Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………...2
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài…………………………………………....3
I.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………....3
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu……………………………………………3
I.5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………...3
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận……………………………………………………………3
II.2. Thực trạng………………………………………………………………4
a. Thuận lợi, khó khăn……………………………………………………….4
b. Thành công, hạn chế………………………………………………………5
c. Mặt mạnh, mặt yếu………………………………………………………...5
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động…………………………………….6
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra………….6
II.3. Giải pháp, biện pháp…………………………………………………….7
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp…………………………………………7
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp……………………7
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp……………………………..12
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp………………………………12
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu…………..12
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu…………………………………………………………………………..13
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III.1. Kết luận……………………………………….………………………13
III.2. Kiến nghị……………………………………….……………………..14
Tài liệu tham khảo……………………………………….………………….17
nhàu nát, quăn góc và bẩn. Chữ viết tuỳ tiện, sai chính tả, viết thiếu dấu, nét cao,
nét thấp, viết hoa chưa đúng mẫu,.... Trong đó chữ viết của học sinh lớp tôi khi
mới nhận lớp chất lượng vở sạch – chữ đẹp đạt tỉ lệ rất thấp, cụ thể như sau:
ĐẦU NĂM
LỚP TSHS Xếp loại A
Xếp loại B
Xếp loại C
HỌC
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %
2013 – 2014
3A
29
4
13,8
10
34,5
15
51,7
2014 – 2015
3D
17
0
0
5
29,4
12
70,6
Nguyên nhân là do một số giáo viên trình bày bảng chưa khoa học, còn
hạn chế trong việc hướng dẫn học sinh các thao tác viết. Một số giáo viên chữ
viết còn chưa đúng, đẹp, chưa có kinh nghiệm rèn chữ cho học sinh. Chưa chấm
tác dạy học của giáo viên. Tìm ra nguyên nhân, hạn chế của việc giữ vở và rèn
chữ viết cho học sinh. Từ đó có những biện pháp tốt nhất giúp học sinh viết chữ
ngày càng đẹp hơn.
I. 3. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 3A, trường Tiểu học Võ Thị Sáu (Năm học 2013 – 2014).
Học sinh lớp 3D, trường Tiểu học Võ Thị Sáu (Học kì I, Năm học 2014 –
2015).
I. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu và áp dụng kết quả nghiên cứu tại trường Tiểu học
Võ Thị Sáu năm học 2013 – 2014 và Học kì I, Năm học 2014 – 2015.
- Học sinh dân tộc thiểu số lớp 3 trong trường Tiểu học Võ Thị Sáu, xã Ea
Bông, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.
- Cha mẹ học sinh dân tộc thiểu số đang sinh sống tại xã Ea Bông, huyện
Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.
- Giáo viên trong trường Tiểu học Võ Thị Sáu, xã Ea Bông, huyện Krông
Ana, tỉnh Đăk Lăk.
I. 5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát.
Phương pháp làm mẫu.
Phương pháp thuyết trình, giảng giải.
Phương pháp luyện tập thực hành.
Phương pháp điều tra viết.
Phương pháp thảo luận, phỏng vấn.
Phương pháp sử dụng trò chơi học tập.
II. PHẦN NỘI DUNG
II. 1. Cơ sở lý luận
Con người muốn làm được người tốt thì phải rèn luyện từng tí một. Nét
chữ cũng vậy, là học trò phải viết vở sạch đẹp, rõ ràng. Người xưa có câu: "Văn
là người, Chữ cũng là người". Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - Người tâm huyết
với sự nghiệp trồng người cũng đã từng nhắc nhở: “Chữ viết là biểu hiện của
tiếp thu kiến thức của môn học sẽ tốt hơn, tư duy phát triển nhanh hơn và dẫn
đến khả năng đọc, nói cũng tốt hơn.
Việc rèn chữ viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học
sinh những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, kỉ luật, óc thẩm mĩ. Chính
vì lí do đó năm 2002 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định 31 về việc
thay đổi mẫu chữ viết trong trường Tiểu học gồm có 4 kiểu chữ:
+ Kiểu chữ viết đứng - nét đều.
+ Kiểu chữ viết nghiêng - nét đều.
