Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
các thầy giáo cô giáo trong khoa Ngữ văn Trường ĐHSP HN2. Em xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy, cô trong khoa, đặc biệt là
thầy Vũ Ngọc Doanh đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp .
Tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp của các bạn sinh viên
khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP HN2.
Là một sinh viên lần đầu nghiên cứu khoa học chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp
của quý thầy, cô và bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn.
Xuân Hoà, ngày 09 tháng 05 năm 2007.
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Thanh Huê.
1
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
* Đọc hiểu văn chương hiện nay đang trở thành một trong những
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
cũng tồn tại trong hình thức một thể loại nhất định, không có tác phẩm siêu
thể loại. Thể loại chính là phạm trù về chỉnh thể tác phẩm. Dù thể loại là một
phạm trù mang tính lịch sử nhưng trong nó bao giờ cũng chứa đựng những hạt
nhân vững bền, đó là một mô hình hình tượng về thế giới, thể hiện cách cảm
nhận, giải thích và đánh giá thế giới. Đó là cơ sở để chúng ta khái quát lên
những đặc trưng của mỗi thể loại, từ đó vạch ra những con đường để tiếp cận,
khám phá, định hướng giúp học sinh đọc hiểu tác phẩm.
* Theo phân phối chương trình, tác phẩm tự sự là một kiểu văn bản
chính, số lượng lớn, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng và thuộc loại văn bản
đồ sộ, bề bộn. Bởi tự sự là một loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp mọi
mặt đời sống, xã hội, con người nên đây là loại văn bản khó đọc khó tổng
hợp, nắm bắt... Vậy phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm tự sự và cảm
thụ nó như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất? Đó là khó khăn cần tháo gỡ
trong quá trình tiếp nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại.
* Dựa trên quan điểm và nguyên tắc xây dựng chương trình Ngữ văn đã
mở rộng đến sau 1975 với một số tác phẩm và tác giả như: Nguyễn Minh
Châu với Chiếc thuyền ngoài xa, Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong
vườn, Nguyễn Khải với Một người Hà Nội, Hoàng Phủ Ngọc Tường với
Ai đặt tên cho dòng sông, Thanh Thảo với Cây đàn ghi ta của Loóc Ca,
Nguyễn Duy với Đò lèn ... góp phần làm cho chương trình gần với cuộc
sống hơn. Chính vì vậy, lựa chọn tác phẩm tự sự hiện đại sau 1975, người viết
muốn khoanh vùng giới hạn đề tài thực hiện để tìm hiểu những chuyển biến
của tự sự sau 1975.
Xuất phát từ những lý do trình bày trên, tôi chọn vấn đề Đọc hiểu tác
phẩn tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong chương trình Ngữ văn thí điểm
12 làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
dung và đánh giá được trình bày như bốn mức phản ứng và đáp ứng trong quá
trình đọc hiểu. Bài viết Nghiên cứu và dạy học truyện ngắn hiện đại được
trình bày trong Văn học sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
do tác giả Nguyễn Văn Long Lã Nhâm Thìn chủ biên. Nxb GD. H. 2006 đã
4
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
đi sâu làm rõ vị trí của môn Ngữ văn theo quan điểm dạy học mới cũng như
cách đọc hiểu một thể loại cụ thể.
Trong bài viết Môn văn - thực trạng và giải pháp (1998) và lời mở
đầu cuốn sách Đọc văn học văn GS.TS. Trần Đình Sử đã đề cập đến tầm
quan trọng của vấn đề rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản, đặc biệt là văn
bản văn học cho học sinh phổ thông. Đó cũng là tư tưởng chính của bài viết
Đọc hiểu văn bản một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy
văn hiện nay trong Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn 10 đã tập trung vào
bản chất dạy cách đọc văn của môn Ngữ văn trong nhà trường để làm sáng tỏ
những khía cạnh tích cực, tiên tiến của phương pháp đổi mới chương trình và
SGK cũng như phương pháp dạy học văn hiện nay trong tương quan đối sánh
với môn giảng văn truyền thống. ở đây, đọc hiểu được xem là mức độ thứ
ba của việc đọc cùng với việc đọc sáng tạo trong một hệ thống như sau:
1. Đọc thông - đọc thuộc
2. Đọc kỹ - đọc sâu
3. Đọc hiểu - đọc sáng tạo
4. Đọc đánh giá - đọc ứng dụng
ý thức về sự thiếu hụt cả tri thức lý luận cũng như năng lực đọc của thế
nhiên, công trình này mới chỉ thành công trên lĩnh vực nghiên cứu, phê bình,
chưa đề cập đến phương pháp giảng dạy.
