PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn xuôi Việt Nam hiện đại thời kỳ đổi mới có dung lượng phản ánh rộng lớn
hết sức sinh động. Bằng sự chiêm nghiệm sâu sắc, sự nghiên cứu nghiêm túc đối
tượng phản ánh, các tác giả đã dựng lại những bức tranh chân thực và rộng lớn với tất
cả sự đa dạng của hiện thực phong phú và phức tạp. Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ
Anh Thái là các nhà văn có đóng góp to lớn trong nền văn học hiện đại thời ký đổi
mới. Trong sáng tác của họ, muôn mặt của bức tranh xã hội được miêu tả, được phản
ánh một cách sâu sắc, đa chiều, đáp ứng được yêu cầu khách quan của cuộc sống,
giúp người đọc nhìn rõ bản chất của hiện thực.
Luận văn được nghiên cứu xuất phát từ sự yêu mến và cảm phục của tác giả
đối với những dòng tư tưởng chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc của ba nhà văn Ma
Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái. Đây là các nhà văn có nhiều thành tựu trong
việc dùng văn chương để đấu tranh cho cái thiện, cái chính nghĩa của cuộc sống. Với
nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết có giá trị hiện thực, các tác giả này đã ý thức được
sứ mệnh viết văn là để bảo vệ và khẳng định những giá trị chân chính của con người.
Luận văn nghiên cứu cách nhìn đa chiều, mới mẻ về con người và cuộc sống
trong thời kỳ hậu chiến của các nhà văn Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái
qua đó làm sáng tỏ những tác động và ảnh hưởng của một hiện thực còn ngổn ngang
đến cuộc sống của con người như thế nào. Qua đây, luận văn cũng làm sáng tỏ cảm
hứng chủ đạo của các nhà văn được thể hiện qua các tác phẩm, đó là cảm hứng phê
phán mang tính tích cực để gióng lên những hồi chuông để cảnh tỉnh con người tránh
xa tội ác, lừa lọc, phản trắc để xây dựng một xã hội với những con người có phẩm
chất cao đẹp, sống có nghĩa tình, nhân hậu.
2. Lịch sử vấn đề
Tác phẩm của Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái rất phong phú về
nội dung. Các bài viết về những tác giả và tác phẩm này đã khai thác nhiều vấn đề
như đặc điểm cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách thức trần thuật, nghệ
thuật tự sự…Tuy nhiên, vấn đề cảm hứng phê phán chưa được đề cập tới một cách
1
kỹ lưỡng trong các tác phẩm nghiên cứu.
2
về mọi phương diện của tác phẩm, cả về mặt nội dung và nghệ thuật.
Về cuốn tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ (1999), Hồ Anh Thái nhận xét:
“Cảm hứng phê phán mỗi ngày mạnh hơn cảm hứng trữ tình…Dường như tập hợp
đầy đủ mọi thói tật nhỏ nhen đố kỵ, mọi mưu chước công chức hành chính ở đây.
Văn chương cũng bị đẩy theo cảm hứng phê phán mà rậm hơn, xổng xểnh, lan man
hơn”. Còn Lã Duy Lan trong bài viết Ngược dòng nước lũ - cuộc khám phá mới đầy
tiềm năng vào nguồn văn chương, vào dòng đời cuộn chảy đã nhận xét: “Ngược dòng
nước lũ sẽ đi vào đời sống xã hội như sự định hình vững chãi địa vị của văn chương
trong kinh tế thị trường, mở ra cuộc khám phá đầy tiềm năng vào tận nguồn mạch
văn chương, tận tầng sâu của dòng đời cuộn chảy, mà ở tác giả nội lực đã được chuẩn
bị kỹ từ nhiều chục năm trước” [64].
Ngoài các bài viết trên, chúng ta có thể kể đến một số bài viết về tác phẩm của
Ma Văn Kháng như: Tư duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng
những năm 80 của Nguyễn Thị Huệ; Hỏi chuyện nhà văn Ma Văn Kháng của Lê Kim
Vinh; Nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng của Đỗ Hải Ninh; Sống
rồi mới viết của Ma Văn Kháng… và các luận văn thạc sĩ gần đây như: Nhân vật trí
thức với sự đổi mới tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết sau 1980
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Kim; Quan niệm nghệ thuật về con người tự
nhiên trong sáng tác của Ma Văn Kháng sau năm 1975 - Luận văn thạc sĩ của tác giả
Nguyễn Cẩm Giang; Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng - Luận văn thạc sĩ của Bùi Lan Hương…
Đề cập đến cảm hứng phê phán trong sáng tác của Ma Văn Kháng, tác giả
Nguyễn Văn Xuất có công trình nghiên cứu Cảm hứng phê phán trong tiểu thuyết
hiện đại (qua một số tiểu thuyết ở Liên Xô và Việt Nam). Đây là công trình nghiên
cứu về cảm hứng phê phán trong một số tác phẩm văn xuôi Liên Xô và Việt Nam.
