Văn xuôi việt nam hiện đại viết về dân tộc và miền núi trong sách giáo khoa tiếng việt bậc tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh (LV01263) - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN QUỲNH VÂN

VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VIẾT VỀ
DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI TRONG SÁCH
GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC VÀ
Ý NGHĨA GIÁO DỤC ĐỐI VỚI HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HÀ NỘI, 2014

HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh -
người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Đồng thời, tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Ngữ văn; khoa Giáo dục
Tiểu học; phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, động viên trong
suốt thời gian qua, để tôi hoàn thành quá trình học tập của mình.

Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Quỳnh Vân
HIỆN ĐẠI VIẾT VỀ DÂN TỘC, MIỀN NÚI VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC
TIỄN ĐỐI VỚI DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC 10
1.1. Quá trình vận động, phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về
dân tộc và miền núi 10
1.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945 10
1.1.2. Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945 17
1.2. Vị trí văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về dân tộc và miền núi trong tiến
trình văn học Việt Nam hiện đại 29
1.3. Cơ sở lí luận và thực tiễn đối với việc dạy môn Tiếng Việt ở trường
Tiểu học qua các văn bản văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về dân tộc và
miền núi 30
1.3.1. Cơ sở lí luận 30
1.3.2. Cơ sở thực tiễn 38 CHƯƠNG 2. VẺ ĐẸP NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA VĂN XUÔI
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VIẾT VỀ DÂN TỘC, MIỀN NÚI TRONG SÁCH
TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 43
2.1. Tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về dân tộc và miền núi trong
sách Tiếng Việt bậc Tiểu học 43
2.1.1. Thống kê số lượng các tác phẩm 43
2.1.2. Nhận xét 44
2.2. Vẻ đẹp nội dung của những văn bản văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về
dân tộc và miền núi trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học 46
2.2.1. Không gian cảnh sắc thiên nhiên núi rừng 46
2.2.2. Con người miền núi 54
2.2.3. Không gian đất và người giàu bản sắc văn hóa dân tộc 61
2.3. Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật 64
2.3.1. Ngôn từ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh 64
2.3.2. Ngôn từ giàu bản sắc văn hóa miền núi 67
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tầm quan trọng của môn Tiếng Việt và những văn bản văn xuôi
Việt Nam hiện đại viết về dân tộc và miền núi ở trường Tiểu học
Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt có
vị trí rất quan trọng. Việc giảng dạy và học tập môn Tiếng Việt đã góp phần
hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt và thông
qua môn học này, các em được rèn luyện các thao tác của tư duy. Ngoài mục
tiêu cung cấp những kiến thức về tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con người;
môn Tiếng Việt còn giúp các em hiểu biết về văn hóa, văn học của Việt Nam
và nước ngoài. Hơn bất kì môn học nào, môn Tiếng Việt có khả năng rất lớn
trong việc bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành ý thức giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học bao gồm các phân môn Tập đọc, Kể
chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, Tập viết. Ở Tiểu học, chưa
học môn Văn nhưng thực chất, kiến thức Văn đã được tích hợp thông qua
những giờ học Tiếng Việt. Thông qua những văn bản văn học, học sinh sẽ
được bồi dưỡng năng lực Văn. Các em sẽ có thêm vốn sống, vốn hiểu biết,
phát triển vốn từ tiếng Việt. Từ đó, các em có năng lực đọc - hiểu, năng lực
tạo lập văn bản nói và viết. Và hơn thế nữa, học sinh sẽ cảm thụ được cái hay,
cái đẹp ẩn chứa trong những câu chuyện, bài thơ, dần dần bồi đắp cho các em
tình yêu với văn học, một điều đang có nguy cơ mất dần ở học sinh thời nay.

