ĐỀ SỐ 10
Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Đi lễ đầu năm là truyền thống lâu đời và trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm
linh của người Việt Nam cứ mỗi độ Tết đến Xuân về. Phong tục này đã thấm nhuần vào sâu
trong tâm trí của mỗi người dân, để rồi khi không khí Tết ùa về, mọi người lại chuẩn bị sắm sửa
lễ quả, cùng gia đình bạn bè, người thân nô nức đến các nơi thờ phụng linh thiêng.
Tục lệ đi đền, chùa, phủ... đầu năm không chỉ thể hiện khát vọng về một cuộc hạnh phúc,
no đủ mà đây còn là dịp để người dân Việt tìm về với cội nguồn dân tộc. Có lẽ trong từng nhịp
thở của tiết Xuân, chúng ta lại cảm nhận được sự giao hòa của trời đất. Sự linh thiêng của
những bức tượng Phật, mùi hương trầm lan tỏa, hương hoa ướt đẫm mưa Xuân, mùi của đất mới
hòa trong sắc màu rực rỡ của đèn, hoa... tất cả quyện vào nhau tạo nên một không gian thanh
tịnh, để lại trong lòng người sự thanh thản và bình yên. Sau một năm cố gắng hết mình vì công
việc, chìm trong những bộn bề lo toan của cuộc sống hàng ngày thì đây là thời khắc mọi người
dân Việt được lắng lòng lại, một lòng hướng về nơi linh thiêng, cầu nguyện một cuộc sống sung
túc đủ đầy hơn cho năm sau.
(Phương Anh, Đi lễ đầu năm - Nét đẹp văn hóa tâm linh của người Việt,
tạp chí Quê Hương, số 3/2015)
Câu 1: Đoạn trích trên nhắc đến tục lệ đẹp nào của dân tộc Việt ta?
Câu 2: Giá trị, ý nghĩa của tục lệ được tác giả miêu tả như thế nào?
Câu 3: Phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu sau: Sự linh thiêng của những bức tượng Phật,
mùi hương trầm lan tỏa, hương hoa ướt đẫm mưa Xuân, mùi của đất mới hòa trong sắc màu rực
rỡ của đèn, hoa... tất cả quyện vào nhau tạo nên một không gian thanh tịnh, để lại trong lòng
người sự thanh thản và bình yên.
Câu 4: Theo anh (chị), mỗi người dân cần có ý thức như thế nào trong việc lưu giữ, bảo tồn
văn hóa Việt?
Phần II. Làm văn (7 điểm)
Câu 1 (2 điểm):
Khi trời đẹp hãy chuẩn bị cho thời tiết xấu. (Thomas Fuller).
Bằng đoạn văn khoảng 200 từ, trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vai trò của sự chủ động,
chuẩn bị trước những tình huống xấu của cuộc sống.
++ Một người biết chủ động lường trước những tình huống xấu có thể xảy ra là những người
chuẩn bị những điều kiện, những cơ sở để đối phó với những điều không thể lường trước được.
Họ không chủ quan trước những thuận lợi đã có từ trước mà luôn luôn đề phòng bằng những khả
năng của mình.
++ Dù hiện tại có kết quả như thể nào đi chăng nữa, những người chủ động là những người
suy nghĩ điều xảy ra ở hiện tại có thể không đúng với tương lai.
+ Tại sao cần phải chủ động trước mọi tình huống của cuộc sống?
++ Cuộc sống là thiên biến vạn hóa, không thể lường trước được điều gì có thể xảy ra trong
tương lai. Nếu chúng ta chủ quan, dựa vào kết quả của hiện tại mà không nghĩ đến việc tương lai
có thể thay đổi thì sớm muộn gì cuộc sống cũng đưa ra những sự cố mà mỗi người không thể
lường trước được.
++ Để cuộc sống không gặp phải những tình huống khó khăn, bất trắc cần phải có sự chuẩn bị
những điều kiện vật chất và tinh thần.
