PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Về mặt lý luận
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh là
những danh nhân tiêu biểu. Trí tuệ, đạo đức và thành tựu tư tưởng của họ đã
vượt ra ngoài bờ cõi quốc gia, được nhân loại tôn vinh là những danh nhân
văn hoá thế giới. Nguyễn Trãi sống ở thế kỷ XV, song là tác giả hội tụ thành
tựu tư tưởng của cả thời kỳ phong kiến Đại Việt. Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại
của cách mạng Việt Nam ở thế kỷ XX, là sự kết tinh cho những tinh hoa tư
tưởng và các giá trị văn hoá của Việt Nam. Cả hai vĩ nhân đã đi trọn cuộc
hành trình tư tưởng của mình, đã thuộc về lịch sử, nhưng họ để lại những di
sản tư tưởng có giá trị to lớn, định hướng cho sự phát triển ở nước ta hiện nay
và mai sau.
Tuy ở hai thời đại lịch sử khác nhau, song tư tưởng nói chung và tư
tưởng văn hoá chính trị nói riêng của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều có
một điểm chung, đó là chữ “dân”. Cả cuộc đời, sự nghiệp của họ đều thể hiện
tư tưởng yêu dân, thân dân, vì dân…Có thể nói, họ là những đại diện tiêu biểu
cho dòng tư tưởng vì dân ở Việt Nam, tạo nên sự kết nối liên tục của dòng tư
tưởng này trong di sản văn hoá tư tưởng dân tộc.
Dân chủ là một hằng số văn hóa của nhân loại. Đây là giá trị có tính
phổ quát đối với mỗi quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, truyền thống tư tưởng vì
dân, dân chủ ở Việt Nam vẫn tiềm tàng nhiều giá trị khoa học lý luận cần
được quan tâm nghiên cứu hơn nữa, đặc biệt là tư tưởng của Nguyễn Trãi và
Hồ Chí Minh cùng với mối quan hệ của hai nhà tư tưởng kiệt suất này. Vì vậy,
những nội dung về tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và dân chủ của Hồ Chí
Minh là định hướng, là bài học vô cùng quý giá trong kho tàng lý luận của
dân tộc để xây dựng một đất nước, một chế độ chính trị dân chủ và tiến bộ mà
ta cần phải nghiên cứu một cách hệ thống làm cơ sở để vận dụng và sáng tạo
đúng đắn vào quá trình dân chủ hoá ở nước ta hiện nay.
1
2
2.1. Những nghiên cứu liên quan đến tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi
- Nhóm đề tài, công trình khoa học liên quan: TS. Nguyễn Hoài Văn
(chủ nhiệm đề tài), năm 2007: “Sự phát triển của tư tưởng chính trị Việt Nam
từ thế kỷ X đến thế kỷ XV”. Đề tài này đã nghiên cứu sự phát triển của tư
tưởng chính trị Việt Nam qua các thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, trong đó
có nghiên cứu tư tưởng của Nguyễn Trãi - được xem là tập đại thành của tư
tưởng chính trị Việt Nam truyền thống. Tác giả đã nghiên cứu khái quát về
thân thế sự nghiệp của Nguyễn Trãi, đồng thời đi sâu tìm hiểu giá trị tư tưởng
nhân nghĩa của ông;
- Một số sách liên quan đến vấn đề nghiên cứu có thể kể đến là: Uỷ ban
khoa học xã hội Việt Nam: “Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi”, Nxb khoa
học xã hội Hà Nội, H, 1982; Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp: “Nguyễn Trãi
- người anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà văn hoá kiệt suất”, Nxb Sự thật, H, 1882;
- Cùng với những công trình khoa học nêu trên, còn có một số luận án
nghiên cứu vấn đề này là: Luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị của Phạm
Ngọc Quang năm 1999 - 2000 với đề tài “Tìm hiểu giá trị nhân văn trong tư
tưởng Nguyễn Trãi” (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Bản luận văn
này đã đi sâu phân tích tư tưởng yêu nước, thương dân từ tác phẩm trong sự
nghiệp anh hùng và bi tráng của Nguyễn Trãi - nhà nhân văn chủ nghĩa lỗi lạc
của Việt Nam thế kỷ XV; Luận văn tốt nghiệp đại học năm 2004 của Nguyễn
Hữu Nhạc: “Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi”. Luận văn này đã đề cập
một cách khái quát tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi trên cương vị là một nhà
chính trị, nhà quân sự.
