ĐỀ SỐ 9
Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Dạo này, dường như ngày càng có nhiều người, nhất là lớp trẻ, khi nói và viết tiếng
Việt thường chen tiếng mrớc ngoài, chủ yếu là tiếng Anh. Hồi nước ta còn thuộc Pháp, thói
quen dùng chen tiếng Pháp cũng đã khá phổ biến và được gọi là nói “tiếng lai”.
Phải nhận rằng, trong sự phát triển mau lẹ của khoa học và còng nghệ, nhất là của tin
học và công nghệ thông tin, nhiều thuật ngữ mới ra đời, mà do chưa kịp có từ tương ứng
trong tiếng Việt, nên buộc phải dùng thuật ngữ bằng tiếng nước ngoài khi nói cũng như khi
viết.
Song điều đáng nói là, đang có nhiều người cứ thích nói bằng tiếng Anh những từ
hoàn toàn có thế diễn đạt được bằng tiếng Việt, và hãnh diện coi đó là thời thượng, là “sành
điệu ”.
(Theo Trần Đức Nguyên - Trần Việt Phương, Câu chuyện tiếng lai,
báo điện tử Vietnamnet ngày 03/03/2007)
Câu 1: Đoạn trích trên nhắc tới hiện tượng nào đang xảy ra trong xã hội?
Câu 2: Phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu văn sau: Phải nhận rằng, trong sự phát triển
mau lẹ của khoa học và công nghệ, nhất là của tin học và công nghệ thông tin, nhiều thuật
ngữ mới ra đời, mà do chưa kịp có từ tương ứng trong tiếng Việt, nên buộc phải dừng thuật
ngữ bằng tiếng nước ngoài khi nói cũng như khi viết. Câu văn vừa phân tích là câu đơn, câu
ghép hay câu phức?
Câu 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của các phép liên kết trong đoạn trích trên?
Câu 4: Trong khoảng 5-7 dòng, thể hiện suy nghĩ của anh (chị) về vai trò của giới trẻ trong
việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt.
Phần II. Làm văn (7 điểm)
Câu 1 (2 điểm): Trong bộ phim Three Idiots (Ba chàng ngốc), câu nói cuối phim đọng lại
một cách sâu sắc trong lòng mỗi khán giả đó là: Hãy theo đuối đam mê, thành công sẽ theo
đuổi bạn.
Anh (chị) hiểu thế nào về câu nói trên? Viết một đoạn văn khoảng 200 từ, bàn về vấn đề
theo đuổi đam mê là cách tốt nhất để đi đến thành công.
Câu 2 (5 điểm):
Vị ngữ 2: chưa kịp có từ tương ứng trong tiếng Việt. Chủ ngữ 3: khuyết thiếu (có thể là từ
chúng ta)
Vị ngữ 3: buộc phải dùng thuật ngữ bằng tiếng nước ngoài khi nói cũng như khi viết
-
Câu trên thuộc kiểu câu ghép.
Câu 3: Các phép liên kết trong đoạn trích trên:
-
Phép điệp: tiếng, tiếng Việt, tiếng Anh, nói.
-
Phép liên tưởng: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, thuật ngữ, nói, viết...
-
Phép nối: Phải nhận rằng, Song.
Câu 4: Học sinh tự triển khai theo suy nghĩ cá nhân, có thể tham khảo một số gợi ý sau:
-
Giới trẻ là những người nhạy bén nhất với những cái mới, dễ tiếp thu những thứ cách
tân, mới lạ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa, đối với tiếng nói mẹ đẻ, giới trẻ được tùy ý
sáng tạo, bóp méo. Mỗi người trẻ cần phải trang bị cho mình ý thức, sự trân trọng và hiểu biết
vốn từ của nước ta.
+ Tại sao thành công thường không đến với những ai theo đuổi đam mê?
++ Mỗi người đều mang trong mình những định hướng, những đam mê trong cuộc đời
mình. Những đam mê tạo cho họ động lực làm mọi thứ, động lực vượt qua những khó khăn
trở ngại trong cuộc sống, trong mọi công việc để giải quyết chúng một cách dễ dàng. Những
người này sống vì đam mê của họ, những thành công họ đạt được sẽ rất đáng giá.