++ Muốn nắm bắt những cơ hội trong cuộc sống và không bỏ lỡ những dịp quan trọng thì mỗi
người cần tạo cho mình những cơ hội một cách chủ động trong tương lai.
++ Dẫn chứng: Adam Khoo, tác giả cuốn sách Tôi tài giỏi, bạn cũng thế nhờ đổi mới phương
pháp học tập mà từ một học sinh kém đã thành học sinh giỏi, là một trong những sinh viên xuất
sắc của Singapore, trở thành triệu phú khi chỉ mới 26 tuổi. Đó là một biểu hiện cho sự chủ động,
sự đổi mới trên cơ sở những gì ý thức
về thực tại học tập của mình để thay đổi trong tương lai. Không ỷ lại vào những gì của hiện tại
mà anh luôn luôn chủ động thay đổi để tương lai được tốt đẹp hơn
+ Mở rộng, phản đề: Sự chuẩn bị và chủ động trước mọi hoàn cảnh, không quá lệ thuộc vào
những điều xảy ra ở hiện tại mà quên việc chuẩn bị cho tương lai không có nghĩa là lúc nào
cũng lo âu, suy tính đến những điều chưa xảy ra một cách không có căn cứ.
- Bài học nhận thức và hành động
+ Cuộc sống là những biến đổi xoay vần không ngừng, đó là lí do con người cần phải chủ
động trong mọi việc để ứng biến với mỗi biến động của cuộc sống. Tuy nhiên điều này không
có nghĩa là con người quá lo lắng vào tương lai để kìm nén bản thân và phức tạp hóa cuộc sống
cho đời thơ của Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Tây Tiến là
tên của một đơn vị bộ đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ
biên giới Việt - Lào và đánh tiêu hao sinh lực địch. Địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến
rất rộng, đó là núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội nhưng rất thơ mộng, trữ tình. Chiến sĩ Tây Tiến
ra đi năm ấy phần đông là thanh niên Hà Nội, là những học sinh, sinh viên trí thức như Quang
Dũng. Họ chiến đấu trong hoàn cảnh khắc nghiệt, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn nhưng họ vẫn
lạc quan, thể hiện được vẻ đẹp hào hùng, hào hoa của tuổi trẻ. Cuối năm 1948, Quang Dũng
chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị mang theo nỗi nhớ tha thiết, một ngày ở Phù Lưu Chanh,
nhớ về đơn vị cũ của mình, tâm hồn Quang Dũng đã rung lên và cứ thế nỗi nhớ về thiên nhiên và
con người cứ trào ra và kết tinh lại thành Tây Tiến. Thi phẩm bộc lộ nỗi nhớ sâu sắc của nhân vật
trữ tình đối với miền Tây Bắc và đoàn binh Tây Tiến, thông qua đó khắc họa chân dung người
lính Tây Tiến bi tráng và hào hoa.
+ Việt Bắc - Tố Hữu
++ Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Mỗi thời kì lịch sử, Tố Hữu lại để lại
dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị, như: Từ Ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu
và hoa...Trong đó, Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca chống Pháp nói
chung. Cảm xúc bao trùm bài thơ là hoài niệm về một địa danh lịch sử biết bao gắn bó nghĩa
tình. Trong hoài niệm ấy, sâu đậm nhất là nỗi nhớ cảnh, nhớ người, nhớ về những năm tháng
gian nan mà hào hùng.
++ Việt Bắc là địa danh cách mạng gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc
Việt Nam (1945 - 1954). Địa danh được thành lập vào năm 1946 do yêu cầu của kháng chiến,
Đảng và Bác Hồ phải rời Thủ đô Hà Nội để hoạt động và củng cố lực lượng ở khu vực rừng núi
phía Đông Bắc, gồm: Cao - Bắc - Lạng - Thái - Hà - Tuyên. Từ đó trở đi, Việt Bắc được coi là
thủ đô cách mạng và trong thơ ca nó được gọi là “thủ đô gió ngàn”.