2.2. Những nghiên cứu liên quan đến tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh
- Nhóm đề tài, công trình khoa học liên quan: PGS.TS. Phạm Hồng
Chương (chủ nhiệm), năm 2004: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và sự
vận dụng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay”. Công trình này đã khái quát về
gia, H, 2006; Hoàng Chí Bảo: “Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong
tiến trình đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2007; Vũ Hoàng Công (chủ
4
biên): “Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nxb Chính trị - hành chính, H, 2008;
- Luận án: Luận án phó tiến sĩ khoa học Triết học, 1991 của tác giả Hồ
Tấn Sáng: “Dân chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”;
Luận án tiến sĩ, 2005, tác giả Nguyễn Thị Hiền Oanh: “Vai trò của Mặt trận tổ
quốc Việt Nam đối với việc hình thành quyền làm chủ của nhân dân”; Luận án
tiến sĩ bảo vệ năm 2007 của Nguyễn Thị Tâm: “Dân chủ ở cơ sở và vấn đề thực
hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay”.
Ngoài ra, còn rất nhiều các bài báo đã đăng tải trên các tạp chí khoa học
liên quan đến tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ Hồ Chí
Minh, về dân chủ và dân chủ hóa ở nước ta trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua.
Có thể nhìn nhận một cách tổng quát, các công trình nêu trên đã tiếp
cận và nghiên cứu từ nhiều chiều cạnh về vấn đề thân dân, dân chủ nói chung,
tư tưởng của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh nói riêng. Những kết quả nghiên
cứu đó là tiền đề, cơ sở, đã gợi mở quan trọng cho tác giả triển khai đề tài này.
Tuy vậy, các công trình trên mới chỉ nghiên cứu tư tưởng thân dân và dân chủ
dưới góc độ triết học, Hồ Chí Minh học, chính trị học… chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư
tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, đặc biệt là thấy được mạch nguồn văn hoá dân
chủ trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, làm rõ sự phát triển từ tư tưởng
thân dân của Nguyễn Trãi đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nhận thức tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng dân
chủ Hồ Chí Minh, luận văn làm rõ nét khác biệt, chỉ ra sự kế thừa và phát triển
các quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền dân chủ trong đất nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu khoa học cụ thể sau:
- Phương pháp lôgic - lịch sử
6
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
-
Phương pháp liên ngành giữa văn hoá học, sử học và chính trị học.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Phân tích, hệ thống hoá nội dung tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi
và tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh.
- Luận chứng sự phát triển của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh so với tư
tưởng thân dân của Nguyễn Trãi trong mối liên hệ lôgíc và lịch sử.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
7
Chương 1
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ THÂN DÂN VÀ DÂN CHỦ;
SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
đặt nền tảng cho khái niệm dân chủ. Solon cho rằng, muốn xây dựng một nhà
nước trên cơ sở một nền dân chủ phải thông qua tuyển cử và hòa nhập sức
mạnh với pháp luật.
Dân chủ hiểu theo từ nguyên, bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ đại:
“Demokratia”. Demokratia được ghép từ hai từ, Demos: là nhân dân; Kratia:
là chính quyền hay quyền lực. Như vậy, theo nguyên nghĩa của nó, dân chủ có
nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Nó nói lên rằng nhân dân là chủ thể của
quyền lực. Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hi Lạp cổ để đưa ra
thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”, một trong những hình thức
chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và
bình đẳng của công dân.