Trên lĩnh vực phương pháp, trong cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm
văn học theo thể loại của GS. Trần Thanh Đạm -Nxb GD. H. 1971 cũng đi
vào đặc trưng của thể loại tác phẩm tự sự (tiêu biểu là truyện ngắn và ký). Từ
đó đưa ra phương pháp giảng dạy song vẫn chỉ mới dừng lại ở mức độ sơ lược,
khái quát. Hay trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện của Nguyễn
Thái Hoà cũng vậy.
Như vậy, thể loại tự sự đã được soi tỏ trên các lĩnh vực khác nhau và
trên mỗi lĩnh vực đều có những thành công nhất định. Là một giáo viên dạy
văn, chúng ta hiểu rằng dạy các truyện ngắn sau 1975 thì phải dựa vào các đặc
trưng của thể loại tự sự hiện đại. Bởi nắm vững đặc trưng thể loại là nắm vững
một công cụ, một phương tiện để khám phá tác phẩm. Biết vận dụng những lý
thuyết đó vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam
6
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
hiện đại sau 1975 càng khắc sâu, khẳng định hơn nữa thành tựu nghiên cứu về
thể loại tự sự và khoa học phương pháp.
3. Đối tượng nghiên cứu
Dựa vào lý thuyết tiếp nhận văn học và cơ sở lý luận chung về thể loại
tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 để tập trung xây dựng cách đọc hiểu tác
phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại và ứng dụng để hướng dẫn học sinh
biết cách đọc hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong chương
trình Ngữ văn thí điểm 12.
phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp khái quát hoá lý luận
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Thực nghiệm.
8
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
Phần nội dung
Chương 1. Những vấn đề chung
1. Tiếp nhận tác phẩm văn học
1.1. Tiếp nhận văn học là gì?
Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên. Nxb KHXH. H. 2002),
tiếp nhận là đón nhận cái từ người khác, nơi khác chuyển cho mình.
Vậy tiếp nhận văn học được hiểu như thế nào?
Các tác giả của Từ điển thuật ngữ Văn học quan niệm tiếp nhận văn
học là Hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn
học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng,
cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi
đọc.
Trong Đọc và tiếp nhận văn chương GS. Nguyễn Thanh Hùng lại cho
rằng Tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự
hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố và phát triển
một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm
xúc của con người trước đời sống.
những âm vang của cuộc sống bằng khả năng quan sát tinh tế. Chính nhờ
quan sát nhà văn có thể tìm hiểu bản chất của hiện thực và tích luỹ được vốn
sống.
Hơn nữa, năng khiếu bẩm sinh cũng là tiền đề không thể thiếu để hình
thành một tài năng văn học nhưng năng khiếu có thể phát triển hoặc lụi tàn,
cái còn gọi là tài năng đích thực của nhà văn. Muốn có tài năng nhà văn phải
trau dồi, rèn luyện về mọi mặt tư tưởng, tình cảm, bản lĩnh, nhân cách, vốn
sống, vốn văn hoá, nghệ thuật viết văn... Khi có đầy đủ hai mặt năng khiếu
văn chương và năng lực cảm thụ nhà văn sẽ sáng tạo nên tác phẩm của mình.
Thực tế cuộc sống được tích luỹ đã được nhà văn phản ánh qua lăng kính chủ
quan của tác giả để tạo nên tác phẩm. Vì thế, giai đoạn sáng tạo của nhà văn
được khép kín trong chu trình: cuộc sống <--> nhà văn <--> tác phẩm <-->
độc giả.