+ Kiểu chữ viết đứng - nét thanh nét đậm.
+ Kiểu chữ viết nghiêng - nét thanh nét đậm.
Trong đó có kiểu chữ viết nghiêng nét thanh - nét đậm được đặc biệt chú
ý, bởi khi viết kiểu chữ này là một nghệ thuật, nét chữ mềm mại, mượt mà hơn.
Tuy nhiên, sau mỗi lần thay đổi như vậy lại có những điều làm được và chưa
làm được. Thực trạng chữ viết của học sinh hiện nay còn chưa đúng mẫu. Các
em còn viết sai chính tả, viết quá chậm hay có những học sinh viết tốt, viết
nhanh, làm tính giỏi nhưng chữ viết lại chưa đẹp, trình bày chưa sạch sẽ, rõ ràng
thì không thể trở thành một học sinh giỏi toàn diện được. Điều đó ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng học tập của các em.
II. 2. Thực trạng
a. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi:
- Trong các hoạt động của nhà trường, Ban giám hiệu và đội ngũ giáo viên
luôn coi trọng việc rèn chữ viết cho học sinh, cũng như trong giáo viên. Mỗi
năm nhà trường đều tổ chức thi vở sạch – chữ đẹp để rèn luyện ý thức viết chữ
đẹp, phát huy tính tích cực giữ vở sạch – chữ đẹp cho học sinh và giáo viên.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
4
cẩu thả, viết còn chậm,… Nhiều em đi học không mang đầy đủ sách vở, không
có bút viết,….
b. Thành công, hạn chế
* Thành công:
- Qua thực tế giảng dạy, nghiên cứu và áp dụng các biện pháp rèn chữ viết
đẹp đã đạt nhiều kết quả khả quan. Bài viết của học sinh có tiến bộ rõ rệt. Các
em hạn chế mắc phải các lỗi cơ bản trong quá trình viết chữ.
* Hạn chế:
- Bên cạnh những thành công còn có nhiều hạn chế nhất định như mất
nhiều thời gian trong quá trình rèn chữ viết cho học sinh đòi hỏi giáo viên phải
nhiệt tình, kiên trì hướng dẫn, uốn nắn tỉ mỉ từng nét chữ cho các em.
- Học sinh tiểu học thường hiếu động, thiếu kiên trì, khó thực hiện được
các thao tác đòi hỏi sự khéo léo, cẩn thận khi rèn chữ viết đẹp.
c. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh:
Trong tất cả các môn học thì hầu như môn nào các em cũng phải viết bài
vào vở, mỗi lần viết bài là giáo viên có thể hướng dẫn và uốn nắn học sinh rèn
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
5
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
chữ viết. Qua đó các em được rèn chữ viết thường xuyên và liên tục sẽ trở thành
thói quen để mỗi lần cầm bút là các em có ý thức viết chữ cẩn thận và đẹp hơn.
Chữ viết đẹp không phải ngày một, ngày hai là các em có thể viết đẹp
được mà phải thường xuyên rèn luyện. Trong quá trình rèn luyện kịp thời phát
hiện những lỗi cơ bản để uốn nắn, chỉnh lại các nét, góp ý sửa chữa ngay từ
những khiếm khuyết đầu tiên, từ đó đưa ra cách thức cũng như phương pháp rèn
viết thạo. Chữ viết của học sinh còn liên quan đến tất cả các môn học khác.