giáo dục của các nhà biên soạn SGK khi đưa các văn bản này vào dạy ở
3
trường Tiểu học, phần vì thấy độ tuổi học sinh còn nhỏ mà chủ quan nghĩ
rằng các em chỉ hiểu được những điều đơn giản nhất mà thôi. Vì vậy, nhiều
giáo viên chưa thực sự nhận thức đầy đủ rằng: Khi dạy các văn bản đó sẽ phải
dạy cái gì? Phải dạy như thế nào cho phù hợp, vừa sức với các em mà vẫn
mang lại hiệu quả giáo dục tối đa thông qua những văn bản ngôn từ ấy? Đó
vẫn là những câu hỏi khó đối với nhiều giáo viên hiện nay.
Về phía học sinh, các em học sinh Tiểu học độ tuổi còn nhỏ nên còn lệ
thuộc nhiều vào sách vở. Nhiều em chưa chủ động sáng tạo trong sản sinh văn
bản nói và viết. Tình trạng ngôn ngữ trong bài văn của các em giống ngôn
ngữ người lớn đang rất phổ biến. Học sinh viết văn bắt chước văn mẫu, bài
văn tả người thường theo khuôn chung như: tả tóc thì phải “đen nhánh”, mũi
phải “dọc dừa”, da thì “trắng mịn”… Hơn nữa, kiến thức sách vở cũng như
kiến thức thực tế của học sinh Tiểu học hiện còn nhiều khuyết thiếu. Nhiều
học sinh ở vùng nông thôn, thành phố chưa từng được trải nghiệm cảnh sắc
thiên nhiên núi rừng, bản sắc văn hóa và cuộc sống đa dạng phong phú của
các dân tộc thiểu số. Chủ yếu các em chỉ được nhìn, cảm nhận qua sách báo,
thông tin đại chúng… Ngoài ra, sức hút của các trò chơi công nghệ hiện đại
khiến trẻ em ngày nay gần như lãng quên thế giới hiện thực rừng núi thơ
mộng, cái thế giới đầy màu sắc của cánh rừng đại ngàn, con suối, ngọn cỏ,
của cuộc sống các đồng bào dân tộc anh em… Việc đọc sách của các em cũng
đang dần bị xem nhẹ. Phần lớn học sinh Tiểu học ít quan tâm đến phần đọc
sách, nếu có đọc thì đó chủ yếu là truyện tranh, thậm chí là những truyện
tranh thiếu tính giáo dục. Việc trò chuyện, tiếp xúc với bố mẹ, người thân
trong gia đình và cộng đồng cũng dần hạn chế do áp lực công việc của đời
sống hiện đại nên việc các em tìm hiểu thế giới xung quanh còn nhiều phiến
diện, chủ quan.
4
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học, mảng văn xuôi Việt

“Văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về dân tộc và miền núi trong sách giáo khoa
Tiếng Việt bậc Tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh”.
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, đã xuất hiện một số công trình, bài viết chủ yếu nghiên
cứu về một số tác giả, tác phẩm văn học viết về dân tộc và miền núi như: Văn
học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Lâm Tiến - Văn hóa dân tộc,
1995); Văn học và miền núi (Lâm Tiến - Văn hóa dân tộc, 2002);Văn xuôi dân
tộc và miền núi (Nhiều tác giả - Văn hóa dân tộc, 2002); Nhà văn dân tộc
thiểu số Việt Nam - đời và văn (Nhiều tác giả - Văn hóa dân tộc, 2004)…;
trong đó có khá nhiều ý kiến đánh giá xoay quanh vấn đề: sự phát triển của
văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, cũng như các tác giả, tác
phẩm tiêu biểu.
Trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, nhà
nghiên cứu Lâm Tiến nhận xét: “Việc đánh giá văn xuôi các dân tộc thiểu số
không thể nhìn từ góc độ hình thành và phát triển tự thân của dân tộc ấy, mà
phải được xem xét từ nhiều mặt, từ sự ảnh hưởng qua lại của các nền văn học
và quá trình trưởng thành của từng nhà văn …” [37, 95]. Tác giả đã khảo sát,
phân tích khá tỉ mỉ đối tượng, phương pháp nghiên cứu văn học các dân tộc
thiểu số, những vấn đề liên quan đến văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện đại và phác thảo diện mạo nền văn học hiện đại của họ. Đặc biệt, trong
phần khảo cứu kho tàngvăn học hiện đại của các nhà văn dân tộc, Lâm Tiến
đã ít nhiều chỉ ra dấu tích của văn học dân gian trong sáng tác của các nhà văn
người dân tộc thiểu số. Tác giả không chỉ khẳng định có sự tiếp thu tinh hoa
dân tộc từ nguồn văn hóa, văn học dân gian mà còn đề cao vai trò của chất
6
liệu dân gian trong các sáng tác văn học hiện đại. [37, 30].Cũng trong cuốn
sách này, Lâm Tiến còn nhận định về tính truyền thống có trong sáng tác của
một số nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số: Truyền thống văn hóa dân gian hàng
ngàn năm và những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền núi ảnh hưởng
không nhỏ tới văn học các dân tộc thiểu số. Những dấu ấn đó thể hiện rất rõ