10
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
Tóm lại đứng trên bình diện tiếp nhận để quan sát thì con đường làm ra
tác phẩm của nhà văn là quá trình không kém phần gian khổ: Quan sát ghi
nhận chọn lọc phản ánh tạo nên chỉnh thể trung tâm là tác phẩm. Và tác
phẩm như là một tế bào, là bộ mặt của đời sống văn học, là cơ sở, là chiếc cầu
nối giữa tác giả với đời sống và bạn đọc. Người đọc chỉ có thể hiện được tư
tưởng, tình cảm của tác giả thông qua tác phẩm.
1.2.2. Cơ chế của hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học
Chúng ta biết rằng, hoạt động tiếp cận khám phá tác phẩm được xem là
giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tạo và giao tiếp của văn học. Nó tạo thành
thao tác chia nhỏ, tháo gỡ tất cả những tương quan vốn không thể tách rời
nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật, để rồi ghép hợp lại. Người tiếp nhận sẽ
có một cách nhìn phong phú và sâu sắc đối với một tác phẩm văn học. Không
nên phân tích tất cả các yếu tố trong tác phẩm phải lựa chọn ra những yếu tố
cơ bản, sâu sắc của tác phẩm biết đi sâu vào cảm xúc mãnh liệt, trung thực
nhất trong thế giới nội tâm., vượt qua sự đầy đủ vốn quen thuộc và sáo mòn,
kiếm tìm sự súc tích của ngôn ngữ nghệ thuật. (Nguyễn Thanh Hùng)
1.2.2.3. Hoạt động cắt nghĩa.
Cắt nghĩa là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận văn chương.
Cắt nghĩa là để làm rõ nghĩa tác phẩm ấy, không chỉ làm tường minh ngôn
ngữ của tác phẩm mà còn phải cắt nghĩa hình tượng của tác phẩm để từ cái
được phản ánh nhận thức được biểu hiện trong tác phẩm.
Cắt nghĩa đem lại nhận thức chắc chắn, có cơ sở về tác phẩm văn học.
Có hiểu được tác phẩm văn chương thì mới có thể cắt nghĩa được. Cắt nghĩa
được một cách thuyết phục nội dung phân tích là bằng chứng về sức cảm, hiểu
thấu được giá trị nội dung trong hình thức tác phẩm.
1.2.2.4. Hoạt động bình giá
Trong cơ chế tiếp nhận tác phẩm thì hoạt động bình giá là hoạt động
cuối cùng của qúa trình tiếp nhận tác phẩm. Toàn bộ việc bình giá ấy được
dựa trên các căn cứ hoạt động đọc, phân tích, cắt nghĩa. Điều đó phản ánh
trong cơ chế tiếp nhận văn chương bao giờ cùng kèm theo sự đánh giá, bình
phẩm về tác phẩm với những quan niệm, tư tưởng và tiêu chuẩn thẩm mỹ đậm
màu sắc cá nhân chủ nghĩa. Nó mở ra giai đoạn khách quan hoá chủ thể thẩm
mỹ của cá nhân người đọc. Trọng tâm của hoạt động bình giá là cái mới về
12
Khoá luận tốt nghiệp
13
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
dùng khái niệm này để biểu đạt tính chất khó khăn của việc đưa tác phẩm văn
học đến với thế hệ trẻ trong mái trường phổ thông.
Trong quá trình tiếp nhận, trước tiên người đọc phải vượt qua hàng rào
khoảng cách về không gian và thời gian lịch sử. Không riêng gì học sinh,
người đọc hiện đại ở tất cả các lứa tuổi khi trở về với cội nguồn đã bị chia cắt
với tác phẩm quá khứ bởi chiều dài năm tháng (kể cả tác phẩm sau 1975)...
và cũng không phải chỉ là câu chuyện của thời gian mà là sự khác biệt của
những loại hình xã hội xưa nay, là sự khác biệt trong cuộc sống mỗi thời đại
Tương tự vậy lịch sử tác phẩm phản ánh và lịch sử ra đời của tác phẩm cũng
vậy.
Khó khăn tiếp theo là khoảng cách về tâm lý. Có lẽ nhịp sống tên lửa
dồn dập của thời đại công nghệ thời đại thông tin, văn hoá mạng đã kiến đại
đa số độc giả không có thì giờ, tâm trí và hứng thú đối với việc vùi đầu hàng
giờ, hàng ngày vào một cuốn tiểu thuyết hiện đại, nói gì đến tác phẩm cổ điển.
