Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ) - Pdf 47

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN HONG NAM

TộI Sử DụNG MạNG MáY TíNH, VIễN THÔNG,
PHƯƠNG TIệN ĐIệN Tử THựC HIệN HàNH VI CHIếM ĐOạT TàI SảN
theo quy định của pháp LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN HONG NAM

TộI Sử DụNG MạNG MáY TíNH, VIễN THÔNG,
PHƯƠNG TIệN ĐIệN Tử THựC HIệN HàNH VI CHIếM ĐOạT TàI SảN
theo quy định của pháp LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v T tng Hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: GS.TS NGC QUANG


Những khái niệm có liên quan ........................................................ 10

1.1.1. Khái niệm về mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử......... 10
1.1.2. Khái niệm về chiếm đoạt tài sản ........................................................ 11
1.1.3. Khái niệm về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ................. 13
1.2.

Đặc điểm của tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phƣơng
tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ............................ 18

1.3.

Bản chất của tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phƣơng
tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản........................... 20

1.4.

Phân biệt tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phƣơng
tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với những
tội khác chiếm đoạt tài sản .............................................................. 21

1.4.1. Phân biệt Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS) .............................. 21
1.4.2. Phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS)......... 22
1.4.3. Phân biệt với các tội xâm phạm trong lĩnh vực công nghệ thông
tin, mạng viễn thông ........................................................................... 24
1.5.

Sự phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội sử dụng
mạng máy tính, mạng viễn thông, phƣơng tiện điện tử thực

TÍNH, VIỄN THÔNG, PHƢƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN
HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN ............................................... 85
3.1.

Sự cần thiết, cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật
hình sự về xử lý đối với tội phạm sử dụng mạng máy tính,
viễn thông, phƣơng tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản ........................................................................................ 85

3.1.1. Tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương
tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ................................. 85


3.1.2. Nguyên nhân của tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính,
viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt
tài sản .................................................................................................. 86
3.1.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội
phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản .................................................. 87
3.2.

Các giải pháp hoàn thiện luật hình sự ............................................ 90

3.2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội sử dụng mạng
máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản ........................................................................... 90
3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự 2015 về tội sử dụng mạng
máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản ........................................................................... 94
3.3.

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TNHS:

Trách nhiệm hình sự

VKSND:

Viện Kiểm sát nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thực tiễn đời sống xã hội trên thới giới cho thấy loại tội phạm trong
lĩnh vực CNTT đang trở thành mối nguy hại lớn trên thế giới gây thiệt hại
mỗi năm khoảng 400 tỷ USD, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy
thu được. Cứ 14 giây lại có một vụ liên quan đến tấn công mạng, Interpol
đánh giá loại tội phạm này nguy hiểm thứ 2 sau tội phạm khủng bố [50].
Ở nước ta nói chung, một trong những quốc gia có tốc độ phát triển cao
nhất thế giới trên lĩnh vực CNTT, với hàng chục triệu người sử dụng thường
xuyên đang là một “miếng mồi ngon” cho bọn tội phạm trong lĩnh vực CNTT
tấn công. Thời gian gần đây, lực lượng công an Việt Nam đã triệt phá hàng
loạt các vụ án do tội phạm trong lĩnh vực CNTT thực hiện, qua các vụ án này
cho thấy loại tội phạm này ngày càng công khai, táo tợn và tinh vi hơn. Sự gia
tăng cả về số lượng, mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này thực sự đang rất
đáng báo động với rất nhiều vụ tấn công, cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động

còn gặp nhiều khó khăn. Khi đã phát hiện tội phạm và đưa ra xử lý lại thiếu các
cơ sở pháp lý để áp dụng. Hơn nữa quy định của BLHS còn nhiều điểm chưa
được hoàn thiện để phù hợp hơn trong thực tế đấu tranh với loại tội phạm này
khiến cho việc điều tra, xử lý loại tội phạm này còn gặp nhiều khó khăn. Khi
đưa ra xét xử thì cũng chưa thống nhất về định tội danh và một số trường hợp
còn xử lý chưa nghiêm đối với các hành vi của bị cáo. Nguyên nhân của những
hạn chế trên là do nhận thức về tội phạm tại điều 226b là chưa đầy đủ, thiếu
những văn bản cụ thể hướng dẫn chi tiết những quy định của điều luật này. Do
đó việc nghiên cứu tội phạm quy định tại điều 226b là yêu cầu có tính cấp thiết.
Vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)”,
làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện
hành vi chiếm đoạt tài là tội phạm phi truyền thống, ra đời cùng với nền công
nghệ cao và có khả năng gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội không bị giới hạn
về không gian. Vậy nên, các nước có nền khoa học công nghệ tiên tiến hiện
nay đã dành sự quan tâm đáng kể đến việc xây dựng quy phạm pháp luật làm
cơ sở đấu tranh chống tội phạm này, đặc biệt ở Liên minh châu Âu và Mỹ [68].
Tuy nhiên, những văn bản pháp luật đã được xây dựng hầu như quy định chế
tài ít nghiêm khắc đối với tội phạm này hoặc điều chỉnh một phạm vi rộng,
không phân biệt giữa tội phạm trong lĩnh vực tin học với các tội phạm truyền
thống có liên quan đến tin học… Cho đến nay, có rất ít công trình khoa học
tại Việt Nam nghiên cứu về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương
tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tác giả sắp xếp theo từng
nhóm công trình có liên quan đến luận văn như sau:

