TÀI LIỆU THAM KHẢO NÂNG CAO kỹ NĂNG THUYẾT TRÌNH CHO đội NGŨ GIẢNG VIÊN ở các TRƯỜNG đại học HIỆN NAY - Pdf 47

NÂNG CAO KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY
1. Một số nhận thức xoay quanh vấn đề kỹ năng thuyết trình.
Thuyết trình hay kỹ năng thuyết trình là một trong những nhân tố
quan trọng góp phần hình thành và củng cố năng lực sư phạm của người
giáo viên. Có thể khẳng định rằng thuyết trình xuất hiện từ rất sớm cùng
với sự ra đời của giáo dục, là một trong những phương pháp truyền đạt cơ
bản nhất, chuyển tải thông tin, dung lượng kiến thức từ chủ thể giáo dục
đến đối tượng giáo dục (Từ người dạy đến người học). Kỹ năng thuyết
trình luôn được hoàn thiện cùng với sự phát triển của lý luận và thực tiễn
dạy học qua các thời kỳ lịch sử.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục, các nhà hiền triết phương đông
cũng như các nhà triết học phương tây đã khái quát những luận đề nổi tiếng về
ngôn ngữ và lời nói, đề cao vai trò của ngôn ngữ nói.
Khổng Tử đã khẳng định rằng: Ngôn ngữ và lời nói có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc chuyển tải nội dung tri thức từ người dạy đến người
học. Ngôn ngữ bao hàm cả trong đó ý tưởng, tâm tư, tình cảm của người thầy,
ông yêu cầu người học phải tích cực, chủ động tìm tòi, khám phá, sáng tạo
trong học tập. Trên cơ sở hướng dẫn, gợi mở của thầy học trò phải tự tìm ra
chân lý, thầy bảo cho biết cái điều đã qua thì trò phải biết cái điều đang đến,
nghĩa là nghe một mà biết mười. Khổng Tử nói: Cử nhất ngung, bất dĩ tam
ngung phản, tắc bất phục dã, có nghĩa vật có bốn góc, chỉ cho một góc mà
không tìm ra được ba góc khác, thì ta không dạy lại nữa.
Ở phương tây, các nhà giáo dục, nhà triết học cũng khẳng định vai trò
quan trọng của ngôn ngữ, lời nói, của thuyết trình trong quá trình giáo dục.
Vào thời kỳ này thầy giáo cũng như thầy tu đều được thần thánh hóa và trở
thành một thứ quyền lực trong xã hội. Thầy giáo nắm tri thức là nắm chân lý
tuyệt đối. Phương pháp dạy học chủ yếu là dùng ngôn ngữ nói, học trò chỉ
có nghe thầy giảng, học thuộc lời thầy và làm theo sách vở. Do đó, cách thức
0


1


Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở một số nước trên thế giới đã xuất
hiện quan điểm phủ nhận vai trò quan trọng của ngôn ngữ nói trong dạy học.
Có ý kiến nói một cách mỉa mai rằng: “Một giảng viên nào đó càng nói tốt thì
càng ít có lợi cho học sinh bởi vì chỉ có thể kể chuyện khoa học một cách hấp
dẫn trên cơ sở đơn giản hóa và tầm thường hóa khoa học” [4; Tr.15]. Khuynh
hướng quan điểm phủ nhận vai trò của ngôn ngữ nói ban đầu xuất hiện ở các
nước đi theo con đường TBCN, vào những năm giữa thế kỷ XX ở nhiều
nước tư bản phương tây, nhất là ở Mĩ đã bùng nổ cuộc cách tân về phương
pháp giáo dục trong các nhà trường đại học. Trong đó đặc biệt chú ý phải kể
đến lý thuyết dạy học lấy học sinh làm trung tâm mà nội dung của nó chủ
yếu dựa trên những quan điểm triết học và giáo dục học thực dụng của
J.Dewey (1859 – 1952). Theo lý thuyết này, khi giảng dạy bất cứ vấn đề gì
đều phải chú ý tới hứng thú của người học. Nội dung chủ đề bài học được
phân chia thành các vấn đề theo sự hứng thú, quan tâm của từng nhóm học
sinh trong lớp. Đối với các môn khoa học xã hội, trong giờ lên lớp người học
được tự do tranh luận theo quan điểm riêng của mình, được đóng vai giải
quyết các tình huống hoặc diễn kịch theo kiểu sân khấu hóa để gây hứng thú
học tập cho người học. Trong các buổi lên lớp đã sử dụng các phương tiện
nghe nhìn, máy ghi âm, máy chiếu phim, máy tính điện tử và các phương
tiện hiện đại khác.
Theo đó, vai trò của ngôn ngữ nói nói riêng và hình thức bài giảng nói
chung bị xem nhẹ. Tuy nhiên, thực tiễn của quá trình giáo dục đã chứng tỏ
rằng mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng không thể phủ nhận vai trò
của ngôn ngữ nói. Vì: “Chừng nào mà loài người còn tồn tại thì tiếng nói sinh
động và sự truyền đạt những luận đề khoa học bằng tiếng nói đó vẫn chưa bao
giờ tắt” (V.L. Kirpisep) [3; Tr.292]. Chính vì vậy trong lịch sử giáo dục đã
xuất hiện khuynh hướng quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ nói

xu hướng cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là: “Tích cực
hóa hoạt động nhận thức của học sinh, lôi cuốn học sinh vào hoạt động, học
sinh phải nắm được cách chiếm lĩnh tri thức. Tích cực hóa hoạt động nhận
thức thực chất là tôn trọng, phát huy vai trò chủ thể của học sinh”[1; Tr.22].
3