ở đây năng lực thị hiếu của cá nhân người đọc đóng vai trò quan trọng nhất.
Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, tâm lý thị hiếu càng làm cho sự
tiếp nhận mang đậm nét cá nhân và chính sự chủ động, tích cực của người đọc
đã làm tăng thêm sức sống của tác phẩm và ngược lại.
Một khó khăn cơ bản làm nữa cần được nêu lên. Đó là sự khác biệt
trong phong cách nghệ thuật, nhất là sự khác biệt trong phong cách ngôn ngữ
văn học giữa hiện đại và quá khứ ( kể cả tác phẩm sau 1975 mặc dù nó không
xa lạ gì với chúng ta). Đây chính là vấn đề cần xử lý trước tiên khi tiếp cận
văn bản văn học. Đọc tác phẩm văn học, trước hết người đọc vấp phải hàng
phóng sự
Kiến trúc của tác phẩm, cấu tạo của hình tượng như thế nào là do
phương thức phản ánh và biểu hiện đó quy định. Nếu hìng tượng thiên về mặt
biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả, ta sẽ có tác phẩm trữ tình; nếu hình
tượng thiên về phản ánh con người, sự việc trong cuộc sống, ta có tác phẩm tự
sự. Tác phẩm tự sự tập trung cô đọng đến mức bản thân nhân vật, sự việc, câu
chuyện có thể tự mình bộc lộ một cách độc lập trên trang sách hoặc trên sân
khấu, không cần sự dẫn chuyện của tác giả, như thế ta sẽ có tác phẩm kịch
(Trần Thanh Đạm Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo thể loại Nxb Giáo dục
15
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
H. 1971. tr. 160). Trữ tình, tự sự, kịch là ba phương thức cơ bản nhất của sự
cấu tạo hình tượng, kiến trúc tác phẩm văn học, đồng thời đó cũng là ba loại
cơ bản nhất trong lòng mỗi loại và trên biên giới các loại sẽ nảy sinh rất nhiều
thể khác nhau của sáng tác văn học.
Như vậy loại thể chính là hệ thống chỉnh thể của tác phẩm, nó chỉ quy
luật loại hình của tác phẩm, trong đó, một nội dung nhất định tương ứng với
một hình thức nhất định. Trong mỗi loại thể bao giờ cũng có sự thống nhất về
đề tài, chủ đề, cảm hứng, hệ thống nhân vật, hệ thống kết cấu, lời văn. Sự
thống nhất giữa các phương diện trên được quy định bởi phương thức chiếm
lĩnh đời sống. Nó ứng với hoạt động nhận thức của con người và tạo ra một
kênh giao tiếp với bạn đọc. Như vậy, nói tới thể loại là nói tới cách thức tổ
chức tác phẩm một kiểu tái hiện đời sống theo lối gián tiếp
2.2. Vai trò của thể loại trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn
được làm như thế nào và bằng cách nào? Người đọc muốn khám phá, giải mã
thành công thì buộc phải đi lại con đường mà nhà văn đã đi, nhưng để đi được
trên con đường ấy, người đọc phải được hướng dẫn bởi những lý thuyết được
rút ra từ việc nghiên cứu tác phẩm trong đó có những lý thuyết về thể loại. Vì
vậy nắm vững đặc điểm thể loại là nắm vững một công cụ, một phương tiện
khám phá tác phẩm.
3. Đọc hiểu theo đặc trưng thể loại một con đường tiếp nhận tác phẩm
văn học
Đọc là một dạng khám phá sáng tạo. Đọc cũng là sự chối bỏ sự trì trệ
của lối mòn và hướng tới thiết lập những quan hệ tư duy mới. Nói đọc
hiểu hay đọc để hiểu- không chỉ là thói quen phát ngôn có tính thuận
miệng và đó là vấn đề có tính nguyên lý. Giữa đọc và hiểu vừa có mối quan
hệ nhân quả (đọc để hiểu) đồng thời cũng có mối quan hệ biện chứng: hiểu đề
đọc tốt hơn.