diện nội dung và nghệ thuật tác phẩm Vi Hồng và đi đến nhận định: Bản sắc
văn hoá Tày thể hiện khá đậm nét ở đề tài, nội dung phản ánh, hình tượng
nhân vật và một số đặc điểm nghệ thuật khác trong truyện ngắn của Vi Hồng.
Các tác giả đã phát hiện ra chất trữ tình sâu lắng trong nội dung tác phẩm, vẻ
đẹp khoẻ khoắnmộc mạc trong hình tượng nhân vật, nghệ thuật kể chuyện,
hình ảnh so sánh giàu chất dân gian miền núi trong tác phẩm Vi Hồng và
khẳng định ông là một trong những nhà văn người dân tộc thiểu số tiêu biểu
của văn học hiện đại Việt Nam [58, 50].
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu, những bài viết, ý kiến ở trên
mới chỉ bước đầu phác thảo được diện mạo của văn xuôi các dân tộc thiểu số
(qua một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu) mà chưa chỉ ra được tiến trình hình
thành cũng như các giai đoạn phát triển cụ thể của văn xuôi Việt Nam hiện
đại viết về dân tộc và miền núi. Hơn nữa, những công trình trên cũng chưa đi
sâu tìm hiểu phương diện đặc sắc nội dung,nghệ thuật, thi pháp… Và đặc biệt
là, cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào đi sâu tìm hiểu giá trị
nội dung, nghệ thuật của mảng văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về dân tộc và
miền núi trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học để thấy được ý nghĩa giáo dục
to lớn của nó đối với học sinh. Khoảng trống trên chính là gợi ý để chúng tôi
triển khai nghiên cứu đề tài Văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về dân tộc và
miền núi trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học và ý nghĩa giáo dục
đối với học sinh.Hi vọng rằng, đề tài sẽ góp một tiếng nói quan trọng tiếp tục
8
khẳng định giá trị của những văn bản văn xuôi này đối với việc rèn luyện
tiếng Việt nói riêng và việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh Tiểu
học nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là cắt nghĩa, lý giải đặc sắc nội dung, nghệ thuật
hàm chứa trong các văn bản văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về dân tộc và
miền núi trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học. Từ đó, làm rõ ý nghĩa
giáo dục to lớn của mảng sáng tác này đối với học sinh Tiểu học như: giáo dục

7. Đóng góp của luận văn
- Về lý luận, luận văn sẽ làm rõ nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật
của những văn bản văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về dân tộc và miền núi
trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học.
- Về thực tiễn, luận văn vận dụng kết quả nghiên cứu vào quá trình dạy
học các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu cho học
sinh Tiểu học.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Nội dung chính
của luận văn được triển khai thành ba chương như sau:
Chương 1: Quá trình phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về
dân tộc, miền núi và cơ sở lí luận, thực tiễn đối với dạy học Tiếng Việt ở nhà
trường Tiểu học.
Chương 2: Vẻ đẹp nội dung và nghệ thuậtcủa văn xuôi Việt Nam hiện
đại viết về dân tộc, miền núi trong SGK Tiếng Việtở Tiểu học.
Chương 3: Ý nghĩa giáo dục của văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về
dân tộc, miền núi và định hướng đối với dạy học môn Tiếng Việt
10
NỘI DUNG