Từ “dân chủ” xuất hiện vào cuối thời kỳ cộng sản nguyên thủy, đầu
chiếm hữu nô lệ, được ghi bằng tiếng Hy Lạp với nghĩa quyền lực thuộc về
nhân dân. Nhưng nhân dân là ai? Nhân dân là số nhiều, hay số ít sẽ ảnh
hưởng và quy định phạm vi, mức độ của nền dân chủ. Theo lý luận, “nhân
dân” thường được hiểu là số đông, là đại đa số quần chúng lao động. Tuy
nhiên, trong thực tế lịch sử, trong các xã hội có mâu thuẫn đối kháng về giai
cấp, nhân dân lại thường là số ít, đó là những người cầm quyền. Xã hội có
giai cấp, mặc dù địa vị pháp lý quyền lực thuộc về đa số, nhưng trên thực tế,
quyền lực lại chỉ nằm trong tay những kẻ có quyền, có tiền, những kẻ thống
trị xã hội. Hay nói cách khác, trong xã hội ấy, quyền lực chỉ thuộc về số ít
những kẻ bóc lột. Ví dụ: Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp nô lệ chiếm
tới 95% dân số, nhưng quyền lực không thuộc về họ. Họ chỉ đuợc xem là
“công cụ biết nói”. Trong khi đó, tầng lớp chủ nô, tăng lữ chỉ chiếm 5% dân
số lại là chủ thể của quyền lực. Trong xã hội phong kiến, nhân dân là đại đa
9
số, nhưng quyền lực lại không thuộc về họ mà chỉ tập trung trong tay một ông
vua, với quyền năng tối thượng. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, quyền lực lại
quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do ứng cử, bầu cử…Dân chủ được cụ
thể hóa thành các cơ chế để thực thi trong đời sống. Dân chủ được quy định
thành nghĩa vụ của công dân với nhà nước và trách nhiệm của nhà nước với
công dân. Với cách tiếp cận dân chủ theo phạm trù chính trị, phạm trù lịch
sử, thì dân chủ tồn tại với tư cách là một chế độ, một nền dân chủ được
biểu hiện thông qua các đặc điểm rõ ràng như: nội dung của dân chủ được
cụ thể hóa qua những quy định chính thống của hiến pháp và pháp luật; nội
dung của dân chủ được thực thi bằng sức mạnh bộ máy Nhà nước; nó được
cưỡng chế, áp đặt thực hiện với toàn xã hội bằng chính sức mạnh và quyền
uy của bộ máy đó.
+ Dân chủ là một giá trị văn hóa: Dân chủ chỉ trạng thái, tính chất và
mức độ giải phóng con người, là khái niệm biểu đạt thành quả đấu tranh đòi
giải phóng của nhân dân lao động chống áp bức, bóc lột, đòi quyền tự do,
quyền làm chủ của mình. Đây là cách tiếp cận dân chủ dưới góc độ giá trị,
biểu hiện giá trị nhân văn của xã hội, của dân chủ. Dân chủ với ý nghĩa là giá
trị văn hóa thì vẫn còn tồn tại mãi mãi. Dưới góc độ này, dân chủ là phạm trù
vĩnh viễn.
+ Dân chủ là một nguyên tắc, phương thức hoạt động của một tổ chức
chính trị - xã hội: Nguyên tắc, phương thức này bao hàm một số nội dung,
như: cấp dưới phục tùng cấp trên, thiểu số phục tùng đa số…Ví dụ: nguyên tắc
tập trung dân chủ trong tổ chức và trong sinh hoạt đảng, ở đây là Đảng Cộng sản.
Tập trung dân chủ (mà Hồ Chí Minh thường gọi là: dân chủ tập trung) còn là
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước; các tổ chức chính trị và chính trị xã hội ở nước ta.
Các hướng tiếp cận trên làm phong phú nội hàm khái niệm dân chủ, tùy
từng bối cảnh cụ thể mà người ta nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh
khác tương ứng với các cách tiếp cận đó. Ta cần thấy rõ tính liên kết, xâu
11
chuỗi của các các quan niệm này trong khái niệm lý luận về dân chủ và trong
dưới quyền uy tối thượng của vua. Chỉ trong xã hội (như xã hội tư sản chẳng
hạn) tồn tại phạm trù công dân thì dân chủ mới xuất hiện.