ngân hàng” của tác giả TS. Lê Đăng Doanh, Tạp chí Tòa án nhân dân số 17
năm 2006; Lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông để thu lợi cước điện thoại trái
phép - có thể bị truy tố về tội Kinh doanh trái phép của tác giả Trần Vũ Hải,
Tạp chí Tòa án nhân dân số 22 năm 2004; “Về hành vi lắp đặt, sử dụng thiết
bị viễn thông trái phép để thu cước điện thoại - phạm tội gì” PGS.TS Dương
Tuyết Miên, Tạp chí Tòa án nhân dân số 17 năm 2004… Đề cập tới tội phạm
chiếm đoạt tài sản bằng công nghệ cao có các công trình như: Tội phạm công
nghệ cao dưới góc nhìn của "cảnh sát bàn phím" của... Thiếu tướng Nguyễn
Hòa Bình, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát đăng trên Công an nhân
dân online. là người chỉ đạo lực lượng cảnh sát phòng chống tội phạm công
nghệ cao; Nhận diện tội phạm sử dụng công nghệ cao trong quản lý nhà nước

4


và một số giải pháp Đàm Thanh Thế PGS.TS, Thư ký, Văn phòng Chính phủ
đăng trên tạp chí điện tử Cảnh sát nhân dân Chuyên đề Thông tin Tô ̣i pha ̣m
học - Số 3/2015; “Tội phạm công nghệ thông tin và sự khác biệt giữa tội
phạm công nghệ thông tin với tội phạm thường” của tác giả Đặng Trung Hà,
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3 năm 2009 chủ yếu so sánh tội phạm có sử
dụng thiết bị công nghệ cao và tội phạm truyền thống...
Có thể nhận thấy tất các các công trình trên không đề cập cụ thể hay
mô tả chi tiết về các hành vi phạm tội cụ thể liên quan đến sử dụng mạng máy
tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài mà chỉ
nghiên cứu tội phạm CNTT dưới góc độ chung chung, đặc biệt là công trình
nghiên cứu về tội phạm sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện
tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự
Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ). Để góp phần làm rõ
thêm dấu hiệu pháp lý đặc trưng của loại tội phạm này, tạo nên sự thống nhất
trong cách hiểu làm tiền đề cho hoạt động nghiên cứu và áp dụng pháp luật.

Thứ tư, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản;
Thứ năm, đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội sử dụng mạng máy
tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
trong mối tương quan với công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý
luận về tội phạm lĩnh vực CNTT được quy định trong BLHS năm 1999 và tội
sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định trong BLHS sửa đổi, bổ sung
năm 2009; BLHS 2015 và thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về
tội phạm này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
6


Trong Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 có 05
tội danh có liên quan đến một số hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng Internet hoặc thiết bị số. Tuy nhiên, chỉ có 01 tội danh trong lĩnh
vực này có liên quan đến chiếm đoạt tài sản tại Điều 226b: Tội sử dụng mạng
máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản. Do vậy, luận văn tập trung vào nghiên cứu những quy định
về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 226b BLHS..
Phạm vi thời gian: các số liệu thống kê sử dụng trong luận văn được
tiến hành thu thập từ năm 2012 đến tháng 6 năm 2017.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích tài
liệu: sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tội sử dụng mạng máy

vi chiếm đoạt tài sản.
Thứ hai: Việc nghiên cứu đề tài góp phần làm cơ sở lý luận khoa học
và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội phạm quy định tại điều 226b BLHS.
Thứ ba: Phân tích một cách toàn diện các quy định trong BLHS và văn
bản hướng dẫn thi hành về tội phạm quy định tại Điều 226b BLHS. Tìm ra
những hạn chế trong quy định pháp luật về điều 226b BLHS.
6.2. Về mặt lập pháp
Thứ nhất: Nêu được quy định của điều 226b BLHS năm 1999, sửa đổi,
bổ sung năm 2009 và những điểm mới tại điều 290 BLHS năm 2015.
Thứ hai: Đưa ra các mặt còn hạn chế của điều 226b và khó khăn,
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
Thứ ba: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại điều 226b và một số
nội dung để hoàn thiện BLHS 2015 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290).