Trong luận án này, tác giả đã nghiên cứu về cảm hứng phê phán trong tác phẩm Đám
cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng dưới tư duy tiểu thuyết của nhà
nghiên cứu Đôxtôiepxki.
Trong mảng phê bình nghiên cứu về các tác phẩm thế sự đời tư của Hồ Anh
khỏi lối ghi chép tiểu thuyết đã cho ra mắt Lão Khổ - một cuốn sách mặn chát vị đời
và lừng lững con người thời đại… Không ít tiểu thuyết hướng tới những vấn đề bức
xúc của đời sống xã hội như Lão Khổ, Ăn mày dĩ vãng, Gót đỏ quyền uy…Trong tiểu
thuyết hôm nay, con người được trình bày như một ẩn số. Bản chất con người là gì?
4
Nó sống ra sao trong thời hiện tại…Lữ Quán của Hà Phạm Phú, Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai, Lão Khổ của Tạ Duy Anh…đã gây một niềm tin tưởng rằng chúng ta đang
được văn học như một phương tiện linh điệu để hiểu rõ con người” [43,tr. 14-15].
Tác giả Việt Hoài trong bài viết Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện ác đã nhận
định: “Vẫn là chuyện làng quê Bắc Bộ nhưng thời gian rộng hơn: từ những năm
1940-1990, dung lượng tiểu thuyết lớn hơn truyện ngắn và nhà văn cũng già dặn từng
trải và kỹ thuật nên Lão Khổ được đồng nghiệp và bạn đọc nhìn nhận như một bước
tiến dài của Tạ Duy Anh …Thiên thần sám hối khiến ai đọc cũng có thể tìm thấy
mình trong đó và hầu hết là giật mình, không tự vấn lương tâm thì cũng tự xấu hổ mà
âm thầm đỏ mặt, nhưng nó cũng không quá nghiệt ngã, ráo riết mà vẫn mở đường
cho nhân vật - người đọc một lối thoát lương tâm [57]. Trong bài viết này, tác giả
cũng đưa ra một số nhận định về nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh: “Nhân vật
của Tạ Duy Anh không có sự trung gian, nhờ nhờ, xam xám về ngoại hình (…)
Nhưng bản chất con người thì luôn luôn ở lằn ranh giới thiện - ác. Nhân vật nào cũng
luôn luôn bị đặt trong trạng thái lựa chọn - đấu tranh với xã hội, với môi trường, với
kẻ thù, với người thân, với chính bản thân mình. [58].
Ngoài ra, nghiên cứu về tác phẩm của Tạ Duy Anh có bài viết: “Tạ Duy Anh
- gương mặt nổi bật của văn đàn 2004” của Nguyên Trường, cuốn sách: Thế giới
nghệ thuật Tạ Duy Anh của Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương, Võ Thị
Thanh Hà, NXB Hội Nhà văn 2007. Bên cạnh đó có một số luận văn đã đề cập đến
vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh.
Qua khảo sát kết quả của những người đi trước, có thể nhận thấy những bài
viết nghiên cứu về 3 tác giả Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh và Ma Văn Kháng chủ yếu
liên quan đến những vấn đề về nghệ thuật tự sự, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ
thuật xây dựng cốt truyện…Tuy có đề cập đến những vấn đề còn tồn tại ngổn ngang
6
4 . Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp,
so sánh, phương pháp thống kê, hệ thống, phương pháp thi pháp học với mong muốn
tiếp cận tới cảm hứng phê phán trong văn xuôi hiện đại.
5. Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương I: Chân dung cái xấu trong diện mạo con người cụ thể
Chương II: Tính nhân văn trong cảm hứng phê phán của Ma Văn Kháng,
Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái
Chương III: Nghệ thuật biểu hiện cảm hứng phê phán của Ma Văn Kháng,
Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái
7
Chương 1
CHÂN DUNG CÁI XẤU TRONG DIỆN MẠO
NHỮNG CON NGƯỜI CỤ THỂ
1.1 Nhu cầu bức thiết của việc vạch trần cái xấu trong cuộc sống
Một trong những chức năng cao đẹp, thanh khiết của văn học chính là nâng
đỡ, thanh lọc tâm hồn con người, hướng con người đến những điều đẹp đẽ của cuộc
sống. Lịch sử luôn luôn biến động không ngừng, mỗi giai đoạn văn học lại gắn với
những nội dung phản ánh khác nhau. Nếu như dòng văn học cách mạng trước đây
thiên về cảm hứng ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đất nước, vẻ đẹp tâm hồn anh dũng
bất khuất của con người Việt Nam thì nền văn học hậu chiến lại dành nhiều trang viết
để tiếp cận những mảng khuất của cuộc sống, những dòng chảy tâm lý bên trong,
những nỗi đau nhân thế âm ỉ dai dẳng đã và đang vẫn diễn ra trong cuộc sống thường
nhật.