Xét dước góc độ quyền lực, mức độ quyền của người dân trong tư tưởng
thân dân và dân chủ cũng khác nhau. Thân dân thì sự làm chủ của người dân
mới chỉ được ghi nhận ở mức độ “dân bản” (dân là gốc, là nền tảng của xã
hội), chứ chưa đạt trình độ “dân chủ”, quyền làm chủ xã hội của người dân
chưa khẳng định. Trong các hình thái kinh tế xã hội nô lệ, tư bản và chủ nghĩa
xã hội, khi dân chủ được xác lập với tư cách là một chế độ xã hội thì khái
niệm dân chủ mới được sử dụng. Như vậy, thân dân và dân chủ là hai khái
niệm được sử dụng ở những chế độ xã hội khác nhau, để chỉ phạm vi và mức
độ làm chủ không giống nhau của người dân.
1.2. Sự hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng
dân chủ của Hồ Chí Minh
Xét về nguồn gốc, bất cứ tư tưởng nào ra đời cũng là một quá trình tác
động biện chứng giữa các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Nó ra
đời từ những chất liệu tư tưởng có sẵn trước đó, phản ánh nhu cầu của thực
tiễn xã hội đương thời và mang dấu ấn cá nhân của người sáng lập. Tư tưởng
thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh cũng vậy.
1.2.1. Sự hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi.
Tư tưởng nào cũng ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, thể hiện bản
lĩnh, trí tuệ cá nhân và bóng dáng của thời đại. Tư tưởng của Nguyễn Trãi nói
chung và tư tưởng thân dân nói riêng ra đời trong bối cảnh của thời kỳ Đại Việt.
1.2.1.1. Thời đại Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, mất năm 1442, sống và hoạt động trong thời
kỳ đầy biến động, đầy hoạn nạn và âu lo của lịch sử Việt Nam. Về mặt chính trị
- xã hội, Nguyễn Trãi đã sống 20 năm cuối triều Trần, thời kỳ mà quyền lực
truyền thống đã bị sa đoạ và gần như đã nằm trong tay khống chế của Lê Quý
Ly; 7 năm dưới triều Hồ, một quyền lực đang xây dựng dở dang; 20 năm có thời
13
14
Mỗi con người đều được sinh ra từ một môi trường văn hóa truyền thống
của dân tộc và tư tưởng của mỗi cá nhân bao giờ cũng bắt nguồn từ những
mạch nguồn sâu xa và căn bản ấy.
* Chủ nghĩa yêu nước
Do hình thành sớm và tồn tại trong hoàn cảnh phải liên tục chiến đấu với
nhiều kẻ thù hùng mạnh hơn mình rất nhiều lần để bảo tồn dân tộc và lãnh thổ,
cho nên, chủ nghĩa yêu nước sớm hình thành và phát triển ở nước ta như một tất
yếu - tự nhiên. Từ thế kỷ III trước Công Nguyên, đến đầu thế kỷ XV, dân tộc ta
có gần mười tám thế kỷ kiên cường trong quá trình dựng nước và giữ nước. Sau
những thử thách đấu tranh, chủ nghĩa yêu nước ngày càng bền vững và trở thành
sức mạnh tinh thần của dân tộc, là giá trị cao quý, thiêng liêng nhất, là tài sản, cơ
sở cho ý chí, hành động cứu nước và xây dựng đất nước, đưa Đại Việt tiến lên
những nấc thang phát triển mới trong xu thế chung của thời đại lúc bấy giờ.
Không chỉ thể hiện trong kháng chiến chống xâm lược, chủ nghĩa yêu nước còn
biểu hiện trong nhiều lĩnh vực khác như xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội…
Sau những thử thách và đấu tranh, chủ nghĩa yêu nước ngày càng bền
vững và trở thành sức mạnh tinh thần của dân tộc. Nguyễn Trãi đã rất tự hào
về những truyền thống anh hùng của Đại Việt. Ông nói về dân tộc, về đất
nước đầy khí phách trong “Bình Ngô đại cáo”:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có
thống dân tộc tốt đẹp, góp phần hun đúc, hình thành tư tưởng thân dân của
Nguyễn Trãi. Đất nước ta với hàng ngàn năm lịch sử, trải qua nhiều triều đại
16
phong kiến nối tiếp nhau. Hàng ngàn năm Bắc thuộc và nguy cơ xâm lược
luôn rình rập với biết bao đau thương bởi hoạ xâm lược mà nhân dân ta từng
nếm trải đã hình thành trong các triều đại Đại Việt tư tưởng tích cực về dân,
để lại cho hậu thế những di sản tư tưởng tiến bộ. Những tư tưởng đó đã phát
triển đến đỉnh cao và mang tính nhân văn sâu sắc.