+++ Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, cuộc kháng chiến chống Pháp của
chúng ta đã thành công, thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng. Đây là cơ sở quan trọng
để Đảng và cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội, để củng cố và phát triển đất nước.
+++ Tháng 10/ 1954, Đảng và Chính phủ đã dời chiến khu Việt Bắc để về tiếp quản Thủ đô
Hà Nội. Từ sự kiện lịch sử trọng đại này, Tố Hữu đã viết lên bài thơ Việt Bắc để ca ngợi tình cảm
Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật
Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!
Lòng tôi xao xuyến tình thương xót
Muốn viết bài thơ thẫm lệ nhòa
Tặng những anh tôi tùng rò máu
Đem thân xơ xác giữ sơn hà.
(Lên Cấm Sơn - Thôi Hữu)
++ Bên cạnh cái bi ta còn thấy cái hào hùng: thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm
yếu và tâm hồn bên trong đã làm nên khí chất mạnh mẽ của người lính. “Không mọc tóc” là cách
nói ngang tàng rất lính, hóm hỉnh vui đùa với khó khăn gian khổ của người lính. Mặt khác cái
hào hùng còn hiện lên qua cách dùng từ Hán Việt “đoàn binh”. Chữ “đoàn binh” chứ không phải
là đoàn quân đã gợi lên được sự mạnh mẽ, hùng dũng lạ thường, trong đó có dáng dấp của “Quân
đi điệp điệp trùng trùng” trong thơ Tố Hữu, của “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” (Sức mạnh ba
quân nuốt trôi trâu) trong thơ Phạm Ngũ Lão. Ba từ “dữ oai hùm” gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm
liệt, oai của chúa sơn lâm. Qua đó, ta thấy người lính Tây Tiến vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình,
làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi khó khăn gian khổ.
+ Hai câu thơ tiếp theo là vẻ đẹp của tâm hồn của những chàng trai Hà Nội lãng mạn, hào
hoa:
Mắt trừng gùi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
++ “Mắt trừng” gợi nhiều liên tưởng: mắt trừng là mắt mở to nhìn thẳng về phía kẻ thù với
chí khí mạnh mẽ, quyết liệt, thề sống chết với kẻ thù. Nhưng đôi mắt trừng ấy còn “gửi mộng
qua biên giới” là đôi mắt chan chứa tình, đôi mắt thao thức nhớ về quê hương Hà Nội, về một
dáng kiều thơm trong mộng trong mơ. Với ý nghĩa đó ta thấy, người lính Tây Tiến không chỉ biết
cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ,
thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động, nhớ nhung về vẻ đẹp của Hà Nội: đó có thế là phố cũ,
trường xưa, những con đường mùa thu thơm lừng hoa sữa hay chính xác hơn là nhớ về một dáng
kiều thơm, bóng dáng của những người bạn gái Hà Nội yêu kiều, diễm lệ. Có một thời người ta
Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên
Đường cách mạng, dài theo kháng chiến...
++ Chỉ với hai câu thơ trên, tác giả đã khái quát lên bức tranh toàn cảnh của đoàn quân. Hai
từ “của ta” thể hiện quyển tự hào, tự chủ của đất nước và tự hào hơn nữa là những con đường
kháng chiến, những con đường “Đêm đêm rầm rập như là đất rung”. Trong câu thơ ta bắt gặp từ
láy “đêm đêm”. Từ láy ấy gợi không gian và thời gian, thời điểm hành quân của những người
lính. Nó gợi tả cái khó khăn, gian khổ của đoàn quân. Thời gian kéo dài không chỉ còn là một
đêm cụ thế mà có biết bao nhiêu đêm như thế, chính điều đó đã tô đậm những khó khăn, vất vả
mà người lính gặp phải. Trong thơ ca kháng chiến, cũng có nhiều cuộc hành quân ban đêm như
thể:
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bông bồn chồn nhớ mắt người yêu
(Đất nước, Nguyễn Đình Thi).