Trong bất cứ giai đoạn xã hội nào đều tồn tại song hành hai thái cực trái
ngược nhau đó là tốt - xấu, chính - tà, ánh sáng - bóng tối. Nhìn nhận và phản ánh về
hai thái cực ấy trong mỗi giai đoạn văn học lại có những biểu hiện khác nhau. Trong
mặt trận dân chủ văn học hiện thực phê phán phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết, lực
lượng sáng tác ngày càng đông đảo hơn. Ngoài Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tú
Mỡ, Vũ Trọng Phụng còn có thêm Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp… Nếu như
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng là những nhà văn
tiêu biểu cho văn xuôi hiện thực phê phán những năm 1930-1939 thì Nam Cao lại là
ngọn cờ tiên phong của văn xuôi trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai. Cùng
với Nam Cao, xuất hiện hàng loạt các cây bút trẻ như Tô Hoài, Bùi Hiển, Mạnh Phú
Tư, Kim Lân…
Nối tiếp dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 là trào lưu văn học
hiện thực xã hội chủ nghĩa xuất hiện ở Việt Nam từ sau năm 1945. Trong một khoảng
thời gian dài tồn tại và phát triển, dòng văn học này đạt được những thành tựu rực rỡ
với những nhà văn có tầm cỡ như Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Đặng
Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Tô
Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu, …Xã hội mới ở
nước ta từ sau Cách mạng Tháng Tám đã biến chuyển một cách hùng hậu với các sự
9
kiện to lớn diễn ra dồn dập, nhanh chóng vô cùng. Trong 30 năm chiến tranh cách
mạng xảy ra, biết bao con người đã sống chung trong một bầu không khí tuy mất mát
nhưng cũng hiển hách những chiến công vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc. Khí thế
cách mạng như làn sóng lan nhanh đến từng vùng đất, làm thay đổi bộ mặt của từng
thôn xóm, từng số phận con người. Và, cũng chính trong giai đoạn này, bản chất anh
hùng cách mạng được kết tinh một cách rực rỡ trong những hình tượng anh hùng,
chiến sĩ trong khi nếu ở xã hội cũ, những mặt tốt, những mặt anh hùng chìm đi, lẩn
xuống chiều sâu, như một dòng nước chảy ngầm. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, có thể nói nhân dân ta “ra ngõ gặp anh hùng”. Những con người đẹp có
tâm hồn trong như ánh sáng và hành động cao cả đã tạo nên một sức hấp dẫn kỳ diệu
đối với các nhà văn để chúng ta có thể thấy được từng nét đẹp trong tâm hồn của
những anh hùng chống thực dân Pháp ở Tây Nguyên, những dũng sĩ diệt Mỹ ở Củ
Chi, những nữ anh hùng như Út Tịch ở Trà Vinh, Nguyễn Thị Hạnh ở Long An, Trần
Thị Tâm ở Quảng Trị…và anh hùng Trần Thị Lý, bà mẹ Suốt, Nguyễn Văn Trỗi, anh
nhiều so với giai đoạn 1945-1975. Nhờ có công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi xướng năm 1986, xã hội Việt Nam có những chuyển động tích cực, tuy
nhiên, văn học cũng đứng trước những thách thức mới trong cơ chế kinh tế thị trường
luôn song hành tồn tại hai mặt tích cực và tiêu cực. Trong giai đoạn này, nổi bật
những tác giả văn xuôi có tên tuổi như: Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Bảo
Ninh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo,
Y Ban, Trầm Hương, Trần Thanh Hà, Như Bình,… Điều đáng mừng nữa là lớp nhà
văn thời kỳ trước như Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Kiên, Xuân Thiều…
tiếp tục hăm hở viết, viết bằng cảm xúc sâu lắng.
Văn học sau 1975 chú trọng nghiên cứu thực trạng tinh thần xã hội Việt Nam
sau chiến tranh, đó là một hiện thực phức tạp, đa dạng, đan xen mặt sáng và tối trong
đời sống cũng như những thay đổi tất nhiên trong nhận thức và tình cảm con người.