Mỗi giai đoạn xây dựng và phát triển Nhà nước phong kiến độc lập
trước thời Nguyễn Trãi (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV), “tư tưởng về dân” được
phát triển trên cơ sở những giá trị nhân đạo trong truyền thống của dân tộc,
với tinh thần từ bi, bác ái của đạo Phật và tư tưởng thân dân tiến bộ trong học
thuyết của đạo Nho. Những tư tưởng đó du nhập vào Đại Việt, được phát triển
trên nền tảng ý thức về chủ quyền dân tộc, tư tưởng đề cao dân, thương dân,
khoan dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, tư tưởng về cố kết dân tộc tạo thành
sức mạnh đoàn kết toàn dân trong dựng nước và giữ nước. Sự hòa nhập và kết
tinh này thể hiện đậm nét qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, là cơ sở quan
trọng để hình thành nên tư tưởng thân dân ở Nguyễn Trãi.
Các vương triều phong kiến đều rút ra bài học quý báu về giữ nước,
dựng nước và xây dựng chế độ cường thịnh, đó là: phải dựa vào dân. Để
thành công, họ phải giữ lòng dân và phải áp dụng một hình thức thân dân. Ở
triều đại nhà Lý, những đại biểu tư tưởng của giai cấp phong kiến thời kỳ này
có ý thức rất sâu sắc về vai trò, sức mạnh của dân, coi “ý dân”, “lòng dân” là
điều cần quan tâm trong nghiệp trị nước, an dân. Việc dời đô, kế vị, thay đổi
vương triều và phát động chiến tranh là những việc hệ trọng của triều chính
cũng đều có một căn cứ, mục đích quan trọng là “ý dân”, “lòng dân”. Xuất
phát từ quan điểm tiến bộ về dân của vua quan triều Lý, ngay từ đầu, nhà Lý
đã rất quan tâm đến đời sống của nhân dân. Họ đặt lầu chuông trong thành
đựng những yếu tố thân dân, dân chủ nhất định.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước, lại luôn
phải đương đầu với kẻ thù lớn mạnh hơn gấp nhiều lần, do đó không dựa vào
dân thì không thể chiến thắng. Đó là bài học về xây dựng một chế độ chính trị
bền vững có sự gắn kết giữa xây dựng với bảo vệ, sự cường thịnh của đất
18
nước với thân dân. Các nhà chính trị mẫn cảm ở Việt Nam không thể không
nhận thức được chân lý của sự thành công này, nên đã tạo thành một truyền
thống thân dân, là cơ sở cho tinh thần, ý thức, tư tưởng dân chủ sau này.
Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi được hình thành từ những cội
nguồn lịch sử đó. Chính truyền thống “yêu nước thương nòi”, “tương thân
tương ái”, nhân văn, nhân đạo, nhân nghĩa và những tư tưởng “trọng dân”,
“lấy dân làm gốc” của những vương triều phong kiến tiến bộ trước đó đã đặt
nền móng, cơ sở, nguồn gốc cho tư tưởng thân dân của ông. Những truyền
thống đó như một dòng chảy xuyên suốt lịch sử và đọng lại ở từng chặng
đường trong sự nghiệp của nhà chính trị vì dân - Nguyễn Trãi.
1.2.1.3. Những giá trị tích cực của Nho giáo về dân
Nói đến Nguyễn Trãi là ta nói về một nhà Nho. Nho giáo, nền tảng tư
tưởng của xã hội lúc đó đã thấm đẫm vào con người ông từ khi sinh ra, lớn
lên, cả đến cuối đời và ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng về dân và thân dân
của ông.
Nho giáo được xem là học thuyết nhập thế và tích cực với triết lý nhân
sinh “tu thân, dưỡng tính”; “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của người
quân tử. Nguyễn Trãi cũng tiếp thu tư tưởng về một xã hội đại đồng, trong đó
coi trọng dân “dân vi bang bản” (dân là gốc của nước); hay “dĩ dân vi bản”
(lấy dân làm gốc).