Muốn cho học sinh viết chữ đúng, đẹp thì điều trước tiên người giáo viên phải
viết bảng đẹp, cẩn thận vì học sinh tiểu học dễ bắt chước “Thầy viết thế nào, trò
viết thế ấy”. Giáo viên phải nắm chắc quy trình và kĩ thuật viết chữ thường và
chữ hoa theo mẫu chữ hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Vận dụng linh
hoạt các phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Giáo viên
rà soát, phân loại đối tượng học sinh trong lớp để có những biện pháp rèn chữ
viết cho phù hợp. Giáo viên hướng dẫn từng thao tác, viết mẫu chữ chính xác,
thành thạo, kiên trì rèn kĩ thuật viết cho học sinh, viết từ đơn giản đến phức tạp.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
6
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
Đặc điểm học sinh lớp 3 là lứa tuổi liên kết giữa lớp 1, 2 với lớp 4, 5. Khả
năng viết chữ của các em còn chậm. Ở lớp 1, lớp 2 các em đã được học cấu tạo
chữ thường, chữ hoa nhưng do đặc điểm lứa tuổi dễ nhớ, mau quên của học sinh
tiểu học và không được rèn luyện thường xuyên nên khi lên lớp 3 thì phần lớn
học sinh viết chữ chưa đúng quy trình, sai về độ cao, khoảng cách của chữ, viết
chữ thiếu dấu, đặt dấu thanh chưa đúng vị trí, tốc độ viết không đảm bảo,… Các
tiết Chính tả và Tập viết thường mất nhiều thời gian vì các em viết bài quá
chậm. Do đó, việc học các môn trong chương trình gặp nhiều khó khăn.
Như vậy, muốn dạy cho học sinh kĩ năng viết chữ đúng yêu cầu, luyện cho
học sinh viết chữ nhanh và đẹp thì phải có kế hoạch, biện pháp cụ thể để rèn
luyện chữ viết cho các em. Việc rèn chữ viết cho học sinh dân tộc thiểu số nhằm
giúp các em ý thức cẩn thận trong khi viết, viết đúng chính tả, đảm bảo tốc độ
khi viết, để nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, người giáo viên luôn giữ
vai trò quyết định. Bên cạnh đó cần phải phối hợp với cha mẹ học sinh để có
của Tiếng Việt.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
7
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
Biện pháp 2: Hướng dẫn tư thế ngồi viết.
Để giúp học sinh viết được những nét chữ đúng mẫu và đẹp, tôi đã hướng
dẫn cả lớp tư thế ngồi viết: Ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tỳ ngực vào cạnh
bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở từ 25 – 30cm. Cánh tay trái đặt trên mặt bàn bên
trái lề vở, bàn tay trái tỳ vào mép vở, giữ vở không xê dịch khi viết. Cánh tay
phải cùng ở trên mặt bàn; khi viết bàn tay và cánh tay phải có thể dịch chuyển từ
trái sang phải và từ phải sang trái dễ dàng. Trước mỗi giờ viết bài, đặc biệt là giờ
học Tập viết, Chính tả tôi thường yêu cầu học sinh nhắc lại tư thế ngồi viết (Ví
dụ: Hỏi “Muốn viết chữ đẹp em phải ngồi như thế nào ?”). Dần dần, các em sẽ
có thói quen ngồi viết đúng tư thế.
Biện pháp 3: Hướng dẫn cách để vở.
Vở mở không gập đôi, không để vở quăn mép, để hoàn toàn trên mặt bàn,
hơi nghiêng về bên trái khoảng 15 độ so với cạnh bàn sao cho mép vở song song
với cánh tay.
Biện pháp 4: Hướng dẫn cách cầm bút.
Một việc cũng hết sức quan trọng giúp cho việc viết chữ đẹp là cách cầm
bút và đặt vở trên bàn. “Khi viết, cầm bút bằng 3 ngón tay của bàn tay phải:
ngón trỏ, ngón cái và ngón giữa. Đầu ngón trỏ đặt trên thân bút, đầu ngón cái
giữ bên trái thân bút, đầu ngón giữa tựa vào bên phải thân bút. Khi viết 3 ngón
tay này giữ bút, điều khiển bút dịch chuyển. Ngoài ra cần sự phối hợp của cổ
tay, cánh tay, khuỷu tay khi viết”. Tôi cũng lưu ý các em cầm bút vừa phải. Vì
Từ những nét cơ bản này học sinh viết sang các con chữ rất dễ dàng.
* Ví dụ:
+ Chữ cái a gồm 2 nét: nét cong kín kết hợp với nét móc ngược (móc
phải).
+ Chữ cái h gồm 2 nét: nét khuyết trên kết hợp với nét móc hai đầu.
Bên cạnh đó tôi giải thích các thuật ngữ như:
- Điểm đặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái. Điểm đặt
bút có thể nằm trên đường kẻ ngang hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
- Điểm dừng bút: Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái. Điểm
dừng bút có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
Biện pháp 7: Giúp học sinh nắm được độ cao và cách viết các con chữ
theo nhóm.