Nhà văn nhờ ngọn gió lành của công cuộc đổi mới đã có thể nhìn thẳng vào sự thật,
viết về mọi sự thật. Sau năm 1980, trong văn học đương đại hình thành khuynh
hướng văn xuôi đời tư - thế sự, các nhà văn gọi là văn xuôi đời thường cùng tồn tại
như một dòng quan trọng bên cạnh văn xuôi sử thi. Văn học có thể viết về mọi
chuyện kể cả những điều phiền toái nhất của đời sống, văn học nói chung đã có điều
kiện nhìn sâu hơn vào thế giới sâu kín, những điều nhỏ bé của con người, về các
trạng huống tinh thần tinh tế của nó trong thế giới tâm linh (truyện ngắn Người đàn
11
bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu). Âm hưởng phê phán - sự phê
phán trên tinh thần nhân văn, cầu thị vang lên mạnh mẽ: truyện ngắn Người không đi
cùng chuyến tàu của Nguyễn Quang Thân, truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh
Châu, truyện ngắn Gió từ miền cát của Xuân Thiều…
Trong thời kỳ đổi mới, nhà văn đã có được độ lùi xa của khoảng cách thời
gian để nhìn lại một cách toàn diện và sâu sắc hơn những sự kiện, biến cố dồn dập
của quá khứ. Chính trong thời điểm đầy biến động này của hiện thực cuộc sống đã
giúp nhà văn nhìn rõ những nét bản chất của hiện thực quá khứ và từ đó soi sáng
những cái tưởng như mịt mùng hỗn mang của đời sống xã hội hiện tại. Nếu như
trước đây, nhà văn chỉ kịp thời phản ánh được một vài khía cạnh của hiện thực, bộc
sách để phản ánh chân thực sự phức tạp, bề bộn của cuộc sống. Bên cạnh Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp thì Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh và Hồ Anh Thái là
những tác giả tiêu biểu viết về đề tài này. Mỗi người một tâm sự, một cảm nhận khác
nhau, nhưng ở đó tất cả đều là nỗi đau nhân thế khi phải chứng kiến sự thực cay
nghiệt của cuộc sống. Sự xuống dốc trong quan niệm sống, thói tư duy giáo điều máy
móc, sự tôn thờ chủ nghĩa vật chất, sự coi trọng quyền lực, con người sa đoạ, độc ác,
giả dối… Muôn vàn những nhức nhối của cuộc sống được miêu tả trong sáng tác của
Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái khiến ta thấm thía hơn bao giờ hết cái đa
đoan, đa sự của cuộc sống thường nhật hôm nay.
Viết không chỉ là phê phán thuần tuý, phủ định sạch trơn những mặt tiêu cực
còn tồn tại trong xã hội, viết nhiều về cái ác nhưng các tác giả đều không hề mất
niềm tin vào con người và cuộc sống. Khát khao hướng thiện và xây dựng một cuộc
sống tươi đẹp trong tâm hồn mỗi con người chính là thông điệp mà các tác giả muốn
gửi tới bạn đọc.
1.2. Những vấn đề nổi bật trong nội dung phản ánh cái xấu trong tác
phẩm của Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái
1.2.1. Con người tha hoá vì chạy theo chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa danh lợi
Macxim Goorky đã từng nói: “Văn học là nhân học”, văn học luôn quan tâm
đến đời sống của con người, đến thân phận con người và có nhiều khám phá mới về
con người. Văn học nói chung và các sáng tác của Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ
Anh Thái nói riêng đều quan tâm đến giá trị cá nhân trong cuộc sống thường nhật.
Cho nên, bên cạnh những khía cạnh đáng được ca ngợi, cổ vũ của xã hội khi thể hiện
13
hết tính ưu việt thì cũng cần lên án, phê phán những khiếm khuyết, những kẽ hở của
xã hội đã tạo điều kiện cho cái xấu, cái ác nảy nở, hoành hành. Một trong những điều
nhức nhối mà văn học hiện đại đề cập đến chính là thực tế một số không nhỏ con
người đang ngày càng biến chất, tha hoá nhân cách vì mải mê chạy theo chủ nghĩa
vật chất, chủ nghĩa danh lợi. Trong cuộc sống hiện nay, không ít “con người vì cái lợi
vật chất đang hèn đi, tầm thường đi” (Ma Văn Kháng). Nói đến những yếu tố khiến
con người rơi vào tình trạng tha hoá nhân cách thì không thể không kể đến sức mạnh
mang tính sử thi trọng tâm tạo dựng bức tranh lịch sử hoành tráng về một thời đại
chiến tranh có mất mát hy sinh mà không kém phần hào hùng của các dân tộc vùng
biên ải thì tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của Ma Văn Kháng nhiều khi khiến cho người
đọc cảm thấy nhà văn đang đối thoại với cuộc sống, đối thoại với con người, đối
thoại với những dòng chảy cảm xúc của nhân vật mà ông đang đào sâu, tìm tòi để thể
hiện chiều sâu cảm xúc của nhân vật. Những sự kiện đời sống trong tác phẩm của Ma
Văn Kháng là những sự kiện của cuộc sống đan kết bởi vô vàn điều bất ngờ, nhỏ
nhặt. Khác với cái quyết liệt trong đời sống chiến tranh người ta có thể nhận định rõ
được ranh giới giữa hai thái cực tốt - xấu, trắng - đen, chính - tà của cuộc sống, trong
cuộc sống thời hậu chiến bề ngoài có vẻ như bình yên nhưng trong lòng đầy mâu
thuẫn đã trở thành cuộc chiến nội tâm đầy dai dẳng hiện diện trong mối con người,
mỗi số phận, mỗi gia đình. Thật dễ hiểu vì sao sau chiến tranh, con người không còn
ở thế giằng co giữa sự sống và cái chết nhưng trong tâm hồn luôn luôn cảm thấy
chông chênh, lạ lẫm với chính mình.