PGS.PTS. Phạm Viết Vượng cho rằng, tổ chức quá trình dạy học theo lối
mới là: “Chuyển từ cách dạy theo kiểu giải thích, minh họa để học sinh hiểu và
nhớ (cơ chế chuyển tải) sang lối dạy: Học sinh hoạt động, tự tìm phương pháp
nhận thức, tự hình thành các khái niệm khoa học (cơ chế hình thành)…có thể
khẳng định rằng dạy học lấy học sinh làm trung tâm có tư tưởng chỉ đạo là tổ
chức cho học sinh hoạt động tích cực, sáng tạo…”[2; Tr.33].
Các quan điểm trên đây nhìn chung chỉ tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới
góc độ phương pháp dạy học là chủ yếu nhưng đã chứa đựng trong đó những
ý tưởng tiến bộ về một hình thức bài giảng kiểu mới và cách thức sử dụng
ngôn ngữ nói trong các hình thức dạy học.
Ngày nay, phương châm dạy học được tiến hành theo phương châm
lấy người học làm trung tâm, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học.
Trong dạy học, việc áp dụng các phương tiện nghe nhìn... rất phổ biến. Điều
này đã phần nào làm hạn chế bớt việc sử dụng ngôn ngữ nói, cũng như
KNTT, nhưng phải khẳng định rằng: Không thể thay thế ngôn ngữ nói bằng
bất cứ một hình thức truyền tải khác được. Vậy Kỹ năng thuyết trình nên
được hiểu nhu thế nào?
2. Hiểu về kỹ năng thuyết trình
Thuật ngữ kỹ năng đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,
trong mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau có cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, có
thể thấy, tựu chung lại thì kỹ năng được biểu hiện ở hai khía cạnh sau:
- Khía cạnh thứ nhất: Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của
hành động, thao tác và ít quan tâm đến kết quả hành động. Đại diện cho quan

là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành động hoặc một công việc nào
đó, bằng cách vận dụng những kiến thức, kỹ xảo, kinh nghiệm đã có để thực
hiện hành động, công việc đó sao cho phù hợp với những điều kiện nhất
định của thực tiễn.
Đi sâu nghiên cứu về khái niệm này, phần lớn các nhà TLH, GDH đều
cho rằng, kỹ năng là một phạm trù được biểu hiện trong những tình huống,
trình độ thể hiện khác nhau; có kỹ năng đơn giản và kỹ năng phức tạp. Kỹ
năng đơn giản là trình độ áp dụng kiến thức, kỹ xảo trong những điều kiện
5


hoàn cảnh thông thường như: kỹ năng viết, kỹ năng đọc, kỹ năng thuyết
trình… Kỹ năng phức tạp là trình độ vận dụng sáng tạo những tri thức, kỹ
xảo và kinh nghiệm vào những tình huống phức tạp và đạt được kết quả nhất
định. ở đây, kỹ năng được hiểu là trình độ của sự vận dụng sáng tạo kiến
thức, hiểu biết, kinh nghiệm để giải quyết các công việc có hiệu quả. Trong
pạm vi bài viết này khi nói đến kỹ năng nên hiểu đó là kỹ năng ở trình độ
cao, trình độ phức tạp.
Với cách hiểu như vậy, có thể thấy, kỹ năng được biểu hiện ở các mức
độ khác nhau. Theo quan niệm của Bloom thì kỹ năng có 4 mức độ:
- Bắt chước: Quan sát và lặp lại hành động (lặp lại mẫu).
- Thao tác: Ở mức độ cao hơn, chủ thể thực hiện hành động theo sự
hướng dẫn bằng lời chứ không phải bằng hành động mẫu.
- Hành động chuẩn xác: Mức độ thực hiện đúng, chuẩn xác hành động,
thao tác mà không cần quan sát mẫu hoặc nghe người khác chỉ dẫn, đòi hỏi sự
nỗ lực, cố gắng khá cao của chủ thể.
- Hành động tự nhiên: Mức độ thuần thục, thành thạo của hành động,
thao tác mà không cần sự cố gắng nhiều về thể lực và trí lực.
Kỹ năng thuyết trình là loại kỹ năng riêng, đặc trưng cho nghề giáo
viên. KNTT là các thao tác vận dụng những kiến thức tổng hợp về tự nhiên và