Theo quan niệm của niệm của Nho giáo, “dân” là tứ dân, bao gồm: sỹ,
nông, công, thương. Sự phân chia xã hội này không dựa trên tiêu chuẩn sở
tr.225]. “Giáo dân” cũng là nhiệm vụ quan trọng của phép trị nước: “muốn trị
nước, vua nên thi hành một cách nhân huệ chế độ điền địa và chế độ “giáo
hóa” dân, dẫu sau này bậc vương giả ra đời mà gồm thấu hiểu thiên hạ, ắt
cũng giữ theo hai phép ấy” [10; tr.26]. Còn tới Tuân Tử thì tư tưởng về dân lại
được diễn tả cụ thể và sâu sắc hơn nữa: “quân tử là thuyền, thứ dân là nước.
Nước chở thuyền, nhưng nước lại đánh đắm thuyền”. Đây là hình ảnh so sánh
sinh động về mối quan hệ quân - dân. Do vậy, nhà cầm quyền phải biết coi
trọng dân, tập hợp dân, lấy nhân nghĩa mà trị thiên hạ thì yên, lấy tàn bạo mà
trị thiên hạ thì nguy.
20
Có thể nói, trong quan niệm Nho giáo, tư tưởng về dân và chính sách
thân dân là một nguyên tắc quan trọng của đạo “an dân, trị quốc, bình thiên
hạ”. Các nhà tư tưởng Nho giáo đã coi việc quan tâm đến đời sống, nguyện vọng
của dân chúng là cơ sở để ổn định xã hội và xây dựng quốc gia thái bình thịnh
trị. Trong học thuyết này, cách “sử dân”, “dưỡng dân” cũng được đề cập đến khá
sâu sắc. Sử dụng dân phải theo thời, sai khiến dân có mức độ, chứ không được
tùy tiện. Dù giữa hình thức và bản chất nội dung của những tư tưởng về dân có
sự khác biệt, nhưng sự tiến bộ trong quan niệm về dân của Nho giáo đã thấm sâu
vào con người Nguyễn Trãi ngay từ những bài học vỡ lòng và trở thành cơ sở lý
luận trực tiếp cho sự hình thành tư tưởng thân dân của ông.
Mức độ, hình thức quan tâm đến dân, coi trọng dân, đề cao dân có
những bước tiến khác nhau trong lịch sử của học thuyết Nho giáo qua mỗi
người đại diện. Tuy nhiên, bên cạnh sự tiến bộ đó, những học trò của Khổng
Tử là Mạnh Tử và Tuân Tử vẫn chưa vượt qua được hạn chế giai cấp căn cốt
ở thầy mình. Các ông nhất quán chia con người ra làm hai hạng: những người
lao tâm và những người lao lực, cho rằng đó là sự phân công tự nhiên, là quy
luật chung của sự phát triển xã hội. Các ông đều khẳng định: “không có quân
tử thì lấy ai trị dân quê, không có dân quê thì lấy ai nuôi quân tử”. Từ những
độc tôn trong tư tưởng thống trị của vương triều phong kiến như trước, mà
thay vào đó là Nho giáo, nhưng những tư tưởng cơ bản của Phật giáo vẫn có
ảnh hưởng rất lớn. Nó làm mềm hoá sự đề cao trật tự khắt khe của những
quan hệ gia trưởng, trật tự phản nhân đạo, nghiệt ngã, khuôn thước chật hẹp,
gò bó tư tưởng, tình cảm con người của Nho giáo. Đó cũng là một cơ sở quan
trọng hình thành nên tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và chủ nghĩa nhân
đạo sâu sắc trong tư tưởng của ông.
1.2.1.5. Con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi
Tư tưởng nào được hình thành thì bên cạnh những nhân tố khách quan
còn có vai trò chủ quan quyết định của cá nhân nhà tư tưởng. Tư tưởng thân
dân của Nguyễn Trãi ra đời gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của bản thân ông.