Với giọng văn mềm mại, hiền lành nhưng quyết liệt, Ma Văn Kháng viết về
những mặt trái của xã hội với nội dung nhấn mạnh ma lực của đồng tiền đã làm hoại
suy ý chí, tình cảm và nhân cách của con người một cách mạnh mẽ. Ma Văn Kháng
đã từng khẳng định: “Lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền là một hoàn cảnh lắm
vi trùng làm cho con người ta bị nhiễm một thứ bệnh mất nhân tính” (Mùa lá rụng
trong vườn). Cũng như những nhà văn khác như Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê,
Ma Văn Kháng đã không ngần ngại nhấn mạnh giá trị vật chất của đồng tiền ảnh
hưởng mạnh mẽ đến nhân tính của con người. Một trong những tác phẩm đề cập đến
vấn đề này của ông là: Đám cưới không có giấy giá thú (1988), Côi cút giữa cảnh
đời (1989) và Ngược dòng nước lũ (1999).
Đám cưới không có giấy giá thú (1988) ra đời được bạn đọc đón nhận một
cách nồng nhiệt. Đọc tiểu thuyết này, độc giả khó có thể quên được cảm giác xót xa
15
đến não nề dâng trào trong lòng mình bởi vô vàn những trái khoáy ập vào số phận
của từng nhân vật. Đây là một tác phẩm phản ánh sâu sắc hình ảnh những con người
bị cơn lốc ham muốn vật chất cuốn đi trong nền kinh tế thị trường có vô vàn điều
quý của cuộc sống. Vốn là bạn thân của Tự và Kha, nhưng khác với Tự và Kha là
những con người tuy đối diện với sóng gió vùi dập của cuộc đời nhưng vẫn giữ được
tâm hồn thanh cao, Thuật lại rơi vào bi kịch của cơn lốc vị kỷ tầm thường cuốn trôi.
Buồn vì sự thay đổi của bạn, Tự vẫn luôn tự hỏi vì sao: “Vậy thì từ lúc nào Thuật đã
cách xa anh?” Thuật là nạn nhân trong sự giả dối, sự lôi kéo của Cẩm và Dương. Bị
Dương và Cẩm vừa ra đòn dụ dỗ vừa ngấm ngầm hành hạ, Thuật dần dần bị chìm
trong cuộc sống mất niềm tin và bị lối sống bất cần, ngạo mạn lôi kéo. Tài năng của
Thuật bị xuống dốc bắt nguồn từ sự đố kỵ, mưu chước, sự chèn ép ngáng chân của
Cẩm và Dương. Anh trở nên suy đốn, trở thành một kẻ “ngông ngạo khinh bạc và
độc địa” [24,266], anh “lạm dụng uy tín của thầy dạy giỏi, lao như điên vào các lớp
dạy thêm, thoát ra khỏi cảnh túng bấn” [24,256-257], và “chỉ nhăm nhăm kiếm tiền
làm giàu gây bao tiếng xấu đến thanh danh nhà trường, …gây ai oán cho bao gia đình
học sinh”. [24,273]. Khi bị kìm hãm quá mức, Thuật đã đánh mất giá trị và tài năng
của một người thầy dạy giỏi và đã phát điên chỉ trong một thời gian ngắn. Đau đớn
thay và tiếc nuối cho Thuật, từ một người trí thức có bản lĩnh, tâm huyết với nghề
nghiệp lại trở thành nạn nhân của thế giới biến động và quay đảo.