8


6.3. Về mặt thực tiễn
Thứ nhất: Đánh giá thực trạng của việc thực thi các quy định về tội sử
dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, mà cụ thể là điều 226b BLHS; đề xuất
những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật xử lý đối với tội
phạm này nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm
này trên thực tế.
Thứ hai: Là tài liệu tham khảo cho các cán bộ, công chức ngành Công
an, Kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án về tội sử dụng mạng
máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài
sản; tài liệu tham khảo cho sinh viên đại học, học viên cao học; tài liệu tuyên
truyền để phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật sử dụng

mạng được thiết lập để liên kết các máy tính trong một khu vực như trong một
toà nhà, một khu nhà).
Viễn thông: là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu,
chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng
vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác [41, tr.1].
Mạng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng
đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông [41, tr.1] (là dịch vụ gửi,
truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch
vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng), dịch vụ
ứng dụng viễn thông (là dịch vụ sử dụng đường truyền dẫn viễn thông hoặc
mạng viễn thông để cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực công nghệ
thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa,
thông tin, y tế, giáo dục và lĩnh vực khác) [41, tr.1].
10


Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện,
điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc
công nghệ tương tự [37, tr.1]. Theo khái niệm này thì “Phương tiện điện tử” đã
bao gồm cả thiết bị số vì theo quy định tại khoản 11 Điều 4 Luật Công nghệ
Thông tin: Thiết bị số: Là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu
phát sóng vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất,
truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [38, tr.1]; Những
thiết bị này phải đáp ứng được các yêu cầu là tác động được vào mạng máy
tính, mạng viễn thông hoặc tác động vào được thiết bị số, phương tiện điện tử
khác để chiếm đoạt được tài sản.
1.1.2. Khái niệm về chiếm đoạt tài sản
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt bao gồm 8 tội phạm
được quy định từ điều 133 đến điều 140 BLHS. Các tội này có cùng đặc điểm
xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác bằng hành vi chiếm đoạt với

Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt phải còn nằm
trong sự quản lý của chủ sở hữu. Thiếu đặc điểm này, thì tài sản không phải là
đối tượng của hành vi chiếm đoạt, như trường hợp tài sản của chủ sở hữu bị
thất lạc. Vì vậy, chỉ khi tài sản còn đang do chủ sở hữu quản lý mới là đối
tượng của hành vi chiếm đoạt, mới làm mất khả năng chiếm giữ, sử dụng,
định đoạt tài sản của chủ sở hữu.
Chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có chủ đích nên
lỗi của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là cố ý trực tiếp.
Người phạm tội biết tài sản thuộc sở hữu của người khác và đang trong sự
quản lý của họ, nhưng vẫn thực hiện hành vi chiếm đoạt và mong muốn biến
tài sản đó thành tài sản của mình hoặc người khác mà mình quan tâm. Vì vậy,
những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người
quản lý hay không có mục đích chiếm đoạt tài sản đều không phải là hành vi
chiếm đoạt. Những trường hợp này không CTTP hoặc sẽ CTTP khác chứ

12


không phải các tội chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt tài sản phải thỏa
mãn những đặc điểm trên, nếu thiếu một trong các đặc điểm đó sẽ không phải
là hành vi chiếm đoạt và do đó không cấu thành các tội xâm phạm sở hữu có
tính chất chiếm đoạt. Trên thực tế, xác định hành vi chiếm đoạt không phải
trường hợp nào cũng đơn giản. Từ việc xác định không đúng hành vi chiếm
đoạt có thể dẫn đến xác định sai lầm giữa phạm tội với vi phạm, giữa tội
phạm này với tội phạm khác.
Như vậy, chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp
luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người
hoặc cho người khác mà mình quan tâm [28, tr.230].
1.1.3. Khái niệm về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

đều bị coi là tội phạm công nghệ thông tin hay tội phạm tin học, đặc biệt là
những tội sử dụng máy tính, mạng máy tính làm công cụ, phương tiện phạm
tội, ví dụ như tội đánh bạc trên mạng, tội cung cấp các dịch vụ mại dâm trực
tuyến, tội truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy trên mạng...Một trong những khái
niệm rộng nhất về tội phạm máy tính thể hiện quan điểm theo nghĩa rộng này
được Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đưa ra như sau: "Tội phạm trong lĩnh vực công
nghệ thông tin là bất cứ các hành vi vi phạm pháp luật hình sự nào có liên
quan đến việc sử dụng các hiểu biết về công nghệ máy tính trong việc phạm
tội, điều tra hoặc xét xử” [30, tr.27]. Theo khái niệm này thì bất cứ tội phạm
nào cũng có thể được xếp vào loại tội phạm máy tính vì chỉ cần trong quá
trình điều tra các điều tra viên sử dụng máy tính để tìm kiếm thông tin cũng
thuộc phạm vi điều chỉnh của khái niệm.
Quan điểm hiểu tội phạm tin học theo phạm vi rộng cũng vấp phải một
vấn đề khó khăn đó là cụ thể hoá các hành vi phạm tội cụ thể từ đó xác định
tội danh cụ thể cho các hành vi này. Đây là công việc không dễ dàng vì khi
định tội danh xét về bản chất nhiều tội danh lại trùng với các tội danh truyền

