên hoặc với con
người. Trong sự đa dạng về các hình thức sinh hoạt ca hát dân gian, chúng
ta có thể phân ra làm ba mảng chính.
1.2.1.1 Sinh hoạt lao động
Các nhà nghiên cứu cho rằng trong số những thể loại dân ca mà nguồn
gốc và chức năng có mối quan hệ hữu cơ và trực tiếp nhất với sinh hoạt lao
động của nhân dân, đầu tiên phải kể đến “hò lao động”. Hoạt động thơ ca của
người nguyên thủy diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ với các quá trình lao
động.
Trong lao động, nhịp điệu đóng vai trò rất quan trọng. Nhịp điệu là
đặc trưng của động tác lao động. Cảm xúc về nhịp điệu nảy sinh ra từ động
Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ 15
tác lao động của con người. Khi ta thành thạo một động tác lao động nào đó
thì cảm xúc về nhịp điệu của ta tăng lên.
Chúng ta có thể khẳng định rằng cảm xúc về nhịp điệu phát sinh và
phát triển trong lao động, đồng thời có tác dụng trở lại đối với lao động.
Trong lĩnh vực nghệ thuật, nhịp điệu là đặc trưng của âm nhạc, nhảy múa
và đóng vai trò quan trọng trong sự cấu thành của thơ ca. Nguyên nhân và
cơ sở ra đời của những bài ca lao động thể hiện rất rõ mối liên quan chặt

Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời im bể lặng mới yên tấm lòng
(Ca dao)
1.2.1.2 Sinh hoạt gia đình và xã hội
Chúng ta phải công nhận một điều rằng, cơ sở cho sự phát triển của dân
ca chính là hình thức sinh hoạt lao động, sinh hoạt gia đình và xã hội. Nhiều
hình thức sinh hoạt ca hát và thể loại dân ca trữ tình có tính chất phổ biến đã
hình thành và phát triển trên cơ sở những sinh hoạt gia đình và xã hội mang
tính chất phong tục tập quán. Chính nhờ yếu tố này một loại ca dao rất phổ
biến đã ra đời, đó là những bài hát ru. Do đặc điểm của sự hình thành nội
dung những lời hát ru như vậy, mà từ chỗ chỉ hát cho những đứa trẻ nghe
những điều có liên quan tới nó, người ru đưa vào trong tiếng hát ru tất cả
những câu hát hoặc mới sáng tác thêm, hoặc đã có sẵn trong các loại dân ca
khác, nói lên tâm trạng của người ru trong mối quan hệ giữa thiên nhiên với
xã hội…
Hay việc ra đời của những bài hát vui chơi lại gắn liền với những kỉ
niệm sâu sắc về thời thơ ấu của mỗi người. Nội dung của những bài hát vui
chơi là những nhận xét, những ý nghĩ và cảm xúc ngây thơ về giới tự
nhiên, về đời sống con người và đời sống xã hội. Và tất nhiên, vừa chơi,
vừa hát không chỉ là sinh hoạt chỉ thấy ở các em nhỏ mà cả người lớn nữa.
Đây cũng là một bộ phận nhỏ trong các sáng tác dân gian. Tuy nhiên nó
Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ 17
vẫn góp phần tạo nên diện mạo và sắc thái riêng cho bộ phận sáng tác dân