Khác với những nhà văn của thế hệ trước, Tạ Duy Anh đặc biệt quan tâm thể
hiện trạng thái tinh thần con người hiện đại với tất cả những mặt xấu - tốt của nó. Đời
sống hiện thực được phản ánh trong ba cuốn tiểu thuyết của anh: Đi tìm nhân vật
(2004), Lão Khổ (2005) và Thiên thần sám hối (2005) là muôn vàn mặt trái, mặt mâu
thuẫn và phức tạp của cuộc sống. Anh đã phản ánh trong tác phẩm của mình hiện
thực con người đối xử với nhau bằng sự nhẫn tâm, sự vô tâm và vô ơn. Những dòng
suy tưởng, những câu hỏi được đưa ra với sự chua xót khôn nguôi: “Cuộc sống này
tồn tại phải chăng bằng sự vờ vĩnh? Chao ôi, bao giờ con người mới gỡ được chiếc
mặt nạ phải đeo vào kể cả khi ngủ với tình nhân? Đối với lão, ông Bùi bí thư huyện -
chỉ là một thằng ăn cắp mạt hạng. Ông ta ăn cắp từ cái dăm cối cho đến lòng tin của
lão và hàng vạn người” [1,61]. “Ai đó chết chứ không phải ta: thằng bé đánh giầy nào
đó chết chứ không phải con cháu ta…Thậm chí ý nghĩ ấy khiến chúng ta hoan hỉ, sự
hoan hỉ của những người đứng ngoài nỗi bất hạnh, hoặc không khỏi có lúc ta tặc lưỡi
“cho chúng nó chết đi, bọn lưu manh” [2, 6]. “Đứa nào chết mặc mẹ chúng nó.
cuộc đời giả và một kẻ cô đơn cực độ trong những suy nghĩ về lẽ sống chết trong
cuộc đời thật của mình. Bề ngoài là một con người hết sức hoàn hảo “Ông là hình
18
mẫu của một con người tự làm nên sự nghiệp, một nhà khoa học tận tuỵ, một công
chức mẫn cán, một người đàn ông điềm đạm và đức độ. Ông biết nương theo thời thế
để sống và hiến mình cho sự nghiệp chung - một cách đánh giá phổ biến và chính
xác” [2,128]. Vậy nhưng, trong tận sâu trong tâm hồn, ông lại là một con người hoàn
toàn khác. Tiến sĩ N vì muốn bảo vệ lí lịch trong sáng của mình, muốn giữ cái địa vị
mà mình đang có nên đã để mặc đứa em trai của mình bị chết trong thê thảm. N đã bị
ám ảnh bởi cái chết của đứa em trai, nên đã tìm ra chiến trường để tìm kiếm một cái
chết nhưng đây là hành động mang tính chất vụ lợi. "Không một ai hồi đó hiểu được
động cơ nhập ngũ của tôi. Tôi quyết định tìm kiếm một cái chết." (2,127) Tiến sĩ N
càng dằn vặt lương tâm thì hắn càng muốn xung trận để được chết nhưng đó là hành
động nhằm nguỵ trang cho những tham lam và dục vọng của ông. Nhưng “éo le”
thay, mọi người lại nghĩ đó là hành động dũng cảm và con người này cần được gìn
giữ. May cho N, hắn đã không phải ra trận mà còn được cử đi học ở nước ngoài.
Dường như đó cũng là một hình phạt dành cho hắn, N đã phải sống từ giả dối này
kéo theo giả dối khác, và giả dối đã được đẩy lên thành cực điểm trong mối quan hệ
với vợ mình. Ông nhận thấy mình thực sự là một con người đê tiện, ngay cả khi ngủ
với vợ, ông cũng phải sống giả dối để rồi khi đồng hồ điểm 4h sáng, ông lại bước vào
căn phòng làm việc và tự đối diện với chính mình và sự dày vò day dứt khôn nguôi.
Không thể chịu đựng được những cuộc “tra tấn tinh thần” khi ông đặt chân vào
phòng làm việc, vào 4h sáng của một ngày, tiến sĩ N đã giết vợ và tự kết thúc cuộc
đời, kết thúc cuộc sống dằng dặc cô độc và giả dối.