Nhằm tiếp nhận và xử lý thông tin, hoạt động đọc hiểu xảy ra theo cơ
chế tác động hữu cơ giữa hai thành tố chính: chủ thể (người đọc) và đối tượng
( tác phẩm ). Người đọc tác động vào văn bản bằng cảm xúc và khả năng tri
giác thông qua quá trình chuyển hoá kí hiệu ngôn ngữ thành những đơn vị
thông tin thẩm mỹ mà dạng thức biểu hiện đầy đủ nhất là tính sinh động của
hình tượng nghệ thuật. Ngược lại, văn bản từ một hệ thống ký hiệu im lặng,
sau khi được trở thành đối tượng của người đọc sẽ có một đời sống riêng, có ý
17
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
nghĩa xác định một nội dung xã hội cụ thể. Nhờ thế, người đọc có thể lĩnh hội
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
Chương 2: Đọc hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam
hiện đại sau năm 1975
1. Thể loại tự sự hiện đại.
1.1. Thể loại tự sự
1.1.1. Khái niệm về tác phẩm tự sự
Khác với các chuyên ngành khoa học tự nhiên, văn học là một loại hình
khoa học xã hội, cho nên tất cả các khái niệm đưa ra không thể nhất thành
bất biến mà hết sức phong phú và đa dạng. Khái niệm về tự sự và tác phẩm tự
sự cũng không phải là duy nhất.
Theo Từ điển tiếng Việt thì Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện
thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách qua cốt truyện tương đối hoàn
chỉnh
Xét dưới góc độ thuật ngữ, theo tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học , Nxb văn học ĐHQGHN ,khái niệm tự sự được hiểu là phương thức tái hiện đời sống bên
cạnh hai phương diện khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân
loại tác phẩm văn học.
Theo GS.Nguyễn Văn Hạnh, TS. Huỳnh Như Phương thì tự sự là kể
chuyện, trình bày sự việc, sự vật một cách cụ thể, chi tiết có đầu có đuôi, tự sự
tập trung chủ yếu vào việc miêu tả thế giớ bên ngoài.
Xét dưới góc độ Lý luận văn học thì Tác phẩm tự sự là loại tác phẩm
phản ánh đời sống trong quá trình khách quan của nó, qua con người, hành vi,
sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó.
Theo GS . Trần Thanh Đạm Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo thể loại.
Nxb GD. H. 1971 cho rằng Tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp
hiện thực khách quan như một cái gì tách biệt, ở bên ngoài đối với tác
19
phẩm tự sự. Căn cứ vào những đặc trưng của thể loại nói chung được các nhà
lý luận đúc kết, thể loai tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 cũng mang đầy đủ
những đặc trưng của tự sự và tự sự hiện đại nhưng nó đã có những nét đổi mới,
khác biệt.
20
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
Với quan niệm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thậtbao quát
được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người trong sự
vận động và phát triển đáp ứng sự đòi hỏi bức xúc của công chúng thời đại.
Văn học sau 1975 đã bước vào thời kỳ đổi mới trong không khí dân chủ của
đời sống văn học. Sự đổi mới ở tư duy nghệ thuật trong sáng tạo thể loại tự sự
nói riêng và văn học nói chung đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là thay đổi các
yếu tố: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ. Vì tự sự thời kỳ đổi mới đã chuyển dần
từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết. Cảm hứng sáng tạo chuyển từ ca ngợi,
khẳng định đến chiêm nghiệm suy tư thay vì cách nhìn rạch ròi thiện - ác, bạn
thù là cách nhìn đa chiều, phức hợp về hiện thực và số phận con người. Đề
tài chiến tranh và cách mạng, lịch sử và nhân tộc dần dần nhường chỗ cho đề
tài thế sự và đời tư. Cảm hứng thực sự về hiện thực và con người trở thành cảm
hứng bao trùm trong cảm hứng sáng tạo của nhà văn . Tự sự khai thác vấn đề
thế sự đời tư không chỉ bộc lộ những nếm trải suy tư, nghiền ngẫm mà còn
phơi bày, phanh phui các sự vật, hiện tượng để đi đến tận cùng cốt lõi của nó.
Vấn đề con người, vấn đề cái riêng trở thành mối quan tâm hàng đầu của
người viết. Phạm vi, đối tượng sáng tạo được mở rộng, khai thác đến các tầng
vỉa của hiện thực đời sống và con người. Nhưng nhà văn không coi việc miêu
đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của
chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng của tác phẩm.