Mẫu chữ cái viết thường: (chia thành 5 nhóm)
+ Nhóm 1: (1 đơn vị) o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư, e, ê, c, m, n, v, x, i
+ Nhóm 2: (1,25 đơn vị) r, s nhóm chữ có nét tương đồng là nét cong, nét
móc có vòng xoắn.
+ Nhóm 3: (1,5 đơn vị) t
+ Nhóm 4: (2 đơn vị) d, đ, p, q
+ Nhóm 5: (2,5 đơn vị) b, g, h, k, l, y nhóm chữ cái có nét khuyết.
Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn
vị
Mẫu chữ cái viết hoa: (chia thành 6 nhóm)
+ Nhóm 1: A, Ă, Â, N, M
+ Nhóm 2: B, D, Đ, P, R
+ Nhóm 3: C, G, S, L, E, Ê
+ Nhóm 4: I, K, V, H, T
+ Nhóm 5: O, Ô, Ơ, Q
+ Nhóm 6: U, Ư, Y, X
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
khỉu, khỷu, khủi, khửu; khuya ≠ khua, khia, khya; nguệch ngoạc ≠ nguyệch
ngoặc, nghệch ngoạt; quét ≠ quyét; quyết ≠ quyếc, quếc, quyêt, quiết, qyết; ...
Đối với những em viết cẩu thả, chưa chịu khó luyện chữ, tôi kiểm tra sát
sao, giao bài luyện tập cụ thể cho các em, tôi viết mẫu cho các em luyện tập.
Việc viết mẫu của tôi là một thao tác trực quan trên bảng lớp giúp học sinh nắm
bắt được quy trình viết từng nét của từng chữ cái. Do vậy, tôi phải viết chậm,
đúng theo quy tắc, vừa viết vừa giảng giải, phân tích cho học sinh. Khi viết mẫu,
tôi tạo điều kiện để học sinh nhìn thấy tay của tôi viết từng nét chữ.
Học sinh viết chậm, viết sai hàng ngày, thời gian đầu tôi cho học sinh viết
thơ bốn chữ hoặc năm chữ với số lượng ít sau nâng dần lên viết thơ lục bát, đoạn
văn. Sau mỗi bài viết tôi đánh giá sản phẩm của học sinh, trực tiếp chỉ chỗ sai
cho học sinh từ cách trình bày đến điểm đặt bút và dừng bút của các con chữ.
Đối với học sinh viết chữ đẹp rồi thì tôi vẫn hướng dẫn các em kĩ thuật cầm bút,
lia bút, rê bút để chữ viết đẹp ở mức độ cao hơn là có nét thanh nét đậm. Ngoài
luyện chữ viết theo mẫu, tôi sưu tầm thêm các mẫu chữ đẹp, chữ sáng tạo cho
học sinh tham khảo và hướng dẫn học sinh luyện viết, khơi nguồn cảm hứng yêu
thích luyện viết chữ đẹp cho các em. Xây dựng nguồn lực vững chãi để tham gia
các hội thi viết chữ đẹp cấp trường, cấp huyện,...