Viết về cái xấu trong xã hội, Hồ Anh Thái là một trong những tác giả tiên
phong của nền văn học hiện đại. Bắt đầu cầm bút từ khi là cậu sinh viên 17 tuổi và
thành danh khá sớm khi chưa đầy 20 tuổi, Hồ Anh Thái trở thành một trong những
hội viên Hội Nhà văn trẻ tuổi nhất vào thời điểm lúc bấy giờ. Từ những tác phẩm đầu
tiên, Hồ Anh Thái đã viết về những chủ đề sắc bén về các vấn đề xã hội và nhân tình
thế thái. Những sáng tác đầu tay của Hồ Anh Thái thường gắn với chủ đề cuộc sống
giao. Năm 1865, Khuynh có may may mắn gặp được “anh Chín”, lúc đó là cấp Vụ
trưởng Vụ Ngoại giao, do có thiện cảm với Khuynh vì sự tháo vát, dáng vóc cao ráo
và có vốn tiếng Anh khá, vị Vụ trưởng rất mến mộ Khuynh và ông tìm cách cất nhắc
Khuynh về Hà Nội làm việc. Khi về làm việc tại Bộ Ngoại giao, được sự tin yêu của
cấp trên dành cho, với chức danh là Trợ lý Bộ trưởng, ông ta đã mặc sức tung hoành,
lạm dụng chức tước kìm nén tương lai và công việc của người khác với đủ mưu mô,
20
mánh lới quỷ quyệt. Khi Toàn đã trải qua kỳ thi để đạt được suất đi học nước ngoài,
Khuynh đã dùng mưu mô hèn hạ ngăn cản việc Toàn đi học để dành suất học bổng
đó cho em vợ. Là một kẻ ngạo mạn, dối trên lừa dưới, những khi có sai trái gì trong
công việc, Khuynh chối cãi bằng cách “vật mình vật mẩy với Bộ trưởng” để đánh
trống lảng mong thoát tội, nhưng những mánh khoé của Khuynh cũng đã bị lột
tẩy.“Khuynh quên rằng không nên lạm dụng chiến thuật cổ điển vào cái thập kỷ tám
mươi này nữa. Bộ trưởng đã quá quen thuộc, đã quá ngán cái trò rẻ tiền này, nhất là
kho trong tay đã nắm được những bằng chứng không thể chối cãi. Cho nên Khuynh
thật sự kinh hoàng, khi ở giữa cuộc họp lãnh đạo Bộ, Bộ trưởng tuyên bố dứt khoát:
“Tôi chấp nhận nguyện vọng của anh Khuynh. Nếu có Viện, hoặc Vụ nào nhận thì
anh về đó công tác. Nhưng vụ nào cũng sợ, vì ông ta có truyền thống đi tới đâu làm
mất đoàn kết nội bộ đến đó.” [34,149].
Bất chấp tất cả để đạt được mục đích, bất kể đó là mục đích gì, đó là cách
sống của Khuynh. Sống trong một gia đình không hạnh phúc với người vợ đáo để,
hắn vẫn cố gượng, sống giả dối, tình cảm giả dối với người vợ hắn khinh bỉ, ghê tởm
chỉ nhằm bảo toàn chức vụ. Hồ Anh Thái soi chiếu nhân vật trên nhiều bình diện để
lột trần bộ mặt của hắn. Sống bên người vợ như Diệu, một người đàn bà không có
nhan sắc bề ngoài nhưng lại vô cùng tinh quái, mưu mô và quỷ quyệt đến thâm,
Khuynh muốn thoát ra khỏi cuộc sống ngột thở đó. Hoàn toàn bất lực trước một con
người tinh quái như Diệu, Khuynh trở thành một con người nhu nhược, hèn yếu đáng
thương. Khi bản chất xấu xa đến lúc bị đưa ra ánh sáng, mất hết chức quyền, gia đình
tan nát, hắn lại càng rời xa tính người, như một kẻ vô hồn mất hết ý thức, Khuynh lao
ra khỏi nhà “chạy roàm roạp trên con đường nước ngập quá đầu gối” và “Giờ đây
lưu manh vô học. Ông Khỏa hướng dẫn luận văn cho nữ sinh viên, đến lúc ra về, sinh
viên khẩn khoản xin lại thầy cái chân: “Thầy bật cười khan… Cười khan tức là chỉ
cười một tiếng. Chết dở, nãy giờ thầy cho em về mà thầy vẫn giữ đùi em. Thầy cười
khan, nhưng bệnh cười vượt quá quy định, bắt đầu nhân ra thành chuỗi cười bất tận.
Cô sinh viên hoảng quá. Chẳng biết ứng phó thế nào. Cũng không dám rút chân ra
khỏi tay thầy” [36,77]. Từ hình ảnh một ông giáo già, tay nắm chân một cô gái trẻ,
miệng cười không dứt cho người đọc bóc lột cái dâm, cái quái đản, cái tha hóa của
một trí thức.
Với kiểu trí thức tha hóa về nhân cách, Hồ Anh Thái cho ta thấy những thói
hư tật xấu của con người trong xã hội, không chỉ giúp ta nhận ra sự phức tạp trong
22
cơn chuyển mình của xã hội Việt Nam từ bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường mà
còn mang ý nghĩa cảnh báo sâu sắc, động chạm đến những vấn đề mà không phải cây
bút nào cũng dám nói tới một cách thẳng thắn và đau xót trong tác phẩm của mình.