Còn trong 150 thuật ngữ văn học thì cốt truyện lại là sự phát triển
hành động, tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch, đôi
khi cả trong tác phẩm trữ tình.
Từ những định nghĩa trên, ta có thể đi đến một cách hiểu chung nhất:
cốt truyện là một tập hợp các sự kiện, sự việc, các biến cố các tình tiết diễn ra
trong tác phẩm được sắp xếp theo một trình tự logic nhất định nào đó. Trong
từng tác phẩm cụ thể nó có tác dụng, ý nghĩa quyết định đến cuộc đời nhân
vật.
1.2.1.2. Đặc trưng cốt truyện trong tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại
sau 1975.
Khi nghiên cứu một tác phẩm tự sự buộc phải quan tâm đến cốt truyện
vì nắm được cốt truyện là có điều kiện để hiểu tác phẩm. Về phương diện này
việc làm của người sáng tác và người tiếp nhận là giống nhau. Người sáng tác
22
Khoá luận tốt nghiệp
Lê Thị Thanh Huê -K29 G - Ngữ Văn
phải xây dựng cốt truyện trước khi làm ra tác phẩm, có nghĩa là phải hình
dung đứa con tinh thần của mình trong tương lai, còn đối với người tiếp nhận
thì việc nắm cốt truyện cũng sẽ giúp anh ta hình dung ra thế giới của tác phẩm
mà anh ta sẽ khám phá nó như thế nào. ở đây có sự giống nhau, gần nhau
nhưng không đồng nhất bởi nó có một sự khác biệt, đó là; nhà văn trong quá
trình tạo ra cốt truyện có thể thay đổi được, điều chỉnh theo ý muốn của mình,
nhưng người tiếp nhận tác phẩm thì không thể thay đổi được cốt truyện mà
tư, nên bên cạnh nhưng cốt truyện tuân thủ theo cốt truyện truyền thống bắt
đầu từ xung đột đến thắt nút cuối cùng là cởi nút (giống kịch) thì có nhiều tác
phẩm có cốt truyện dựa trên thi pháp hiện đại . Tức là, cốt truyện trong tác
phẩm tự sự từ những năm đổi mới đến nay, một mặt vẫn kế thừa và phát triển
những đặc trưng của cốt truyện truyền thống, mặt khác đã tiếp cận với tự sự
hiện đại thế giới ở những nét tinh tuý. Đó là loại cốt truyện không có biến cố
,chủ yếu dựa vào những hành động bên trong, những thăng trầm trong tư
tưởng, tâm lý nhân vật, cảm xúc, suy nghĩ của con người... Hay nói cách khác,
cốt truyện là những câu chuyện bình thường, nhỏ nhặt, gây cảm giác như
không có chuyện. Và chính những bước ngoặt của trạng thái tâm linh, những
xung đột cá nhân đã trở thành yếu tố thúc đẩy sự hình thành cốt truyện. Tự sự
từ sau đổi mới đa dạng hơn trong nội dung phản ánh, phong phú hơn trong
hình thức diễn đạt, tự do hơn ở trong cách thức dựng truyện. Bên cạnh những
cốt truyện giàu kịch tính là những cốt truyện giàu tâm trạng được viết một
cách tự nhiên, không theo trật tự thời gian, có thể đảo ngược theo ý của tác giả
tạo ra truyện trong truyện. Vì vậy, cấu trúc sự kiện lỏng lẻo, lắp ghép, mơ
hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể lại, kết thúc mở -bỏ ngỏ, đặc biệt không hoàn
kết mà tất cả nhằm phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con
người, cuộc sống đương đại.
Với loại cốt truyện này, những mâu thuẫn, xung đột mà nhà văn nêu
ra tồn tại cả khi khởi đầu các sự kiện được miểu tả, cả trong quá trình chúng
diễn biến và cả sau khi chúng đã kết thúc. Sự việc xảy ra trong đời nhân vật
xuất hiện như là một sự bổ sung cho các mâu thuẫn đã có sẵn, bất chấp sự
việc ấy có hay không.
24
Khoá luận tốt nghiệp
25