tích hợp giáo dục những vấn đề khoa học xã hội - nhân văn trong dạy học tác phẩm văn xuôi việt nam hiện đại lớp 11 thpt - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM VŨ THỊ THỊNH

TÍCH HỢP GIÁO DỤC NHỮNG VẤN ĐỀ KHOA HỌC
XÃ HỘI - NHÂN VĂN TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM
VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI LỚP 11 THPT
CHUYÊN NGÀNH : LÍ LUẬN VÀ PPDH VĂN - TIẾNG VIỆT
MÃ SỐ: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS. Đỗ Ngọc Thống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Những luận điểm cơ bản về dạy học tích hợp
1.1.1. Quan niệm về dạy học tích hợp
1.1.2. Mục tiêu của dạy học tích hợp
1.1.3. Vì sao phải thực hiện dạy học tích hợp?
1.1.4. Một số phương thức tích hợp các nội dung
1.1.5. Tích hợp nội dung và tích hợp như một khoa học sư phạm
1.2. Yêu cầu của chương trình Ngữ văn trung học về dạy học tích hợp
1.2.1. Tích hợp ba phần Văn, Tiếng Việt và Làm văn
1.2.2. Tích hợp ngang và tích hợp dọc
1.2.3. Tích hợp liên môn và xuyên môn
1.3. Tác phẩm văn học nói chung và văn xuôi Việt Nam hiện đại nói

39

39 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
1.4.2.2. Khảo sát bài viết của học sinh về tác phẩm văn xuôi Việt
Nam hiện đại
CHƢƠNG 2 : DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO YÊU CẦU
TÍCH HỢP KIẾN THỨC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN
2.1. Xác định mục tiêu và yêu cầu tích hợp kiến thức khoa học xã hội -
nhân văn trong dạy học tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại ở trung
học phổ thông
2.1.1. Mục tiêu tích hợp
2.1.2. Yêu cầu tích hợp
2.2. Khả năng và các nội dung khoa học xã hội - nhân văn có thể tích hợp
khi dạy các tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại ở trung học phổ thông
2.2.1. Khả năng tích hợp
2.2.2. Nội dung tích hợp
2.3. Tổ chức dạy học tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại ở trung học
phổ thông theo yêu cầu tích hợp kiến thức khoa học xã hội - nhân văn
2.3.1. Biên soạn giáo án theo yêu cầu tích hợp
2.3.2. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà theo yêu cầu tích hợp
2.3.3. Tổ chức đọc hiểu văn bản trên lớp theo yêu cầu tích hợp
2.3.4. Kiểm tra đánh giá theo yêu cầu tích hợp
CHƢƠNG 3 : THỬ NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích thử nghiệm

86
105 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
3.5. Kết quả thử nghiệm
3.5.1. Bảng thống kê và tổng hợp kết quả thử nghiệm
3.5.2. Nhận xét chung về thử nghiệm
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
105
105
107
109



DHTH
GD&ĐT
GV
HS
KHXH-NV
PPDH
SGK
SGV
THCS
THPT
:
:
:
:

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kĩ thuật và công
nghệ, tri thức của loài người đang gia tăng nhanh chóng, việc quy định cứng
nhắc những nội dung chi tiết trong chương trình dạy học dẫn đến tình trạng
nội dung chương trình dạy học nhanh bị lạc hậu so với tri thức hiện đại. Mặt
khác, thời gian học tập trong nhà trường có hạn, ngày càng có nhiều nội dung
giáo dục mới cần đưa vào nhà trường (dân số, môi trường, phòng chống
HIV/AIDS, chống các tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, an toàn giao thông,
bảo tồn và phát triển nền văn hoá dân tộc, ). Song không thể đặt thêm những
môn học mới mà phải lồng ghép vào các môn học đã có. Do đó phải chuyển
từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp. GV phải biết dạy
tích hợp các khoa học, dạy cho HS cách thu thập, chọn lọc, xử lí thông tin,
biết vận dụng các kiến thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế.
1.2. Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện đang
được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế
giới. Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng
môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung
nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở bậc
tiểu học và cấp THCS. Trước đó, tinh thần giảng dạy tích hợp chỉ mới được
thực hiện ở những mức độ thấp như liên hệ, phối hợp các kiến thức, kĩ năng
thuộc các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề giảng
dạy.
Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử
nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT. Chương trình
THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ GD&ĐT dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan
điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”, “Nguyên tắc

