Tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi việt nam đương đại - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-------------------LỜI CẢM ƠN

Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Tiến sĩ
Phùng Gia Thế.

CHU LAN ANH
Tôi xin gửi đến thầy lời cảm ơn sâu sắc.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, tổ bộ

môn Lí luận văn học và các bạn sinh viên rong nhóm khóa luận đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.

TÍNH BẤT KHẢ Hà
TÍN,
HÀM HỒ
Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2013
SinhTHUẬT
viên
TRONG THẾ GIỚI NGHỆ
VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Chu Lan Anh

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI – 2013
1





MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài.................................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................ 5
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 5
6. Bố cục khóa luận ................................................................................................. 6
NỘI DUNG ............................................................................................................. 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ MỘT SỐ ĐỔI MỚI
TRONG CẤU TRÚC THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI .......................................................................................................... 7
1.1 Khái quát về thế giới nghệ thuật ........................................................................ 7
1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật ......................................................................... 7
1.1.2 Các yếu tố cơ bản của cấu trúc thế giới nghệ thuật .......................................... 9
1.2 Một số đổi mới trong cấu trúc thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại .... 17
1.2.1 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người ................................................. 17
1.2.2 Đổi mới không gian và thời gian nghệ thuật.................................................. 20
1.2.3 Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu ................................................................... 24
CHƯƠNG 2: ĐẶC TÍNH BẤT KHẢ TÍN, HÀM HỒ TRONG THẾ GIỚI NGHỆ
THUẬT VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI .................................................. 28
2.1 Người trần thuật không đáng tin ...................................................................... 28
2.2 Hình thức kết mở, đa kết.................................................................................. 37
2.3 Không gian và thời gian đậm chất huyền thoại ................................................ 43
2.4 Ngôn ngữ mơ hồ, bất định ............................................................................... 51
2.5 Sự giải thiêng văn học qua hình tượng nhà văn ................................................ 54

Phương, Tạ Duy Anh, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà,…
1.3. Văn xuôi Việt Nam đương đại có nhiều đổi mới trong cấu trúc thế giới
nghệ thuật so với giai đoạn văn học trước đó. Điều này thể hiện sự thay đổi trong hệ
hình tư duy, cách tiếp cận đối tượng của người nghệ sĩ. Đề tài khóa luận này sẽ
nghiên cứu văn xuôi Việt Nam đương đại từ khía cạnh tính bất khả tín, hàm hồ trong

5


thế giới nghệ thuật để cho thấy sự chuyển dịch trong cái nhìn, ý thức của nhà văn về
đối tượng, chủ thể, bạn đọc và bản thân văn học. Từ hướng tiếp cận này sẽ giúp
chúng ta hiểu văn học đa diện, nhiều chiều hơn.
1.4. Văn học Việt Nam đương đại luôn luôn vận động, cách tân, đặc biệt là
trong xây dựng thế giới nghệ thuật. Chính vì vậy cách đánh giá chúng chưa có sự
thống nhất, điều này thể hiện rõ “tính chất động”, không ổn định của giai đoạn văn
học này. Việc lựa chọn đề tài thuộc mảng văn học đương đại, cụ thể là văn xuôi cho
thấy sự quan tâm của chúng tôi đối với đời sống văn học hôm nay; đồng thời, nó
cũng góp phần khắc phục sự chia cắt giữa văn học đương đại và văn học trong nhà
trường. Thực hiện đề tài khóa luận là bước tập nghiên cứu văn học, qua đó giúp
chúng tôi giải thích, đánh giá các hiện tượng văn học tốt hơn và đóng góp thêm một
cách nhìn mới về thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam đương đại.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là văn xuôi đã có những đổi mới độc
đáo, khác lạ trong cấu trúc thế giới nghệ thuật so với văn xuôi giai đoạn trước, tạo
ra nhiều luồng ý kiến ở cả giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc. Tìm hiểu thế giới
nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam đương đại đã có nhiều công trình của các nhà
nghiên cứu, phê bình văn học. Có thể nêu ra một số ý kiến đánh giá, một số công
trình với các cấp độ khác nhau như sau:
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình trong Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đặc biệt
nhấn mạnh đến những biến đổi, cách tân trong thế giới nghệ thuật văn xuôi đương