Biện pháp 8: Kĩ thuật rèn chữ viết cho học sinh.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
10
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
Khi rèn cho học sinh viết chữ tôi hướng dẫn cho các em phân biệt rõ độ
cao, độ rộng, khoảng cách các con chữ (Khoảng cách giữa các chữ bằng khoảng
cách một con chữ, khoảng cách giữa các con chữ bằng 1/2 độ rộng của chữ o) và
ngay từ đầu giúp các em viết đúng cỡ các con chữ đó. Khi viết, viết liền mạch,
em ngồi viết liền trong một thời gian dài dễ gây mỏi tay và chán. Cần thường
xuyên tổ chức các trò chơi thi viết chữ đẹp trong mỗi tiết học. Tổ chức thi “Giữ
vở sạch, viết chữ đẹp” trong từng tháng, tạo sự hứng thú rèn luyện cho học sinh.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
11
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
Để thực hiện các giải pháp, biện pháp trên đòi hỏi giáo viên phải kiên trì,
rèn luyện hàng ngày cho học sinh, uốn nắn và kịp thời giúp đỡ học sinh, lập kế
hoạch rèn chữ viết cho học sinh một cách phù hợp với từng đối tượng học sinh
trong lớp.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp, biện pháp tôi đã thực hiện trong đề tài có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, chúng là cầu nối để tạo lên sự thành công, là một quá trình rèn
luyện thường xuyên và bền bỉ mang lại hiệu quả trong việc rèn chữ viết đẹp cho
học sinh. Mỗi giải pháp, biện pháp trong đề tài tác động qua lại và hỗ trợ với
nhau nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh dân tộc thiểu số tại lớp
tôi. Góp phần hình thành nên các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và học tốt tất cả
các môn học.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
- Kết quả khảo nghiệm: Nắm được vai trò quan trọng của việc rèn chữ viết
cho học sinh và phối hợp khéo léo các biện pháp trên vào quá trình rèn chữ viết
cho học sinh dân tộc thiểu số, kết quả cụ thể như sau:
NĂM HỌC
2013 – 2014
Tháng 9
37,9
13
44,8
16
55,2
18
62,1
20
69,0
20
69,0
Xếp loại B
SL Tỉ lệ %
11
37,9
11
37,9
10
34,5
9
31,1
8
27,6
7
24,1
6
20,7
7
24,1
Tỉ lệ %
0
2
5
7
0
11,8
29,4
41,2
7
6
5
5
41,2
35,3
29,4
29,4
10
9
7
5
58,8
52,9
41,2
quả đó đã động viên và kích lệ cả cô và trò tiếp tục rèn luyện chữ viết trong học
kì II này để tỉ lệ vở sạch – chữ đẹp của các em cao hơn nữa.
- Giá trị khoa học: Với mục tiêu phát hiện những yếu kém về chữ viết của
học sinh dân tộc thiểu số, khắc phục những khó khăn trong học tập, từng bước
nâng cao chất lượng rèn chữ viết đẹp cho học sinh dân tộc thiểu số. Sau khi
nghiên cứu và thực hiện các biện pháp trên cho thấy chất lượng vở sạch – chữ
đẹp của học sinh dân tộc thiểu số đã được nâng cao dần.
II. 4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
- Sau một thời gian kiên trì tìm ra những giải pháp trong quá trình rèn
luyện chữ viết cho học sinh dân tộc thiểu số đã nâng cao chất lượng chữ viết cho
từng đối tượng học sinh lớp tôi giảng dạy. Việc giữ vở sạch – viết chữ đẹp của
học sinh có sự tiến bộ rõ rệt và thu được kết quả khả quan: 01 em đạt giải Nhì,
01 em đạt giải Ba và 02 em công nhận chữ viết đẹp cấp trường. Sự tiến bộ rõ rệt
về chữ viết của các em đã thúc đẩy các em nỗ lực phấn đấu viết chữ đẹp.
- Kết quả khảo nghiệm đã cho thấy hiệu quả của đề tài trong việc rèn chữ
viết cho học sinh không phải ngày một, ngày hai mà có được. Mà đó là kết quả
của một quá trình dày công khổ luyện của cả cô và trò. Việc giữ vở sạch, viết
chữ đẹp của học sinh dân tộc thiểu số ở lớp tôi đã có sự tiến bộ rõ rệt: chữ viết
tương đối đều, bài viết sạch đẹp, tốc độ viết của học sinh đã nhanh hơn, tỉ lệ viết
đúng, viết đẹp của học sinh cũng nâng lên, tình trạng viết sai lỗi chính tả còn ít.
Một số em có khả năng viết chữ nghiêng, chữ sáng tạo có nét thanh nét đậm.
- Giá trị khoa học mang lại khi thực hiện đề tài: nghiên cứu và áp dụng
thực tế rèn luyện chữ viết hàng ngày có vai trò vô cùng quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 3 nói riêng và học sinh bậc tiểu
học nói chung. Bên cạnh đó nâng cao khả năng đọc, viết Tiếng Việt cho học sinh
dân tộc thiểu số.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III. 1. Kết luận
Mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở
và hiệu quả cao hơn. Để có được nét chữ đẹp, ngoài năng khiếu bẩm sinh, mỗi
người phải trải qua quá trình kiên trì, chăm chỉ rèn chữ viết. Bên cạnh đó còn thể
hiện được ý thức của con người trong quá trình học tập và rèn luyện,….