hướng để thúc đẩy được sự hoạt động bên trong của HS. HS phải tự tìm tòi,
khám phá, tự chiếm lĩnh tri thức mà bài học chứa đựng. Đồng thời từ kiến
thức của bài học, môn học đó, HS biết liên hệ, mở rộng sang những kiến thức
của bài học, môn học khác có liên quan. Thực hiện tốt được những yêu cầu đó
không phải là điều dễ dàng đối với cả GV và HS.
Một thực trạng dễ nhận thấy nữa là: phần lớn GV chưa hiểu kĩ, hiểu sâu
về tích hợp nên nhiều khi vận dụng vào bài dạy cụ thể còn nhiều vướng mắc,
lúng túng.
Đối với bậc THPT, việc học tập và vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp
đã nhiều năm nay, song tác dụng do tích hợp mang lại chưa cao do chưa xác
định rõ mục tiêu tích hợp nên tích hợp chưa nhất quán, chưa triệt để, nhiều
chỗ còn gượng ép…
1.4. Tháng 06 - 2012, tại Đại hội đồng của UNESCO, Tổng Giám đốc
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc - bà Irina Bokova
khẳng định: KHXH-NV ngày càng đóng vai trò quan trọng và nhấn mạnh sự
cần thiết phải nâng cao nhận thức chung của công chúng về nhu cầu KHXH-
NV trong việc góp phần tạo ra tương lai mà nhân loại mong muốn. Tổng
Giám đốc UNESCO cũng nêu rõ nhân loại ngày nay phải xử lí các vấn đề và
thách thức mới về xã hội cũng như về đường lối mới hướng tới bền vững.
KHXH-NV đóng vai trò quan trọng sống còn để phát triển các chính sách tốt
hơn nhằm đáp ứng các nhu cầu và giải quyết các thách thức mà nhân loại
đang đối mặt. Đây là vấn đề cốt lõi để đảm bảo phát triển bền vững trong thế
kỉ tới [61]. Trong nhà trường phổ thông, một số môn học có khả năng tích
hợp những nội dung KHXH-NV vào bài học, trong đó môn văn là một môn
học có khả năng đặc biệt.
1.5. Quá trình dạy học văn là quá trình phức hợp đan kết nhiều quá
trình tâm lí, ngôn ngữ, văn học, sư phạm. Cũng như nhiều môn học khác

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



5
Quan điểm tuyển chọn tác phẩm vào chương trình và SGK Ngữ văn
hiện hành là “giàu giá trị nhân bản, thể hiện tất cả những mối quan hệ đa
dạng của con người, đáp ứng mục tiêu giáo dục nhân cách hài hoà cho học
sinh” [57]. Các tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại được giảng dạy trong
chương trình Ngữ văn THPT là những tác phẩm có giá trị, chiếm vị trí quan
trọng trong nền văn học dân tộc. Những vấn đề nhà văn đặt ra trong các tác
phẩm này gần gũi với những vấn đề mà cuộc sống cũng như tuổi trẻ ngày nay
đang tìm câu trả lời. Nhưng để dạy tốt những tác phẩm thuộc thể loại này, để
HS có thể hiểu và yêu quý cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm được học là
điều không dễ, nhất là trong bối cảnh xã hội và thực tế dạy học hiện nay. Hơn
nữa, đây lại là những tác phẩm tiềm ẩn nhiều nội dung và dữ kiện để thực
hiện tích hợp giáo dục các tri thức, kĩ năng KHXH-NV.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn của phương pháp giáo dục
theo quan điểm tích hợp và PPDH Ngữ văn ở trường phổ thông, chúng tôi
chọn đề tài: Tích hợp giáo dục những vấn đề khoa học xã hội - nhân văn
trong dạy học tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại lớp 11 THPT với mong
muốn góp phần vào việc chỉ ra con đường, cách thức tích hợp các nội dung
KHXH-NV vào giảng dạy phần văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương
trình THPT.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại trong giáo
dục cũng như trong dạy học văn. Đây là vấn đề đã thu hút sự quan tâm của
các nhà phương pháp và những người làm công tác giáo dục. Đề cập vấn đề
này, mỗi tác giả bàn đến ở một góc độ khác nhau nhưng tất cả đều có chung
sự khẳng định về vị trí, vai trò quan trọng, về tính tất yếu khách quan của việc
tích hợp trong dạy học Ngữ văn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam (Đỗ Ngọc Thống, NXB
Giáo dục, 2011); các cuốn Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của Bộ Giáo dục;
các cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn THPT do tác giả Phan Trọng Luận,
Hoàng Hữu Bội biên soạn
Trong những tài liệu trên, các tác giả đã giúp GV thấy được những yêu
cầu của đổi mới chương trình Ngữ văn và sự cần thiết của việc đổi mới PPDH
văn theo quan điểm tích hợp. Tuy nhiên, những tài liệu trên chủ yếu tập trung
vào vấn đề DHTH ba phân môn của môn Ngữ văn chứ chưa đề cập tới vấn đề
tích hợp các kiến thức KHXH-NV trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy
học tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại nói riêng một cách cụ thể và chuyên
sâu, chưa nêu thành nguyên tắc.
Trong số các tài liệu trên, quan tâm tới vấn đề DHTH các tri thức
KHXH-NV trong dạy học Ngữ văn phải kể tới một số công trình sau:
Cuốn Phương pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ biên xuất bản
lần đầu tiên năm 1991, đến nay đã tái bản lần thứ hai (có bổ sung sửa chữa)
năm 1999. Cuốn sách xuất bản lần thứ hai được in thành hai tập, số trang
cũng tăng thêm hơn hai trăm trang, chủ yếu tập trung vào PPDH tác phẩm văn
chương ở THPT. Tác giả đã chỉ ra con đường tiếp cận và cắt nghĩa tác phẩm
văn chương trong nhà trường phổ thông theo các quan điểm sau: quan điểm
tiếp cận lịch sử phát sinh hay là sự vận dụng một cách thích hợp những hiểu
biết ngoài văn bản (xã hội, văn hoá, nhà văn…) để cắt nghĩa tác phẩm; quan
điểm tiếp cận văn bản; quan điểm tiếp cận hướng vào đáp ứng của HS. Tác
giả đưa ra những nhận định có ý nghĩa xác đáng về thực trạng dạy học văn
trong nhà trường hiện nay và nguyên nhân của nó: 1. Điều đáng lo đầu tiên là
khoảng cách ngày càng rộng giữa văn hoá ngoài xã hội với văn học trong nhà
trường, xã hội càng biến động và biến đổi càng lộ rõ khoảng cách đó; 2. Cuộc
sống xã hội ngày càng phát triển cùng với những diễn biến mới trên mọi lĩnh