. Trình độ thành thạo (khá và giỏi).
KNTT không phải do thiên bẩm sinh ra đã có, mà đó là kết quả của quá
trình rèn luyện thường xuyên và liên tục trong quá trình học tập, được củng
cố, phát triển và hoàn thiện trong quá trình công tác thực tiễn hoạt động giảng
dạy và nghiên cứu khoa học.
Vì vậy, việc thường xuyên rèn luyện KNTT là yêu cầu đòi hỏi vừa
mang tính thường xuyên vừa mang tính cấp bách hiện nay đối với người giáo
viên. Rèn luyện kỹ năng thuyết trình cần tuân thủ những vấn đề mang tính quy
luật, các quan điểm chỉ đạo đối với công tác giáo dục - đào tạo của đất nước.
3. Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thuyết trình cho giảng viên
tại các trường đại học hiện nay.
Trong phạm vi bài viết này, với cương vị là một giáo viên, tôi xin đề
xuất một số giải pháp có tính chất đúc rút kinh nghiệm. Cụ thể là:
* Rèn luyện KNTT cho người giáo viên thông qua việc tự tổ chức
tốt quá trình tự học, tự nghiên cứu.

7


Sự thành thạo KNTT chủ yếu được thông qua con đường tự luyện tập,
rèn luyện một cách có ý thức và tuân thủ theo quy trình nhất định. Muốn vậy,
trước hết người giáo viên phải nắm vững kiến thức khoa học phục vụ cho hoạt
động giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Hiểu biết sâu sắc cả kiến thức chuyên môn, chuyên ngành lẫn kiến thức
liên ngành và kiến thức bổ trợ gắn liền với chức trách, nhiệm vụ người giáo
viên. Đây là cơ sở cho mọi hoạt động, do đó, để rèn luyện tốt KNTT thì trước
hết người giáo viên phải nắm chắc nội dung kiến thức thuyết trình. Và nếu
như KNTT được rèn luyện trên cơ sở nền tảng tri thức vững chắc, kỹ xảo linh
hoạt, có sự tham gia tích cực của ý thức, các hành động thuyết trình của người
giáo viên sẽ nhanh chóng thuần thục và đạt hiệu quả cao. Để thực hiện có

Bước 4: Trên cơ sở tính vững chắc cơ bản và ổn định về nội dung và
KNTT đã được hình thành, người giáo viên phát huy sự sáng tạo của bản thân.
- Ba là, đặc biệt chú ý kết hợp lời nói với các cử chỉ và hành động trước
đám đông. Tham gia tích cực vào các buổi diễn đàn, toạ đàm, hội thi để có
điều kiện, cơ hội thể hiện và rèn luyện KNTT của bản thân. Một thực tiễn cho
thấy rằng, đối với việc rèn luyện KNTT, tham gia tích cực vào các hoạt động
tập thể là một biện pháp đặc biệt có hiệu quả, đó là môi trường kiểm chứng
khả năng diễn thuyết của giáo viên, là hòn đã thử vàng đối với họ trước những
tình huống bất ngờ xảy ra. Đứng trước tập thể ban đầu giáo viên có thể còn e
ngại, thậm chí run rẩy, nhưng làm nhiều chắc chắn thành quen, tự nhiên KNTT
sẽ được hình thành.
* Xây dựng môi trường và điều kiện sư phạm thuận lợi cho giáo viên
rèn luyện kỹ năng thuyết trình
Đây là một biện pháp quan trọng, bảo đảm cho việc hình thành KNTT
được diễn ra nhanh chóng và rèn luyện nó đạt hiệu quả cao. Xây dựng môi
trường và điều kiện sư phạm thuận lợi chính là cơ sở, điều kiện thúc đẩy
người giáo viên cố gắng nỗ lực vươn lên rèn luyện KNTT. Vì trong môi
trường và điều kiện sư phạm thuận lợi đó sẽ góp phần giúp giáo viên nhanh
chóng chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học, cơ bản, hiện đại, nắm được

9


những phương thức thiết yếu của việc hình thành các kỹ năng nói chung và
KNTT nói riêng.
Để xây dựng được môi trường và điều kiện sư phạm thuận lợi cho giáo
viên rèn luyện KNTT, mỗi giáo viên cùng với tất cả lực lượng giáo dục có
liên quan cần thực hiện tốt các nội dung sau:
- Phát động và xây dựng các phong trào thi đua trong học tập, nghiên
cứu khoa học, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, trong đó chú trọng về KNTT.

nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các biểu hiện tiêu cực trong tập thể sư phạm
đảm bảo cho mọi người thực hiện “giờ nào việc ấy” đúng chế độ quy định, đặc
biệt là chế độ tự học, tự nghiên cứu.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu đề tài “Nhận thức lại một số
khái niệm, phạm trù của Giáo dục học”, Viện khoa học giáo dục, Đề tài B34 –
37 – 39, H.1996
2. Đặng Quốc Bảo, Hiệu quả kinh tế của giáo dục, Giáo dục thời đại,
Số 42/1999.
3. Lưu Xuân Mới (2003) Rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên Đại
học. Tạp chí khoa học, Đại học sư phạm Hà nội, số 02/2003.
4. Trần Đình Tuấn, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, H.2001
5. Hà Nhật Thăng (1998) - Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục, Nxb
GD, H.1998

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status