III. 2. Kiến nghị
- Đối với nhà trường: Tổ chức thường xuyên các cuộc thi viết chữ đẹp cho
giáo viên và học sinh. Không nên giới hạn số lượng thí sinh dự thi để giáo viên
và học sinh có cơ hội giao lưu, học hỏi và thể hiện năng lực bản thân. Cần có
khen thưởng, động viên, khuyến khích với giáo viên và học sinh có tiến bộ trong
quá trình giảng dạy và rèn luyện chữ viết. Về cơ sở vật chất: Bàn ghế phải phù
hợp với học sinh theo từng lứa tuổi.
- Đối với giáo viên: Cần phải rèn kĩ năng đọc, viết thật chuẩn, thường
xuyên tự học hỏi, rèn luyện mình để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi
theo. Giáo viên phải kiên trì, vượt khó, tìm tòi, sáng tạo và có bản lĩnh, có tinh
thần trách nhiệm cao, say mê với công việc, tận tụy với học sinh.
Mỗi giáo viên phải tự rèn luyện mình từ chữ viết ở vở, ở bảng, đến tư thế
ngồi viết, cách cầm bút để làm gương trước học sinh. Giáo viên phải đánh giá
bài viết thường xuyên cho học sinh, kịp thời khuyến khích và động viên học sinh
theo đúng tinh thần của Thông tư 30/2014. Phải kết hợp và sử dụng các phương
pháp rèn luyện chữ viết cụ thể, phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp
mình, tuân theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Từ đó giúp
các em: Viết chữ đúng quy trình và kĩ thuật, nhớ được độ cao, khoảng cách,
điểm đặt bút, dừng bút của từng con chữ, vị trí đánh dấu thanh,... viết đúng, viết
nhanh, viết đẹp.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
14
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
CẤP TRƯỜNG
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CẤP HUYỆN
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
16
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
18
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………...2
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài…………………………………………....3
I.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………....3
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu……………………………………………3
I.5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………...3
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận……………………………………………………………3
II.2. Thực trạng………………………………………………………………4
a. Thuận lợi, khó khăn……………………………………………………….4
b. Thành công, hạn chế………………………………………………………5
c. Mặt mạnh, mặt yếu………………………………………………………...5
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động…………………………………….6
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra………….6
II.3. Giải pháp, biện pháp…………………………………………………….7
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp…………………………………………7
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp……………………7
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp……………………………..12
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp………………………………12
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu…………..12
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu…………………………………………………………………………..13
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Trước khi thực hiện đề tài tôi nhận thấy chữ viết của học sinh nơi tôi công
tác, là trường đặc thù (học sinh dân tộc Ê-đê chiếm 97,7%) đa số học sinh trong
trường chưa thật sự chú ý vào việc rèn chữ, giữ vở. Tỉ lệ học sinh viết chữ đẹp
còn ít, hầu hết các em chưa nắm vững quy trình viết chữ, sách vở còn bị rách,
nhàu nát, quăn góc và bẩn. Chữ viết tuỳ tiện, sai chính tả, viết thiếu dấu, nét cao,
nét thấp, viết hoa chưa đúng mẫu,.... Trong đó chữ viết của học sinh lớp tôi khi
mới nhận lớp chất lượng vở sạch – chữ đẹp đạt tỉ lệ rất thấp, cụ thể như sau:
ĐẦU NĂM
LỚP TSHS Xếp loại A
Xếp loại B
Xếp loại C
HỌC
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %
2013 – 2014
3A
29
4
13,8
10
34,5
15
51,7
2014 – 2015
3D
17
0
0
5
29,4
12
trình độ chuyên môn của bản thân.