14


thống như tội lừa đảo, đánh bạc..., có khác chăng ở đây là việc sử dụng công
cụ là mạng máy tính mà thôi [14]. Các nhà khoa học theo quan điểm này cho
rằng, Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết
bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là việc một người hoặc một nhóm
người sử dụng thiết bị điện tử công nghệ cao qua các mạng máy tính, mạng
viễn thông để thực hiện hành vi lén lút hoặc lừa đảo nhằm mục đích chiếm
đoạt tài sản của người khác. Quan điểm này tiếp cận tội phạm từ vấn đề bản
chất. Đó là người phạm tội sử dụng các phương tiện nêu trên để thực hiện
hành vi nhằm mục đích cuối cùng là chiếm đoạt được tài sản. Nhưng quan
điểm này cũng vấp phải một vấn đề khó khăn đó là cụ thể hoá các hành vi

phạm truyền thống sử dụng thành tựu công nghệ thông tin đem lại thực hiện
hành vi phạm tội, việc truy tìm dấu vết, chính sách ngăn ngừa, đấu tranh đối
với hành vi này sẽ không có gì khác so với các phương pháp xử lý truyền
thống, trong khi về bản chất thì các hành vi phạm tội này khác hẳn, như kẻ
phạm tội tống tiền trên mạng trong và sau khi thực hiện hoàn toàn có thể xoá
sạch toàn bộ dấu vết tội phạm bằng kỹ thuật công nghệ tin học gây không ít
khó khăn cho hoạt động thu thập dấu vết nếu các phương pháp thu thập, bảo
quản chứng cứ không thay đổi phù hợp.
Như vậy, mỗi quan điểm về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông
tin đều có những khiếm khuyết nhất định, vì vậy, trên thế giới hiện nay vẫn
chưa có được một khái niệm về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông
tin đầy đủ được mọi người cùng nhất trí. Trong khuôn khổ cuộc họp lần thứ
10 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về ngăn chặn và xử lý tội phạm được tổ
chức tại thành phố Viên (áo) từ ngày 10/10/2000 đến ngày 17/10/2000,
một cuộc hội thảo đã được tổ chức để bàn về vấn đề tội phạm trong lĩnh
vực công nghệ thông tin và việc định nghĩa về tội phạm này được chia
thành hai quan điểm [30, tr.31]:
- Thứ nhất, tội phạm công nghệ thông tin theo nghĩa hẹp: Tội phạm

16


trong lĩnh vực công nghệ thông tin là các hành vi phạm tội sử dụng máy tính
và mạng máy tính với mục đích xâm phạm đến an toàn của hệ thống máy tính
và quy trình lưu trữ dữ liệu của hệ thống đó. Loại tội phạm theo định nghĩa này
có thể được hiểu là loại tội phạm mới có quan hệ trực tiếp đến máy tính, mạng
máy tính, làm ảnh hưởng và gây thiệt hại cho người sử dụng [30, tr.31-32].
- Thứ hai, tội phạm công nghệ thông tin được hiểu theo nghĩa rộng: Tội
phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin là các hành vi phạm tội sử dụng máy
tính hoặc các phương pháp khác có liên quan đến máy tính, mạng máy tính,

tội của tội phạm thực hiện để chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên,
quan điểm này cũng có mặt hạn chế là mặc dù đã nhấn mạnh được việc đưa ra
tất cả các hành vi riêng biệt của tội phạm để chứng minh rằng đây là loại tội
phạm mới có hành vi riêng biệt nhưng quan điểm này đã miêu tả quá chi tiết
về mặt hành vi trong khi một khái niệm khoa học cần phải ngắn gọn, súc tích
và chỉ ra được đầy đủ vấn đề về tội phạm.
Trên cơ sở phân tích các quan điểm của các nhà khoa học, đồng thời
với sự nghiên cứu của mình, tác giả luận văn đưa ra khái niệm tội sử dụng
mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt
tài sản như sau: Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi sử dụng các phương tiện trên
để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm
quyền sở hữu mang tính chất chiếm đoạt được pháp luật hình sự bảo vệ.
1.2. Đặc điểm của tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phƣơng
tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện
hành vi chiếm đoạt tài sản có một số đặc điểm nổi bật như sau:
Đặc điểm về phương tiện phạm tội: người phạm tội sử dụng các thiết bị
công nghệ thông tin để thực hiện mục đích chiếm đoạt tài sản. Đây là đặc điểm

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status