1.2.1.2. Trí thức giả danh, những người đội lốt trí thức nhưng bất tài, vô dụng
Lợi dụng thế lực chèn ép gây bao tấn bi kịch cho những người có thân phận
nhỏ bé không có quyền lực là một trong những nội dung được phản ánh chân thực
trong văn xuôi hiện đại. Trong Đám cưới không có giấy giá thú, Ma Văn Kháng có
nêu: “Cuộc đánh tráo các giá trị vì lợi ích nhỏ nhen và là biểu hiện của sự tha hóa
cuối cùng của phẩm cách con người, lưu manh tính đang trở thành đặc điểm của thời
đại lịch sử”. Sự độc đoán của kẻ có quyền đã vi phạm tới quyền dân chủ, hủy hoại tài
năng và niềm tin của người trí thức. Đó là loại trí thức giả danh như Hiệu trưởng
Cẩm, Bí thư Chi bộ Dương, Bí thư Thị ủy Lại.
Cẩm là loại trí thức giả danh dốt nát và bần tiện, trình độ văn hoá chỉ học lớp
bẩy, hiểu biết ít nhưng nhờ may mắn lợi dụng được khe hở của xã hội nên Cẩm đã
luồn lách để đạt tới chính danh. “Cẩm là sản phẩm của một thời lấy lý lịch ba đời
nghèo khó, lấy tấn phân xanh, phân chuồng làm ra thước đo giá trị duy nhất mỗi con
người… “ [25, 133]. “Lý lịch ba đời Cẩm, khỏi chê. Cụ, ông nội, bố đều là mõ, loại
cùng đinh, mạt hạng lúc bấy giờ” [25,133]. Làm hiệu trưởng trong một thời gian dài
nhưng “Cẩm vẫn là kẻ dở ông giở thằng. Vẫn cứ không sao xoá được cái cốt cách mõ
là đỉnh cao. Mặc dù thường nói về chủ nghĩa Mác – Lênin nhưng Dương hoàn toàn
không hiểu Lênin là ai, là một người hay hai người. Trình độ văn hoá “năm lớp nhì
thứ nhất” nhưng Dương lại tốt nghiệp lý luận cao cấp nên ông ta được Bộ Giáo dục
đưa sang làm giáo viên dạy chính trị. Do vậy, ông ta có biệt danh là “quan tắt”, trí
thức tắt bởi “ông chưa có bằng tiểu học mà lại là ông giáo trung học”. Ông ta còn biết
lợi dụng lời lẽ của những danh nhân để loè người: Dương “dẫn định nghĩa tri thức
của Mao chủ tịch, và cho biết, thực tiễn cách mạng là trường đại học lớn nhất, thực
tiễn cách mạng của ông phong phú hơn tất cả kiến thức của các trường đại học cộng
lại” [25,156]. Dương sống theo nguyên tắc cứng nhắc, cái gì cũng quy hết vào tư
tưởng, lập trường chính trị. Dương nhìn cuộc đời, nhìn mọi việc rất vô lối và khắt
khe nghiệt ngã, luôn nói câu cửa miệng: “Theo quan điểm toàn diện”, “xét theo quan
điểm toàn diện”, quen thuộc như một bửu bối vạn năng trong lý luận để phê phán
người khác “Dương tự coi mình là vị lãnh tụ anh minh của tập thể”. Thực tế thì
“Dương bị chức trách của mình lừa mình. Ông đồng hoá ông với chức vụ và càng
24
thâm niên đảm nhiệm chức vụ đó, ông càng xa cách con người bình thường tự nhiên.
Hay quan trọng hoá là đặc điểm của người ít học. Lên mặt, cường điệu vai trò của
mình là thói tật của kẻ kém phát triển trí tuệ. Kém phát triển trí tuệ, thiếu chiều rộng,
chiều sâu hiểu biết, nên trên thực tế, Dương lại phản lại ý định của mình: ông thực thi
công tác đảng một cách vô cùng thông tục tầm thường” [25, 159]. Con người Dương
được Ma Văn Kháng lật xới tới tận cùng bản chất: “Tính nguyên tắc và thói máy
móc, tệ giáo điều. Niềm tin vào chủ nghĩa duy tín mù quáng, ổn định và trí tuệ. Kiên
trì và cố chấp, bảo thủ, đối lập nhau, tiếc thay lại cùng chung sống, núp bóng nhau,
đan xen hình ảnh lẫn lộn vào nhau, ở Dương” [25, 158]. “Đã xảy ra hai hiện tượng
thuộc hai cực đối lập trong mỗi hành vi của Dương. Dương tự coi mình là vị lãnh tụ
anh minh của tập thể, nhưng trên thực tế ông lại bị tập thể coi thường ngấm ngầm.
Luôn tự nghĩ rằng mình như vị tư lệnh tả xung hữu đột trên mặt trận chính trị, tư
tưởng, nhưng thực chất Dương chỉ là Đôngkisốt đánh nhau với cối xay gió và đàn
cừu: ông không có đối thủ. Tiếc thay, công tác Đảng, cái động lực vĩ đại của cuộc
sống, cái linh hồn sống động của sự phát triển, thông qua Dương, biến thành một