+ Đôi nét về tiểu sử:
Nguyễn Trãi (1380 - 1442) là con đầu của Nguyễn Phi Khanh (còn gọi
là Nguyễn Ứng Long) và bà Trần Trinh Thục (còn gọi là Trần Thị Thái) - con
22
gái cụ Tư Đồ Trần Nguyên Đán, hiệu Băng Hồ, tước Nhập Nội Kiểm Hiệu Tư
Đồ Bình Chương Quốc Thượng Hầu (tương đương Tể tướng) dưới triều vua
Trần Duệ Tông và Trần Đế Nghiễn; quê quán làng Chi Ngại, huyện Phụng
Sơn, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Phi Khanh là cháu đời thứ 10 của Nguyễn Bặc,
nguyên là phụ tá của Đinh Bộ Lĩnh, có công đánh dẹp loạn 12 xứ quân.
Nguyễn Phi Khanh hay chữ, nhưng lận đận việc khoa cử, được quan tư Đồ
Trần Nguyên Đán tuyển cho ở nhà quan làm gia sư dạy con gái của quan Tư
Đồ là Trần Trinh Thục. Phi Khanh và Trinh Thục yêu nhau đến ngày Trinh
Thục mang thai thì Phi Khanh sợ hãi bỏ trốn. Quan Tư Đồ rất khoan dung,
cho người tìm kiếm Phi Khanh về làm lễ cưới và bảo trợ cho học hành, dùi
mài kinh sử, đến năm 1374, đời Trần Duệ Tông, thì thi đỗ Tiến sĩ. Do là người
ngoại tộc làm rể hoàng gia, nên Phi Khanh không được bổ ra làm quan, chỉ về
quê dạy học. Đầu năm 1402, Hồ Quý Ly tin dùng Phi Khanh, bổ nhiệm vào
+ Con người Nguyễn Trãi:
Cuộc đời của Nguyễn Trãi có thể gói gọn trong hai chữ “bi” và “hùng”.
Ngay từ nhỏ Nguyễn Trãi đã thông minh. Càng lớn, ông càng tỏ ra là người
có bản lĩnh và trí tuệ hơn người. Sinh ra trong một gia đình nho giáo lại có
truyền thống khoa bảng, nên ngay từ bé Nguyễn Trãi đã mang trong mình giá
trị quý báu thuộc về những ảnh hưởng tích cực của hệ tư tưởng Nho gia. Ông
ngoại và bố của Nguyễn Trãi đều là những trí thức uyên bác phục vụ cho triều
đình, đã bỏ nhiều công sức để dạy dỗ ông từ nhỏ.
Nguyễn Trãi không những được học những kiến thức sâu rộng, bản
thân chăm lo dùi mài kinh sử, suy ngẫm “vườn chư tử, bể lục kinh”, mà còn
tiếp thu được phẩm chất cao quý từ tâm hồn và tư tưởng sáng ngời của cha và
ông. Ông cũng tiếp thu từ nhiều nhà Nho trước đó hay cùng thời tư tưởng suốt
đời phục vụ nhân dân, chứ không bao giờ suy nghĩ, hành động phục vụ riêng
cho một dòng họ. Nguyễn Trãi là nhà Nho có bản lĩnh, giàu lòng nhân ái, vì
nước, vì dân. Trí tuệ uyên bác của ông có sự thống nhất: nhà thơ không tách
rời nhà ngoại giao; nhà triết học, không tách rời nhà chính trị; nhà đạo đức
24
không tách rời con người hành động. Cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và hành
động của ông đã định hình, phát triển, cùng với những đòi hỏi của đất nước
Đại Việt cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV.
Nguyễn Trãi khác với những nhà Nho cùng thời là nhận thức và hành
động theo lẽ phải, đã biết dấn thân cho sự nghiệp cao cả vì nước, vì dân. Con
người Nguyễn Trãi được phát triển trong hành động, “chi hành hợp nhất”. Cái
vĩ đại của nhà tư tưởng đó không dừng lại ở các học thuyết cao siêu, mà còn
biến tư tưởng thành hiện thực và đưa tư tưởng vào quần chúng để biến nó
thành sức mạnh vô song. Ông đã kế thừa có chọn lọc những tinh hoa trong tư
tưởng Phật giáo, Nho giáo và những yếu tố tích cực về dân trong truyền thống
dân tộc, tạo thành nền tảng cho tư tưởng của mình, vượt trước thời đại và giai