nỗ lực tìm tòi đổi mới được thể hiện trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu tác
phẩm, ngôn ngữ. Có thể thấy, nhân vật trong tác phẩm của Tạ Duy Anh phong phú
với tính cách đa chiều có cả phần thánh thiện và ác quỷ. Điều đó cho thấy cái nhìn
trung thực, dũng cảm nói cho con người hiểu rõ về cái ác tiềm ẩn mục đích lay thức
con người về cõi thiện và cái nhìn bi quan của ông về sự đổ vỡ, nhàu nát, phi nhân
tính,… Nhân vật của Tạ Duy Anh được xây dựng bằng các thủ pháp lắp ghép, phân
mảnh, gấp bội điểm nhìn,… Kết cấu trong tác phẩm của Lão Tạ là sự lắp ghép và lạ
hóa mô típ. Điều này làm cho nội dung tác phẩm có điểm xoáy ám ảnh người đọc,
hiện thực được tập trung, xâu chuỗi theo một chủ đề trung tâm. Ngôn ngữ và giọng
điệu của trong tác phẩm Tạ Duy Anh đa dạng, trộn lẫn nhiều mảng màu đối lập,…

7


Từ sau năm 1975, nhất là sau năm 1986, văn xuôi đã có sự khởi sắc, trong đó
tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo. Chính vì vậy, thể loại này đã thu hút được sự
quan tâm của giới nghiên cứu phê bình. Trong bài Ý thức cách tân trong tiểu thuyết
Việt Nam sau 1975, nhà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu đã chỉ rõ sự đổi mới ở tư duy
nghệ thuật trong sáng tạo tiểu thuyết sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là sự thay đổi về cơ
cấu của tiểu thuyết như đề tài, cốt truyện, ngôn ngữ,... Tất cả những thay đổi ấy thể
hiện nhãn quan nghệ thuật của nhà văn về hiện thực và cách xây dựng thế giới nghệ
thuật trong tác phẩm văn học. Nhìn tiểu thuyết từ góc độ thể loại ở mỗi giai đoạn khác
nhau, thấy có sự khác biệt rõ rệt. Trong bài Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - nhìn từ góc
độ thể loại, tác giả Bùi Việt Thắng đã làm rõ điều đó. Theo tác giả thì sự khác biệt này
thể hiện ở nhiều phương diện như: vấn đề dung lượng, vấn đề giản lược nhân vật và
cốt truyện, vấn đề cấu trúc - thể loại tiểu thuyết. Tiểu thuyết có sự chuyển dịch
chính là do hệ ý thức của người cầm bút thay đổi. Ngoài các bài nghiên cứu trên còn
có một số bài như: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập
kỉ 80 đến nay của Nguyễn Thị Bình, Một vài khuynh hướng vận động của điểm nhìn
trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Văn Hiếu,...

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Với khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp và khả năng làm chủ tư liệu còn hạn
chế, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ
thuật văn xuôi Việt Nam đương đại ở một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu:
- Nguyễn Huy Thiệp: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb. Hội
nhà văn, 2005.
- Nguyễn Bình Phương: Trí nhớ suy tàn, Nxb. Văn học, 2000; Thoạt kỳ
thủy, Nxb. Văn học, 2005
- Tạ Duy Anh: Thiên thần sám hối, Nxb. Hội nhà văn, 2004; Giã biệt bóng
tối, Nxb. Hội nhà văn, 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài khóa luận này, tác giả khóa luận kết hợp sử dụng những
phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp hệ thống

9


- Phương pháp hệ thống lịch sử - chức năng
- Phương pháp phân tích loại hình
- Phương pháp so sánh
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, nội dung
chính của khóa luận được triển khai theo hai chương như sau:
Chương 1: Khái quát về thế giới nghệ thuật và một số đổi mới trong cấu trúc
thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại.
Chương 2: Đặc tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi
Việt Nam đương đại.

với các sự thực đời sống riêng lẻ, xem có “giống” hay không, “thật” hay không, mà
phải đánh giá trong chỉnh thể tác phẩm, xem xét tính chân thật của tư tưởng chỉnh