18
hoạt lao động đã hình thành một loạt các hình thức nghi lễ, mà con người
tin rằng những dịp tiến hành tổ chức là những dịp tạo điều kiện cho các lực
lượng siêu nhiên, giúp đỡ con người lao động một cách có kết quả. Ví dụ
như những nghi lễ gắn liền với sản xuất nông nghiệp cũng là một biểu hiện
của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, và những yếu tố nghệ thuật
trong các nghi lễ ấy cũng là một biểu hiện của mối quan hệ giữa văn học
dân gian với lao động.
ở hầu hết các nước trên thế giới đều có loại bài ca khẩu nguyện, phản
ánh lòng tin của con người vào những lực lượng siêu nhiên và cầu mong
được những lực lượng đó giúp đỡ trong lao động và trong đời sống.
Mảng sinh hoạt nghi lễ rất phong phú và đa dạng, ví dụ như các bài
hát trong đám tang, bài hát trong những ngày chào đời đầu tiên của em bé,
hay các bài hát vào dịp lễ tết hàng năm, rồi đến dân ca tế thần… nhưng tựu
chung, sinh hoạt nghi lễ là một biểu hiện của quan hệ giữa con người với tự
nhiên và giữa con người với nhau, thông qua quan hệ giữa con người với
những lực lượng siêu nhiên do trí tưởng tượng của chính con người tạo ra.
Giai đoạn sau này cùng với sự biến mất của nhiều hình thức sinh hoạt nghi
lễ trong đời sống nhân dân, những loại dân ca nghi lễ gắn liền với những
sinh hoạt nghi lễ ấy cũng biến mất theo, và chỉ có những hình thức nghệ
thuật nhất định nào đó của những loại dân ca nghi lễ ấy là còn tiếp tục tồn
tại và bổ sung về mặt hình thức cho các loại dân ca gắn liền với sinh hoạt
thế tục. Trong ca dao, bộ phận sáng tác theo hình thức sinh hoạt này cũng
không phải là phổ biến. Nó chỉ chiếm một phần khá khiêm tốn trong kho
tàng ca dao.
1.2.2 Lục bát là thể thơ được dùng chủ yếu trong ca dao
1.2.2.1 Thể lục bát
Trong ca dao thì thể thơ lục bát truyền thống với các quy luật thanh
điệu, vần điệu được mô tả theo bảng sau:


bằng

trắc

bằng
(vần)

bằng
(vần)

Ví dụ:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng đã có nhưng chưa ai vào
(Ca dao)
Đây là khuôn hình phổ biến và điển hình nhất của thơ lục bát. Như
vậy, chúng ta thấy rằng thể lục bát gồm từng cặp (6 và 8) lặp đi lặp lại,
không thay đổi về số chữ, trong đó câu lục chỉ có một vần ở chữ sau, còn
câu bát thì có hai vần, một vần ở chữ thứ sáu hiệp với chữ thứ sáu của câu
lục ở trên và một vần ở chữ thứ tám hiệp vần với chữ thứ sáu của câu lục ở
dưới. Tất cả các vần đều là vần bằng không có vần nào trắc, câu bát như
vậy là có hai vần bằng, chữ thứ sáu nếu không có dấu thì chữ thứ tám phải
có dấu huyền hoặc ngược lại. Hai chữ này không cùng một thanh điệu
(cùng dấu không hay dấu huyền).
Ngoài ra còn có mô hình gieo vần lưng nhưng bộ phận này không
nhiều và phổ biến trong ca dao, ví dụ:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
(Ca dao)

Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm
Trông đường Bắc đôi chòm quán khách
Rườm rà cây xanh ngắt núi non
Lũy thành thoi thóp bên cồn
Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu
Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ 21
(Chinh phụ ngâm - Đoàn Thị Điểm dịch)
Đây là thể thơ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hợp với thơ dịch,
bằng chứng là “Chinh phụ ngâm” (Đoàn Thị Điểm dịch), “Tỳ bà hành”
(Phan Huy Vịnh dịch).
Đối với văn học viết thì thể loại này tuy đã mai một nhưng cũng kịp
để lại trên thi đàn những áng văn chương mẫu mực. Và ca dao cũng chung
số phận bởi những câu ca dao theo thể thơ song thất lục bát chỉ chiếm
khoảng 2% trong kho tàng ca dao dân tộc. Tuy nhiên, không phải vì thế mà
những câu ca dao theo thể này lại “kém chất lượng”:
Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng
May áo chàng cùng sóng áo em
Chữ tình cùng với chữ duyên
Xin đừng thay áo mà quên lời nguyền
(Ca dao)
Như vậy, ta cũng thấy rằng ở thể song thất lục bát thì cặp lục bát cũng
vẫn thể hiện rõ rệt khả năng chuyển tải cảm xúc tài tình. Nhờ vào sự linh
hoạt của cặp lục bát mà hai câu song thất cũng trở nên uyển chuyển hơn.
1.2.2.3 Biến thể lục bát
Trong ca dao thì biến thể lục bát được hiểu là hình thức không thay
đổi nhiều nhưng số tiếng ở mỗi dòng thơ co giãn nhất định chứ không
giống hệt về số tiếng ở mỗi dòng thơ như thể lục bát.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status