CHƯƠNG 1
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
VIẾT VỀ DÂN TỘC, MIỀN NÚI VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN
ĐỐI VỚI DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1. Quá trình vận động, phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại
viết về dân tộc và miền núi
1.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945
Cuộc cách mạng về nghệ thuật giai đoạn 1930 - 1945 đã mở ra nhiều

chính nghĩa. Một số nhân vật của Lan Khai có dung mạo tươi tắn, có đời sống
nội tâm phong phú, phức tạp.
Đặc điểm nổi bật của hầu hết các truyện về rừng núi giai đoạn này là
tính chất kỳ ảo (fantastique) như một yếu tố thi pháp bao trùm. Yếu tố kì ảo
(còn gọi là kinh dị, ma quái, huyễn tưởng ) này thực chất là sự kế thừa
truyền thống dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa thế giới trong bối cảnh xâm
thực của văn hóa diễn ra mạnh mẽ đầu thế kỉ XX. Cái hoang đường trong
truyện cổ dân gian cùng tính truyền kì trong truyện cổ trung đại pha trộn với
màu sắc huyền bí trong văn học phương Đông (như Liêu trai chí dị của Trung
Hoa) và yếu tố kinh dị của văn học phương Tây (như truyện của Ét-ga Pô) đã
chuyển hóa khá nhuần nhuyễn vào các tác phẩm. Sự ảnh hưởng truyện kì ảo
nước ngoài trong truyện của Thế Lữ đã được Khái Hưng chỉ ra: “Thực vậy,
tác giả những Vàng và máu và Một đêm trăng đã tỏ rõ óc khoa học của E.Pô
và tâm hồn thi sĩ của Bồ Tùng Linh” [21]. Đọc những truyệnNgười lạ, Ma
12
thuồng luồng, Gò thần, Đôi vịt con, Người hoá hổ (Lan Khai); Vàng
máu (Thế Lữ); Thần Hổ, Ai hát giữa rừng khuya (Đới Đức Tuấn)… người
đọc lại bắt gặp ở đó những câu chuyện dị kì mang đầy màu sắc truyền kì và
kinh dị. Chẳng hạn: Ma thuồng luồng gợi ra một hình trạng khủng khiếp, khi
con vật mang hình hài kinh dị từ hang sâu chui lên cưỡng hiếp vợ một anh
phù thuỷ người Dao; Truyện Gò thần một con bò của Long Vương lên cạn bị
giết, Vua Thuỷ Tề liền dâng nước phát tan gò Yên Ngựa để trả thù. Kì dị hơn
là truyện Đôi vịt con, một chàng trai Kinh cưới một cô gái Thổ (Tày) làm vợ
nhưng lại bạc tình bỏ về xuôi, bị gia đình người vợ dùng thuật chài (một lối
yểm bùa) làm cho tiêu mòn sinh lực thổ ra huyết rồi chết, khi vừa tắt thở thì
có “đôi vịt con từ bụng chui qua cuống họng ra ngoài rồi biến mất”. Ghê rợn
hơn là truyện Người hoá hổ, anh chàng Mèo đen (H’Mông) có mẹ già tự
nhiên hoá hổ, xé xác cháu ăn thịt rồi trốn vào rừng sâu, “mất hết quần áo, toàn
thân lông lá mọc đầy”. Hay trong Truyện Thần Hổ, Ai hát giữa rừng khuya,
thần Hổ hiện hữu trong thế giới của ma quỷ, của các loài mãnh thú với những