++ Trong đời sống hằng ngày, đêm xuống là lúc vạn vật chìm trong giấc ngủ, là thời điểm
nghỉ ngơi của con Người sau một ngày dài mệt nhọc. Thế nhưng trong chiến tranh, đêm đến là
thời điểm chiến đấu, hành quân với khí thế âm vang “rầm rập” của những bước chân người lính.
Nó diễn tả sức mạnh của đoàn quân, là sức mạnh của số đông và cũng là sức mạnh của tinh thần
chiến đấu. Những bước chân chuyển động “như là đất rung” thể hiện tác động của con người tới
thiên nhiên, dường như sức mạnh của con người làm thiên nhiên rung chuyển. Biện pháp cường
điệu hóa được sử dụng đã nêu bật được sức mạnh của đoàn quân, sự quyết tâm của đoàn quân
đạp bằng mọi chông gai, thử thách, tiêu diệt kẻ thù bảo vệ nền độc lập, tự do. Như vậy, qua
không gian rộng lớn, thời gian đằng đẵng và khí thế hào hùng ở Việt Bắc, có thể thấy rõ cuộc
kháng chiến chống Pháp là trường kì, là gian khổ nhưng dân tộc Việt Nam bằng tinh thần yêu
nước, đấu tranh quật cường đã vững vàng, kiên định trong gian khổ, chung sức đồng lòng đưa
cuộc kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang.
+ Hai câu thơ tiếp theo miêu tả cụ thể hình ảnh bộ đội ta hành quân ra trận:
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Anh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
++ Đó là một hình ảnh vừa hào hùng, vừa lãng mạn. Từ láy “điệp điệp trùng trùng” khắc họa
đoàn quân đông đảo, bước đi mạnh mẽ như những đợt sóng dâng trào, đợt này nối tiếp đợt kia
đẹp toàn thể, hướng tới sổ đông. Tầm vóc của câu thơ lãng mạn đẩy hình ảnh người lính chống
Pháp sánh ngang với vẻ đẹp của thiên nhiên, vũ trụ.
+ Quang Dũng viết bài thơ Tây Tiến trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp do đó
hình ảnh người lính hiện lên với nhiều khó khăn, gian khổ, đói cơm, sốt rét đến xanh da, rụng tóc
nhưng không vì thế mà mất đi chất thép vốn có của người lính, rất “dữ oai hùm” nhưng vẫn đỗi
mơ mộng chất Hà thành. Qua đó ta thấy hồn thơ Quang Dũng thiên về miêu tả những cái phi
thường trong những hoàn cảnh rất phi thường.
+ Thi phẩm Việt Bắc được Tố Hữu viết sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Dù có gian khổ, hi
sinh, có bịn rịn, lưu luyến khi chia ray nhưng cũng là chia tay trong chiến thắng, trong khúc khải
hoàn. Mặt khác, nét trữ tình chính trị thấm đẫm trong hồn thơ Tố Hữu nên ngòi bút của tác giả
thiên về xu hướng ngợi ca, biểu dương nên hình ảnh thơ bay bổng, tự hào. Hình ảnh đoàn quân
ra trận trong Việt Bắc vì thế mà mang tầm vóc lớn lao, kì vĩ của “Bốn mươi thế kỉ cùng ra trận”.
c. Kết luận
- Tóm lại, cùng miêu tả vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận nhưng do xuất phát từ cảm hứng
miêu tả khác nhau của các nhà thơ nên hành trình đó rất khác nhau. Chính vì thế mà hình ảnh
người lính thời chống Pháp hiện lên trong hai đoạn thơ vừa có nét chung, lại vừa có những nét
riêng độc đáo. Cũng từ nét riêng đó làm nổi bật tầm vóc con người Việt Nam trong kháng chiến,
kiêu hùng, bất khuất. Năm tháng rồi cũng qua đi, mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ kết thúc nhưng
những bản anh hùng ca về người lính đã anh dũng chiến đấu vì nền hòa bỉnh, độc lập của dân tộc
sẽ không bao giờ phai mờ trong trái tim độc giả nhiều thế hệ