các dân tộc (trong và ngoài nước) có liên quan đến việc hiểu tác phẩm; sử

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
dụng những đoạn phim về phong cảnh thiên nhiên và đặc điểm địa lí ở những
vùng xa lạ với HS nhưng có liên quan đến việc hiểu tác phẩm; [46, tr. 330-
331]. Đó chính là những gợi ý về cách thức tích hợp cho GV trực tiếp đứng
lớp.
Trong Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam,
tác giả Đỗ Ngọc Thống có dẫn ra những ví dụ từ PPDH văn hiện đại của các
nước có nền giáo dục phát triển (Mĩ, Hàn Quốc, Pháp, Anh), đồng thời nêu ra
nguyên tắc, biện pháp thực hiện DHTH, đưa ra phương hướng kiểm tra đánh
giá theo quan điểm tích hợp [57]. Những gợi dẫn đó có thể xem là những định
hướng cho GV về DHTH các tri thức trong dạy học văn. Tuy nhiên, cũng như
các công trình nghiên cứu của các tác giả khác, trong công trình này tác giả
cũng chưa nghiên cứu chuyên sâu về DHTH các tri thức KHXH-NV trong
dạy học phần văn xuôi Việt Nam hiện đại.
Bên cạnh những tài liệu trên, chúng tôi còn chú ý tới những tài liệu về
tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, tích hợp nội dung giáo dục kĩ
năng sống trong môn Ngữ văn. Ngày 31/01/2005, Bộ GD&ĐT đã chỉ thị Về
việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường. Ngày 12/08/2008, Bộ
GD&ĐT ra công văn số 2737/GDĐT - GDTrH Về việc tích hợp nội dung giáo
dục bảo vệ môi trường vào các môn học cấp THCS và THPT. Trong đó, đưa
ra những môn học thực hiện tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
gồm: bậc THCS có các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Vật
lí, Sinh học, Công nghệ; bậc THPT có các môn Ngữ văn, Địa lí, Giáo dục
công dân, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Công nghệ.
Rèn luyện kĩ năng sống cho HS được xác định là một trong những nội
dung cơ bản của Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học