hổ của Đới Đức Tuấn; Tiếng hú hồn ban đêm và tập Vàng và máu của Thế
Lữ… ta thấy mỗi câu chuyện là một bức tranh nghệ thuật riêng. Trong Rừng
khuya chàng trai Mai Kham và cô gái Dua Phăn yêu nhau tha thiết, nhưng lại
bị tên quan lang phá hoại. Để bảo toàn giá trị của tình yêu, hai người lần lượt
kết thúc đời mình bằng lưỡi dao oan nghiệt. Tiền mất lực, kể về mối tình say
đắm giữa TôĐay và LôHli, nhưng gia đình cô gái lại muốn gả cô cho kẻ có
tiền và có quyền. Không cam chịu số phận, cả hai đã cùng nhau bỏ trốn. Khi
bị lùng bắt LôHli đã tự sát cùng chàng trai để giữ trọn tình yêu thuỷ chung.
Đến Suối đàn người đọc lại thấy cuộc tình say đắm của Ẻn, cô gái Tày tài sắc
với chàng trai người Kinh, nhưng cô không thắng nổi bi kịch tinh thần của
14
chính mình; không nỡ phụ người tình xưa tàn tật và không dám bội bạc với
người đang yêu mình, thất vọng, đau khổ người phụ nữ này đã tìm đến lá
ngón để kết thúc cuộc đời mình. Người phụ nữ trong Hồng thầu và Đỉnh non
thần là những con người yêu đến đau đớn và tuyệt vọng, chờ đợi người
thương cho đến chết như “hòn đá vọng phu”. Chàng trai H’Mông trong Tiếng
khèn chỉ còn biết gửi lòng mình vào âm thanh tiếng khèn rầu rĩ, oán thương
cho số kiếp của mình với người con gái anh thương yêu đã chết bởi hủ tục
cưỡng hôn trong xã hội phong kiến miền núi. Trong Chiếc nỏ cánh dâu, hình
tượng cô gái Peng Gai Lâng và chàng trai Mai Khâm dệt nên mối tình cao đẹp
giữa núi rừng Tây Nguyên. Tình yêu đã giúp họ vượt qua ranh giới sắc tộc,
hận thù giữa hai dân tộc Bana và Giarai; tình yêu đã giúp họ chống lại lòng
tham và tội ác, đấu tranh cho hoà bình, ấm no và hạnh phúc. Truyện Mọi
rợ nói về bi kịch đau thương của một gia đình người H’Mông ở đỉnh núi cao.
Đó là những con người phải sống trong cảnh nghèo túng, cha chết, nợ nần
TumĐiang và em gái phải chịu sự o ép của thế lực đồng tiền, khiến cho cuộc
đời của họ phải chìm vào u mê, mông muội. Phong tục lạc hậu, lòng tham và
tội ác của giai cấp bóc lột là cội nguồn bi kịch của người lương thiện.
Tuy nhiên, tính hấp dẫn về bút pháp miêu tả vẫn luôn là đặc tính cơ bản
làm nên giá trị độc đáo của những truyện viết về miền núi. Có thể nói trong

nhiều tình tiết được khoác lên chiếc áo hoang đường kỳ ảo, từ đó gợi ra một
không gian chứa bao điều hư thực, một cuộc sống huyền bí của thế giới đại
ngàn. Các truyện giàu chất hiện thực của Lan Khai đưa ta đến với xứ sở thiên
nhiên hùng vĩ, gần gũi với đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số. Cùng viết
về mảng đề tài miền núi, Lý Văn Sâm thể hiện rất rõ chất đường rừng của
vùng núi phía Nam của Tổ quốc. Trong các truyện của nhà văn này, số phận
16
các nhân vật thường được đẩy tới tận cùng của những bi kịch thấm đẫm đau
thương hoặc được sống phóng khoáng trong một không gian hùng tráng. Và
trong những khoảnh khắc thiêng liêng đó, họ luôn sống hết mình cho lý
tưởng, cho nghĩa lớn và lẽ công bằng, cho tình đồng loại và cốt nhục. Tuy số
lượng tác giả viết về miền núi không nhiều và số lượng tác phẩm cũng khác
nhau, nhưng những truyện của các nhà văn Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn
Tuân, Vũ Trọng Phụng, Thanh Tịnh, Hồ DZếnh, Đỗ Huy Nhiệm khó lẫn
vào nhau. Truyện Ngậm ngải tìm trầm và Tình trong câu hát của Thanh Tịnh
có tình tiết ly kỳ, nhưng nhịp văn chậm rãi, khiến lời kể va xiết trong không
gian hẹp đã đặt nhân vật rơi vào những khoảng cô đơn lạnh lẽo của cuộc đời,
gây ấn tượng khó quên. Nhất Linh với truyện Lan rừng kể về mối tình kỳ lạ
và bí ẩn giữa chàng trai Kinh với cô gái Thổ bên thác Linh Hai, trong hương
lan rừng quyến rũ cùng tình cảm tha thiết của đôi trai gái khiến người đọc
bâng khuâng, thao thức trước dòng chảy cuộc đời như đang chìm dần vào thế
giới bí ẩn của tâm linh. Những truyện Trên đỉnh non Tản, Cô Dó, Người tỉnh
rượu đốt cháy rừng trúc của Nguyễn Tuân lại giàu nhạc tính, khi réo rắt, lúc
trầm bổng, gợi cảm giác phiêu lãng về một thế giới mơ hồ, kỳ lạ. Đọc những
truyện Trong bóng rừng của Hồ Dzếnh, Ngọn gió rừng của Trần Thanh Mại
như gợi ra trong ta những gì thương nhớ thuộc về dĩ vãng với những kỷ niệm
của tuổi ấu thơ. Bên cạnh những truyện kì ảo, lãng mạn, tồn tại một số truyện
chủ yếu được viết bằng bút pháp tả thực như Tiền mất lực, Tiếng khèn của
Khái Hưng; Đi săn khỉ của Vũ Trọng Phụng. Các tác phẩm này là bức tranh
cuộc đời vất vả của người lao động miền núi trong cuộc mưu sinh, những