Nhiệm vụ chủ yếu để giúp học sinh rèn chữ viết đẹp là: Nghiên cứu cơ sở
lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề rèn chữ viết đẹp cho học sinh
dân tộc thiểu số. Đánh giá đúng thực trạng chữ viết của học sinh, cũng như công
tác dạy học của giáo viên. Tìm ra nguyên nhân, hạn chế của việc giữ vở và rèn
chữ viết cho học sinh. Từ đó có những biện pháp tốt nhất giúp học sinh viết chữ
ngày càng đẹp hơn.
I. 3. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 3A, trường Tiểu học Võ Thị Sáu (Năm học 2013 – 2014).
Học sinh lớp 3D, trường Tiểu học Võ Thị Sáu (Học kì I, Năm học 2014 –
2015).
I. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu và áp dụng kết quả nghiên cứu tại trường Tiểu học
Võ Thị Sáu năm học 2013 – 2014 và Học kì I, Năm học 2014 – 2015.
- Học sinh dân tộc thiểu số lớp 3 trong trường Tiểu học Võ Thị Sáu, xã Ea
Bông, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.
- Cha mẹ học sinh dân tộc thiểu số đang sinh sống tại xã Ea Bông, huyện
Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.
- Giáo viên trong trường Tiểu học Võ Thị Sáu, xã Ea Bông, huyện Krông
Ana, tỉnh Đăk Lăk.
I. 5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát.
Phương pháp làm mẫu.
Phương pháp thuyết trình, giảng giải.
Phương pháp luyện tập thực hành.
Phương pháp điều tra viết.
Phương pháp thảo luận, phỏng vấn.
Phương pháp sử dụng trò chơi học tập.
II. PHẦN NỘI DUNG
II. 1. Cơ sở lý luận
nhằm trang bị cho học sinh một công cụ để giao tiếp, phát triển tư duy là cơ sở
cho việc học tập các môn học. Trong bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết chúng ta
không quá coi trọng kĩ năng này mà cũng không coi nhẹ kĩ năng khác. Chúng
luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Một học sinh có kĩ năng viết nhanh, đẹp thì việc
tiếp thu kiến thức của môn học sẽ tốt hơn, tư duy phát triển nhanh hơn và dẫn
đến khả năng đọc, nói cũng tốt hơn.
Việc rèn chữ viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học
sinh những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, kỉ luật, óc thẩm mĩ. Chính
vì lí do đó năm 2002 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định 31 về việc
thay đổi mẫu chữ viết trong trường Tiểu học gồm có 4 kiểu chữ:
+ Kiểu chữ viết đứng - nét đều.
+ Kiểu chữ viết nghiêng - nét đều.
+ Kiểu chữ viết đứng - nét thanh nét đậm.
+ Kiểu chữ viết nghiêng - nét thanh nét đậm.
Trong đó có kiểu chữ viết nghiêng nét thanh - nét đậm được đặc biệt chú
ý, bởi khi viết kiểu chữ này là một nghệ thuật, nét chữ mềm mại, mượt mà hơn.
Tuy nhiên, sau mỗi lần thay đổi như vậy lại có những điều làm được và chưa
làm được. Thực trạng chữ viết của học sinh hiện nay còn chưa đúng mẫu. Các
em còn viết sai chính tả, viết quá chậm hay có những học sinh viết tốt, viết
nhanh, làm tính giỏi nhưng chữ viết lại chưa đẹp, trình bày chưa sạch sẽ, rõ ràng
thì không thể trở thành một học sinh giỏi toàn diện được. Điều đó ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng học tập của các em.
II. 2. Thực trạng
a. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi:
- Trong các hoạt động của nhà trường, Ban giám hiệu và đội ngũ giáo viên
luôn coi trọng việc rèn chữ viết cho học sinh, cũng như trong giáo viên. Mỗi
năm nhà trường đều tổ chức thi vở sạch – chữ đẹp để rèn luyện ý thức viết chữ
đẹp, phát huy tính tích cực giữ vở sạch – chữ đẹp cho học sinh và giáo viên.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
thu hoạch,...