11


thể của tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực. Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý
nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó.
Giáo trình Lý luận văn học (Trần Đình Sử chủ biên) viết: “Thế giới nghệ
thuật là một thế giới kép: thế giới được miêu tả và thế giới miêu tả. Thế giới được
miêu tả bao gồm nhân vật, sự kiện, cảnh vật,… Thế giới miêu tả là thế giới của
người kể chuyện, người trữ tình,… Hai thế giới này gắn kết không tách rời như mặt
của một tờ giấy. Không có thế giới miêu tả thì không có thế giới được miêu tả và
ngược lại. Tuy nhiên, chúng không thể liên thông. Người kể chuyện không trực tiếp
tham gia vào các sự kiện trong thế giới được miêu tả như một nhân vật” [27, tr. 82].
Thế giới được miêu tả trong tác phẩm có các bình diện của nó. Đó là con người
riêng (nhân vật), không gian, thời gian, đồ vật, âm thanh, màu sắc có ý nghĩa tượng
trưng riêng không đồng nhất với thực tại. Các bình diện trên đều là các yếu tố của
thế giới nghệ thuật, mỗi yếu tố có một vị trí nhất định và không thể thiếu đối với hệ
thống. Thế giới nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ là hệ thống hoàn chỉnh bao gồm
những giới hạn nhất định. Bởi hệ thống đó sống theo các quy luật, nguyên tắc vốn
có của nó, có không gian, thời gian, tâm lý, đạo đức xã hội và hoàn cảnh vật chất
riêng, tất cả đều là phạm trù có ý nghĩa khi phân tích tác phẩm. Không nên đánh giá
tác phẩm chỉ trong một bình diện, cũng như không nên xem xét các bình diện trên
một cách tách rời, bỏ qua mối quan hệ và liện hệ qua lại của chúng. Chỉ có nghiên
cứu đồng bộ các bình diện mới đem lại bức tranh đầy đặn về thế giới mà nhà văn
sáng tạo ra.
Cũng với cách hiểu trên, tác giả cuốn Tác phẩm văn chương, một sinh thể
nghệ thuật, PGS. TS. Phùng Minh Hiến không dùng thuật ngữ “thế giới nghệ thuật”
mà thay vào đó là cụm từ “cái được miêu tả”. “Cái được miêu tả được sáng tạo nên

trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, chúng tôi chỉ đề cập đến khái niệm
nhân vật theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển tiếng Việt định nghĩa, đó là nhân vật
trong tác phẩm văn chương.
Cuốn Lý luận văn học do tác giả Phương Lựu chủ biên định nghĩa về nhân
vật văn học như sau: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả
thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học” [17, tr. 277]. Đó có thể là
những nhân vật có tên riêng (Tấm, Cám, anh Pha,...), cũng có thể không có tên
riêng (thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều,...). Đó là những con vật trong

13


truyện cổ tích, thần thoại, đồng thoại, bao gồm cả quái vật lẫm thần linh, ma quỷ,
những con vật mang nội dung và ý nghĩa như con người,… Khái niệm nhân vật đôi
khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể mà chỉ là một
hiện tượng nổi bật trong tác phẩm nhưng chủ yếu là hình tượng con người. Nhân vật
văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu riêng để nhận ra.
Trong cuốn giáo trình Lí luận văn học do GS. Hà Minh Đức chủ biên, các tác
giả cho rằng: “Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó
không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự
thể hiện của con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính
cách,… (…). Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ
là một hình tượng con người về con người hoặc có liên quan tới con người, được
thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [8, tr. 126].
Như vậy, các nhà nghiên cứu lí luận văn học, bằng cách này hay cách khác,
khi định nghĩa về nhân vật vẫn cơ bản gặp nhau ở những nội hàm không thể thiếu
được của khái niệm này: Thứ nhất, đó phải là đối tượng mà văn học miêu tả, thể
hiện bằng những phương tiện văn học. Thứ hai, đó là những con người, hoặc những
con vật, đồ vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh ẩn dụ của con
người. Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống

văn học được chia thành: nhân vật chính và nhân vật phụ.
Dựa vào đặc điểm tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn, nhân vật
văn học được chia thành: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện.
Dựa vào thể loại văn học, ta có: nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình và nhân vật kịch.
Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành: nhân vật chức năng
(hay mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng.
Trên đây là những loại nhân vật thường gặp. Sự phân biệt này chỉ mang tính
chất tương đối. Nó chỉ nhằm nhấn mạnh nét trội, nét đặc trưng cơ bản của một loại
nhân vật nào đó.
1.1.2.2 Không gian và thời gian nghệ thuật
- Không gian nghệ thuật:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, không gian nghệ thuật được hiểu là “hình
thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả,
trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong

15


một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn
bộ quảng tính của nó: cái này bên cái kia, liên tục. Cách quãng, nối tiếp, cao, thấp,
xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ thuật gắn liền
với cảm thụ về không gian mang tính chủ quan. Ngoài không gian vật thể, có không
gian tư tưởng” [10, tr. 160]. Không gian trong tác phẩm văn học có tác dụng mô
hình hóa các mối quan hệ của bức tranh thế giới như tôn giáo, xã hội, đạo đức, tôn ti
trật tự,… Ngôn ngữ của không gian nghệ thuật rất đa dạng và phong phú. Cặp phạm
trù cao - thấp, xa - gần, rộng - hẹp, cong - thẳng, bên này - bên kia,… đều được
dùng để biểu thị các phạm vi giá trị phẩm chất của đời sống xã hội. Không gian
nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc bên trong của tác phẩm văn học, các ngôn
ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác
giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc

tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát thành vô
tận” [10, tr. 322].
Nhà lí luận Nga Đ.X. Likhachôp cho rằng: “Thời gian vừa là khách quan vừa
là chủ thể và đồng thời là công cụ phản ánh văn học. Văn học ngày càng thấm
nhuần ý thức và cảm giác về sự vận động của thế giới trong hình thức hết sức đa
dạng của thời gian”. Trong tác phẩm văn chương, thời gian chỉ trở thành nghệ thuật
khi nó trực tiếp tác động vào nhân vật, vào môi trường mà ở đó đang diễn ra số
phận của nhân vật và những biến động tâm tư, tình cảm của con người. Thời gian
nghệ thuật là hình thức của hình tượng nghệ thuật thể hiện tài năng và cá tính sáng
tạo của người nghệ sĩ,… Nghệ sĩ có thể chọn điểm bắt đầu và kết thúc, có thể kể
nhanh hay chậm, có thể kể xuôi hay đảo ngược. Có thể chọn điểm nhìn từ quá khứ,
thực tại, tương lai, có thể chọn độ dài một khoảnh khắc hay nhiều thế hệ, nhiều cuộc
đời. Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo nghệ thuật. Thời gian nghệ thuật được nhận
biết nhờ các mối quan hệ giữa các biến cố, có thể là quan hệ nhân quả, quan hệ tâm
lý hay liên tưởng. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là cách biểu thị thời gian
mà là quan niệm, cách hiểu thời gian của tác giả.
Trong Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, GS. Trần Đình Sử nhận xét:
“Thời gian nghệ thuật là cái được cảm nhận bằng tâm lý qua chuỗi liên tục các biến
đổi (biến cố) có ý nghĩa thẩm mĩ xảy ra trong thế giới nghệ thuật”. Thời gian nghệ
thuật được xây dựng theo cách cảm nhận thời gian của con người.
Tóm lại, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật là hai khái niệm luôn
luôn đi đôi song hành với nhau, tạo ra tính cấu trúc và tính quá trình của tác phẩm,
là yếu tố mở ra thế giới nghệ thuật của nhà văn.

17


1.1.2.3. Ngôn ngữ và giọng điệu
- Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt trong đời sống của con người. Theo quan niệm