++ Những người không đến với thành công bằng niềm đam mê thường tìm đến thành công
như một cuộc đua, họ mong muốn có được thành công một cách nhanh chóng và tiến đến nó
một cách vội vàng. Họ không có kế hoạch và sự thực hiện những kế hoạch đó nên con đường
đến thành công của họ thường không có định hướng.
+ Để theo đuổi đam mê của mình, con người cần chuẩn bị những hành trang gì?
++ Mỗi người đều có đam mê nhưng vấn đề gìn giữ đam mê và thực hiện đam mê đó mới
là điều quan trọng. Những người có đam mê trong cuộc sống sẽ có những động lực rất lớn
trong việc tìm đến thành công của họ. Niềm đam mê sẽ tạo cho mỗi con người định hướng
đúng đắn về tương lai của họ, về những điều mà họ mong muốn làm được trong tương lai.
++ Để giữ vững và thực hiện đam mê, con người cần không bận rộn tìm kiếm thành công
mà bỏ qua những giá trị cuộc sống dù là đơn giản nhất, điều này có nghĩa là họ tiến đến thành
công một cách chậm rãi, có kế hoạch cụ thể, rõ ràng. Điều này đem đến việc mỗi người sẽ
từng bước đến với thành công. Thành công đến với họ một cách tự nhiên bởi họ đã chuẩn bị
sẵn sàng từng bước qua từng kế hoạch.
-
Bài học nhận thức và hành động: Con người luôn phải ý thức được việc theo đuổi đam
mê của mình để hướng đến một thành công trong cuộc sống, không để thành công định hướng
mà quên đi đam mê của bản thân.
Câu 2 (5 điểm):
1. Mở bài:
-
Xuân Quỳnh. Đoạn tho' trích trong bài thơ Sóng là sự bồi hồi của trái tim người con gái đang
yêu, là sự nhớ thương, thao thức của một tâm hồn nhiều nhung nhớ.
-
Đoạn thơ trong bài thơ Tương tư:
+ Cũng như các nhà thơ lãng mạn cùng thời, Nguyễn Bính say mê với đề tài tình yêu,
nhưng tình yêu trong thơ
Nguyễn Bính có một lối nói riêng. “Cái tôi” trong thơ Nguyễn Bính không nổi lên mà tan hòa
vào không gian đồng quê bằng biện pháp ẩn dụ, nhàn hóa như trong ca dao.
+ Đây là đoạn mở đầu của bài thơ, người con trai đa tình chân thành thú nhận nỗi tương tư
đơn phương. Anh có mối quan hệ gắn bó sâu sắc với làng mạc quê hương. Từng lời, từng chữ,
cách nói, lối nói mang đậm chất thơ ca dân gian: thôn Đoài, thôn Đông, một người, chín nhớ
mười mong. Nói chuyện thôn Đoài nhớ thôn Đông là nói chuyện một người đang nhớ một
người. Dùng lối diễn đạt ước lệ để giãi bày niềm thương nỗi nhớ dâng đầy - giống như trong
ca dao:
++ Nhớ ai bôi hổi bồi hổi
Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm.
++ Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai.
++ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.
Cái khác lạ ở Nguyễn Bính, vận dụng ca dao nhưng rất sáng tạo, nhà thơ đặt niềm thương
nỗi nhớ ấy trong cấu trúc điêu luyện của riêng mình: Một người chín nhớ mười mong một
người. Hai từ một người được đây ra hai điểm mút của câu thơ tạo sự xa cách, trống vắng, cô
đơn và giữa hai đầu xa thẳm ấy là cả một trời thương nhớ: chín nhớ mười mong. Nỗi tương tư
của người con trai được diễn tả thật da diết, mãnh liệt, vô biên tuyệt đích đế cuối cùng tr ở
thành bệnh tương tư.
Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì sóng vẫn luôn nhớ bờ, và em vẫn luôn nhớ
anh.
+ Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của
người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn
cào, có khi nào thôi ngừng hành trình đến với bờ dù muôn vời cách trở. Sóng chẳng còn là
sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất
sáng tạo “không ngủ được”. Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại
dương thì ngàn đời vẫn khát khao tìm về bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ thì nhớ thương,
thương nhớ thì thao thức một nỗi niềm. Nên con sóng đã hành trình vượt qua không gian bao
la và thời gian xa thẳm. Nó bất chấp cả thời gian “ngày đêm khàng ngủ được” để quyết tâm
hướng vào bờ cho thỏa nỗi niềm mong nhớ.
+ Và nếu sóng nhớ bờ thì em nhớ anh. Đó âu cũng là quy luật của tình yêu. Xuân Quỳnh
dùng chữ “lòng” rất tinh tế. Lòng là nơi sâu kín nhất của tâm hồn con người. Nơi bí mật thẳm
sâu của tình yêu và nỗi nhớ. Khi Xuân Quỳnh nói lòng em nhớ nghĩa là chị đã phơi bày tất cả
gan ruột của mình để dốc hết yêu thương mà gửi về người mình yêu. Nỗi nhớ không chỉ có
mặt trong thời gian được ý thức mà còn gắn với tiềm thức - thời gian trong mơ. Vị ngọt ngào
mê đắm của tình yêu lan tỏa trong cách nói nghịch lý “cả trong mơ còn thức Câu thơ “cả
trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật. Nó làm đảo lộn nhịp sống, nỗi nhớ
không chỉ làm lòng em “bổi hổi bồi hồi, như đímg đống lừa như ngồi trong than” mà nó còn
làm cho em nhớ nhung, thao thức ngay cả trong giấc ngủ. Có thể nói, với câu thơ ấy, Xuân
Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật nhất của thơ ca hiện đại Việt Nam.
- Nét tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ:
+ Nét tương đồng:
++ Cùng đề tài về nỗi nhớ - một cảm xúc đặc trưng của tình yêu. Đó là nỗi nhớ của người
đang yêu, người sống trọn vẹn trong không gian thương nhớ, vì nhớ mà cứ một mình tưởng
tượng, một mình thao thức nghĩ suy, thậm chí người kia có biết, có hiểu, có thấu hay không
còn chẳng rõ.
++ Đều đặt nhân vật trữ tình trong mối quan hệ với không gian và thời gian để thể hiện
biếu hiện quen thuộc của ca dao như ẩn dụ, hoán dụ, phép điệp, đại từ... Nguyễn Bính đã tạo
nên một hình tượng tương tư rất chân quê. Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi góp phần tạo nên
không gian nghệ thuật thôn dã.
+++ Sóng: Nhà thơ xây dựng cặp hình tượng sóng - em vừa song hành, sóng đôi lại vừa
hòa nhập, thống nhất; đồng thời chọn thể thơ năm chữ với nhịp ngắn, liền mạch dễ chuyển tải
dòng cảm xúc dạt dào, âm điệu của khổ thơ là âm điệu của những con sóng lòng nhiều dư ba.
-
Đánh giá:
+ Tương tư cho thấy hồn thơ Nguyễn Bính mang nét riêng, không lặp lại khi tìm về cội
nguồn thơ ca dân gian để thể hiện nỗi nhớ trong tình yêu của chàng trai thôn quê. Đó là chất
“quê mùa” đáng yêu của một nhà thơ mới. Đồng thời cũng là sự đóng góp làm nên tên tuổi
của Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới 1932 - 1945.
+ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào
thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập... nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp
điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân
Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng
ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn
sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa
đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà.
3. Kết bài :
-
Tình yêu là tình cảm rất nhân văn của con người, nỗi nhớ là trạng thái cảm xúc đặc
trưng, làm nên sắc thái của tình yêu đôi lứa. Thể hiện nỗi nhớ của tình yêu, các nhà thơ đã thể
hiện được chất nhân văn, màu săc văn hóa trong đời sống tâm hồn con người.