- Học sinh dân tộc thiểu số sử dụng Tiếng Việt chưa thành thạo nên trong
quá trình viết bài các em đều mắc lỗi về độ cao của từng con chữ, điểm đặt bút
và điểm dừng bút chưa đúng, viết thiếu dấu, sai chính tả, chữ viết chưa đều, viết
cẩu thả, viết còn chậm,… Nhiều em đi học không mang đầy đủ sách vở, không
có bút viết,….
b. Thành công, hạn chế
* Thành công:
- Qua thực tế giảng dạy, nghiên cứu và áp dụng các biện pháp rèn chữ viết
đẹp đã đạt nhiều kết quả khả quan. Bài viết của học sinh có tiến bộ rõ rệt. Các
em hạn chế mắc phải các lỗi cơ bản trong quá trình viết chữ.
* Hạn chế:
- Bên cạnh những thành công còn có nhiều hạn chế nhất định như mất
nhiều thời gian trong quá trình rèn chữ viết cho học sinh đòi hỏi giáo viên phải
nhiệt tình, kiên trì hướng dẫn, uốn nắn tỉ mỉ từng nét chữ cho các em.
- Học sinh tiểu học thường hiếu động, thiếu kiên trì, khó thực hiện được
các thao tác đòi hỏi sự khéo léo, cẩn thận khi rèn chữ viết đẹp.
c. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh:
Trong tất cả các môn học thì hầu như môn nào các em cũng phải viết bài
vào vở, mỗi lần viết bài là giáo viên có thể hướng dẫn và uốn nắn học sinh rèn
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
23
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
chữ viết. Qua đó các em được rèn chữ viết thường xuyên và liên tục sẽ trở thành
thói quen để mỗi lần cầm bút là các em có ý thức viết chữ cẩn thận và đẹp hơn.
chiều cao của học sinh không đồng đều nên bàn ghế chưa hoàn toàn phù hợp với
tất cả các em.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Đối với bậc tiểu học, yêu cầu cơ bản tối thiểu của học sinh là đọc thông,
viết thạo. Chữ viết của học sinh còn liên quan đến tất cả các môn học khác.
Muốn cho học sinh viết chữ đúng, đẹp thì điều trước tiên người giáo viên phải
viết bảng đẹp, cẩn thận vì học sinh tiểu học dễ bắt chước “Thầy viết thế nào, trò
viết thế ấy”. Giáo viên phải nắm chắc quy trình và kĩ thuật viết chữ thường và
chữ hoa theo mẫu chữ hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Vận dụng linh
hoạt các phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Giáo viên
rà soát, phân loại đối tượng học sinh trong lớp để có những biện pháp rèn chữ
viết cho phù hợp. Giáo viên hướng dẫn từng thao tác, viết mẫu chữ chính xác,
thành thạo, kiên trì rèn kĩ thuật viết cho học sinh, viết từ đơn giản đến phức tạp.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
24
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
Đặc điểm học sinh lớp 3 là lứa tuổi liên kết giữa lớp 1, 2 với lớp 4, 5. Khả
năng viết chữ của các em còn chậm. Ở lớp 1, lớp 2 các em đã được học cấu tạo
chữ thường, chữ hoa nhưng do đặc điểm lứa tuổi dễ nhớ, mau quên của học sinh
tiểu học và không được rèn luyện thường xuyên nên khi lên lớp 3 thì phần lớn
học sinh viết chữ chưa đúng quy trình, sai về độ cao, khoảng cách của chữ, viết
chữ thiếu dấu, đặt dấu thanh chưa đúng vị trí, tốc độ viết không đảm bảo,… Các
tiết Chính tả và Tập viết thường mất nhiều thời gian vì các em viết bài quá
chậm. Do đó, việc học các môn trong chương trình gặp nhiều khó khăn.
Như vậy, muốn dạy cho học sinh kĩ năng viết chữ đúng yêu cầu, luyện cho
học sinh viết chữ nhanh và đẹp thì phải có kế hoạch, biện pháp cụ thể để rèn
dẫn học sinh về tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở. Bám sát yêu cầu đó, tôi
luôn chuẩn bị chu đáo trong quá trình rèn chữ viết cho học sinh.
- Về thái độ: Học sinh có ý thức cẩn thận, tích cực, tự giác, hứng thú trong
học tập, nắn nót khi viết bài, biết giữ gìn sách vở sạch sẽ cũng như sự trong sáng
của Tiếng Việt.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
25