trưng ngôn ngữ riêng biệt, độc đáo: trữ tình là ngôn ngữ cách điệu, gợi cảm, giàu
nhịp điệu; ngôn ngữ kịch gắn với đối thoại, gần gũi với ngôn ngữ đời thường; ngôn
ngữ tự sự lại gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ trần thuật. Bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi
thông tin mà ngôn ngữ ra đời, bắt đầu từ nhu cầu thưởng thức cái hay, cái đẹp mà
văn học ra đời. Ngôn ngữ văn học đã đem lại bản chất nghệ thuật cho tác phẩm văn
học, tạo nên nét khu biệt giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ nói chung.
M. Gorki cho rằng: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Nếu tác
phẩm văn học là tổng hòa của nhiều yếu tố thì ngôn ngữ chính là yếu tố căn cốt, yếu
tố đầu tiên kiến tạo nên tác phẩm văn học. Vai trò của ngôn ngữ đối với văn học
được thể hiện ở một số điểm sau:
Ngôn ngữ là chất liệu của văn học. Khác với các loại hình nghệ thuật khác
như: hội họa, kiên trúc, điêu khắc, hình tượng nghệ thuật trong văn học được xây
dựng bằng ngôn từ. Vì thế, nó không trực tiếp tác động vào các giác quan của công
chúng, mà tác động sâu xa đến trí tưởng tượng, cảm xúc của người đọc, lay động
tâm hồn người đọc. Đó chính là tính phi vật thể của hình tượng nghệ thuật ngôn từ.
Ngôn ngữ văn học có vai trò quan trọng trong việc khai thác và khám phá
đời sống của văn học. Ngôn ngữ giúp cho văn học mở rộng phạm vi, đối tượng
phản ánh theo không gian, thời gian, giúp người đọc sống nhiều cuộc đời, nhiều
cảm xúc, sống với chiều trôi chảy của thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai. Như
thế, chính ngôn ngữ văn học đã giúp người đọc mở rộng tầm hiểu biết của mình.
Ngôn ngữ đóng vai trò trong việc thể hiện cá tính của nhà văn. Nó là sự biểu
hiện phong cách, tâm lý, quan điểm, lập trường, ý thức sáng tạo, tâm huyết của nhà
văn gửi gắm trong đó. Trong đây, có ngôn ngữ mực thước, trang nghiêm của người
uyên thâm, tao nhã; có thứ ngôn ngữ chua xót, đau đớn, hoài nghi của người luôn
trăn trở về nhân tình thế thái,... Nhưng dù nói thế nào đi nữa một khi đã gắn với
người nghệ sĩ thì ngôn ngữ cũng là thứ đã được ý thức sáng tạo một cách sâu sắc.
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng, dẫn dắt người đọc tìm hiểu tác phẩm. Theo
góc nhìn của thi pháp học hiện đại, ý nghĩa tác phẩm là một thuộc tính hàm ẩn, nó
phải được khám phá qua nhiều lần cảm thụ. Tiếp cận văn học từ góc độ ngôn ngữ


phát triển của văn học cũng dành một số lượng trang không ít để nói về giọng điệu.
Theo ông, giọng điệu là yếu tố cơ bản của phong cách nghệ thuật. Một nhà văn tài

20


năng bao giờ cũng tạo ra một giọng điệu độc đáo. M.B Khrapchencô khẳng định:
“Đề tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường và một giọng
điệu nhất định đối với đối tượng sáng tác, đối với những mặt khác nhau của nó.
Hiệu suất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước
hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu vốn là đặc trưng của tác phẩm văn học với tư cách
là một thể thống nhất hoàn chỉnh” [14, tr. 167 - 168].
Với cách hiểu trên về giọng điệu, có thể nhận thấy, dù diễn đạt khác nhau
nhưng các nhà nghiên cứu gặp nhau ở một số điểm, đó là kiểu cách dùng để kể, là
lập trường quan điểm và nổi bật nhất là thái độ đối với hình tượng được miêu tả.
Như vậy, giọng điệu là một phạm trù của tác phẩm văn học, cùng với các phạm trù
khác nó góp phần tạo nên sự thành công và bản sắc riêng cho tác giả.
Tóm lại, thế giới nghệ thuật là một phạm trù rộng và được tạo nên từ nhiều
yếu tố. Các yếu tố này có vị trí, vai trò nhất định trong hệ thống và có mối quan hệ
biện chứng với nhau tạo thành tính chỉnh thể của hệ thống đó. Thế giới nghệ thuật
của tác phẩm ngôn từ là hệ thống hoàn chỉnh vận hành theo các quy luật và nguyên
tắc vốn có của nó. Không nên đánh giá tác phẩm chỉ thông qua một bình diện hoặc
xem xét các bình diện trong sự tách rời mà phải đặt chúng trong chỉnh thể. Như vậy,
thế giới nghệ thuật trong tác phẩm mới hiện ra sinh động và toàn vẹn trong sự cảm
nhận, chiếm lĩnh của bạn đọc.
1.2. Một số đổi mới trong cấu trúc thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam
đương đại
1.2.1 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là một khái niệm trung tâm của thi pháp
học. Nó phản ánh một các sâu sắc và toàn diện bản chất nhân học của văn học. Ở

nghệ thuật cũng như phương thức thể hiện. Văn học nới rộng phạm vi hiện thực,
hiện thực lúc này là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp, cần khám
phá, tìm tòi. Văn học, đặc biệt là văn xuôi đã tìm đến hiện thực con người, quy
chiếu về số phận con người với mối quan hệ xung quanh sự tồn tại của nó, phát hiện
những “vấn đề tự nó”.
Lịch sử văn học, nhìn theo một góc độ nào đó là lịch sử của những quan niệm
nghệ thuật khác nhau về con người. Trong văn xuôi Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay,
con người cá nhân phức tạp và bí ẩn đã thay thế cho kiểu con người sử thi - con