biên giới (1951) của Nam Cao, gương mặt chân thật của người Thổ, Người
Dao trong kháng chiến ở Việt Bắc là sự nhìn lại, nhận thức lại hình ảnh miền
núi từng bị thêu dệt trong tâm thức người đọc một thời. Tiếp đó, vào khoảng
18
thập niên 60, các tác phẩm văn xuôi được xuất hiện khá nhiều và bước đầu tạo
được dấu ấn riêng. Mặc dù những sáng tác ở giai đoạn này còn có nhiều hạn
chế về nghệ thuật nhưng khi những tác phẩm ra đời, con người và cuộc sống
miền núi đã được phản ánh một cách chân thật và sinh động bằng chính
những cây bút văn xuôi các dân tộc.
Qua các tập truyện Núi Cứu Quốc (1948) và Truyện Tây Bắc (1953), từ
một chút dấu vết bàng quan và chuộng lạ buổi đầu, các truyện của Tô Hoài
ấm dần lên tình người, tình núi, trong đó có tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Đáng
chú ý trong giai đoạn này là sự xuất hiện lần đầu tiên của thể loại văn xuôi
trong văn học các dân tộc thiểu số. Cuộc cải cách dân chủ ở miền núi sau
1954 với những thay đổi lớn trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của các
dân tộc đã tạo tiền đề mạnh mẽ cho thể loại chủ lực của văn học ra đời. Trong
số các dân tộc thiểu số, dân tộc Tày ở Việt Bắc có trình độ phát triển tương
đối cao từ nhiều thế kỉ trước, từ rất lâu trong văn học Tày đã xuất hiện những
sáng tác bằng chữ Nôm Tày, chữ Hán của một số tác giả có tên tuổi - vì vậy
văn xuôi các dân tộc thiểu số được khơi nguồn và mở rộng bắt đầu từ dân tộc
này. Tiểu thuyết Muối lên rừng (1964) của Nông Minh Châu có ý nghĩa là
những viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng văn xuôi các dân tộc thiểu số
Việt Nam. Muối lên rừng trở về với cuộc sống cay cực và nạn thiếu muối
trầm trọng do chính sách hà khắc của thực dân Pháp ở Việt Bắc trước cách
mạng cùng quá trình giác ngộ và vùng dậy cướp chính quyền của đồng bào
miền núi.
Nhìn lại văn xuôi miền núi trong ba mươi năm cách mạng và kháng
chiến, có thể khẳng định, văn xuôi của người Kinh đã hoàn thành sứ mệnh mở
đường và chiến lĩnh một hiện thực mới theo yêu cầu của lịch sử. Cuộc đổi đời
vĩ đại của nhân dân các dân tộc miền núi với quá trình phát triển cách mạng từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status