3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng cũng như là cơ sở lí luận, luận văn
tập trung nghiên cứu nội dung và phương pháp nhằm tích hợp những kiến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
thức KHXH-NV như: đạo đức - giáo dục công dân, địa lí, lịch sử, dân tộc học,
văn hoá, phong tục, tập quán, bảo vệ môi trường, kĩ năng sống,… vào giảng
dạy các tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình THPT.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần tập trung giải quyết những
vấn đề sau đây:
- Khảo sát thực tiễn SGK, SGV, giáo án của GV, bài viết của HS và dự
giờ dạy học tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại ở trường THPT.
- Xây dựng cơ sở lí luận để tổ chức dạy học tác phẩm văn xuôi Việt
Nam hiện đại ở trường THPT theo hướng tích hợp những kiến thức KHXH-
NV.
- Đề xuất được những phương hướng về nội dung cũng như cách thức
dạy học tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại ở trường THPT theo hướng tích
hợp những kiến thức KHXH-NV. Cụ thể là đề xuất được:
+ Nội dung dạy học là những gì?
+ Hình thức dạy học ra sao?
+ PPDH như thế nào?
- Thử nghiệm sư phạm giảng dạy để đánh giá khả năng thực thi và hiệu
quả của nội dung và cách thức dạy học tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại
ở trường THPT theo hướng tích hợp những kiến thức KHXH-NV.
5. Đối tƣợng và giới hạn phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng: Văn xuôi trong chương trình Ngữ văn THPT.
+ Giới hạn: Văn xuôi Việt Nam hiện đại lớp 11 THPT, ban cơ bản.

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Dạy học tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại ở THPT
theo yêu cầu tích hợp kiến thức KHXH-NV
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13

thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ
không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần
ấy. Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau,
quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn. Liên kết phải tạo thành
một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp.
Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích
hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ,
không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết
một vấn đề, tình huống. Tư tưởng tích hợp trên được bắt nguồn từ cơ sở khoa
học và đời sống. Cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư, là một tập đại
thành của tri thức, kinh nghiệm và phương pháp. Thực tế cho thấy, những vấn
đề nảy sinh trong đời sống, sản xuất ít khi chỉ liên quan tới một lĩnh vực tri
thức nào đó mà thường đòi hỏi vận dụng tổng hợp các tri thức, kĩ năng, kinh
nghiệm
Phương thức tích hợp các môn học trong quá trình dạy học, hay DHTH,
đã được vận dụng tương đối phổ biến ở nhiều nước. Hiện nay, quan điểm tích
hợp đã chiếm một vị trí chủ đạo trong hệ thống giáo dục của các nước tiên
tiến trên thế giới. Các nước như Mĩ, Anh, Pháp, Nhật, Úc,… đã biên soạn
chương trình và chỉ đạo phương pháp giảng dạy theo hướng tích hợp, đã thu
được những thành công nhất định. Như vậy, quan điểm tích hợp không đơn
thuần chỉ là một đề xuất, một ý tưởng tức thời mà nó đã trở thành một vấn đề
thời sự mang tính khoa học, đã được nhiều nước trên thế giới vận dụng và thu
được những thành tựu đáng kể.
Kinh nghiệm các nước cho thấy dạy học theo nguyên tắc tích hợp sẽ
giúp người GV năng động hơn, chủ động, sáng tạo và có kiến thức vững chắc

Trong thực tế nhà trường có nhiều điều chúng ta dạy cho HS nhưng không
thật sự có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản không được dành đủ thời
gian.
- Dạy HS sử dụng kiến thức trong hoàn cảnh cụ thể. Thay vì tham nhồi
nhét cho HS nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, DHTH chú trọng tập dượt cho
HS vận dụng các kiến thức, kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
ích cho cuộc sống sau này làm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có
năng lực sống tự lập. Thể hiện ở việc:
+ Nêu bật cách thức sử dụng kiến thức đã học.
+ Tạo các tình huống học tập để HS vận dụng kiến thức một cách sáng
tạo, tự lực.
Theo yêu cầu này thì DHTH không chỉ quan tâm đánh giá việc HS hiểu
những kiến thức đã học, mà còn đánh giá khả năng vận dụng kiến thức trong
các tình huống có ý nghĩa.
- Xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học. Trong quá trình học tập,
HS có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau
trong mỗi môn học nhưng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những
mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn
học khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải
càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới
vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách
thức, bất ngờ, chưa từng gặp.
1.1.3. Vì sao phải thực hiện DHTH?
Có thể nêu lên một số lí do của việc thực hiện DHTH ở trường phổ
thông như sau:
- DHTH góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường

+ Phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho HS phù hợp với đặc trưng
môn học.
+ Giáo dục HS thông qua quá trình dạy học bộ môn (như hình thành thế
giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan và thái độ, phẩm chất nhân cách
của người lao động mới,…).
+ Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và chuẩn bị cho
HS tham gia lao động sản xuất,

Trích đoạn Khảo sát giáo án của GV và dự giờ dạy học tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đạ Khảo sát bài viết của HS về tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đạ Mục tiêu tích hợp Yêu cầu tích hợp Khả năng tích hợp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status