22


người cộng đồng trước đó. Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người đang dần
hướng về con người cá nhân, con người của những số phận riêng tư trong mối quan
hệ nhiều chiều của đời sống xã hội. Nhờ đó, các nhân vật tồn tại như một nhân cách,
chứ không còn là một ý niệm. Nó đã trở thành đối tượng thẩm mỹ quan trọng của
văn xuôi Việt Nam đương đại. Trên khuynh hướng chú ý đến con người cá nhân,
trong văn xuôi thời kì đổi mới, nhiều nhà văn đã làm rõ nét, sinh động hơn quan
niệm này. Trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là con người sám hối, con người
thức tỉnh, con người nhận đường và đầy suy tư dằn vặt. Trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp là con người cô đơn đầy cay đắng. Trong truyện ngắn Nguyễn Quang
Lập là con người vừa anh hùng vừa hèn hạ. Trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng là con
người vừa đáng ghét vừa đáng thương,…
Nếu trong văn xuôi sử thi quan niệm về con người tốt xấu rạch ròi, thì ở giai
đoạn này con người được nhìn nhận trong cái đa diện của nó. Một kẻ từng được
xem như là anh hùng có thể trong một phút nào đó là một tên hiếp dâm để rồi suốt
đời ân hận, day dứt khôn nguôi về lỗi lầm ấy (Đò ơi - Nguyễn Quang Lập). Trương
Chi khát khao bài hát của tình yêu nhưng rồi cũng phải hát bài hát đông người, bài
hát ca ngợi danh vọng, tiền tài để rồi lúc kết thúc tiếng hát cũng là lúc văng tục
(Trương Chi - Nguyễn Huy Thiệp). Một người chạy theo lối sống xô bồ tưởng như

những không gian vô tận cho văn học thỏa sức chiếm lĩnh và khám phá.
Không gian nghệ thuật trong văn xuôi đương đại được sử dụng làm nổi bật
cảm giác của con người trong một thế giới ảo - thế giới đã được xử lý, nhằm thể
nghiệm nhưng với tư cách là con người tự ý thức về tồn tại và hiện sinh. Nghệ thuật
xử lý không gian trong các tác phẩm văn xuôi đương đại có khi là mở rộng hoặc thu
hẹp, có khi dồn nén, chồng xếp,… Và trong mỗi kiểu không gian, con người hiện
đại lại bộc lộ những trạng thái tâm lý khác nhau.
Kiểu không gian thường được sử dụng để con người có cơ hội đối diện với
bản thân mình, với cái tôi bé giữa rộng lớn không gian, đó là không gian xa lạ. Ở
đó, con người không còn cảm thấy an nhiên tự tại, hòa mình vào vũ trụ theo kiểu
thiên - nhân hợp nhất nữa mà là sự nhỏ bé trước sự hùng vĩ, vô biên của tạo hóa.
Con người trong không gian xa lạ ấy mới cảm thấy hết sự hữu hạn của cuộc sống,
sự cô đơn của kiếp người. Trong Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, không
gian núi rừng hiểm trở trong cuộc đi săn đã làm cho ông Diểu nhận ra sự ngưng lại

24


của cuộc sống và sự mỏng manh của kiếp người. Một mình trong rừng sâu núi
thẳm, cũng là cơ hội để ông đối diện với chính mình, nó cũng hiểm ác chẳng khác
gì vực sâu trước mặt ông. Rồi trong khoảnh khắc, ông chợt nhận ra rằng, mọi ham
muốn dục vọng, những nhỏ nhen ích kỉ đều vô nghĩa trước cuộc sống chông chênh,
hữu hạn này. Ông tự băng bó cho con khỉ và thả nó về rừng đó cũng là hành động
giải thoát tâm hồn đang trĩu nặng bởi những toan tính tội lỗi. Thiên nhiên chợt trở
nên hài hoà “mưa xuân dịu đang trên cánh đồng” và “ông cứ trần truồng như thế, cô
đơn như thế mà đi”. Như vậy, không gian có tác động sâu sắc tới tâm trạng con
người và con người tạo sự thay đổi cảm nhận về không gian.Trong truyện Những
người thợ xẻ, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng đặt nhân vật trong không gian thiên
nhiên rộng lớn, hiểm trở để mở ra sự suy ngẫm về thân phận con người: “Những
dãy núi đá vôi trập trùng, cao ngất. Chúng tôi đi men ở dưới chân núi, vừa bé nhỏ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status