Tìm hiểu hoạt động mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học hiện đang sống tại làng Hữu Nghị Việt Nam - Pdf 48

Header Page 1 of 27.

Tìm hiểu hoạt động mô hình hỗ trợ phục hồi
chức năng và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ
nhiễm chất độc hóa học hiện đang sống tại
làng Hữu Nghị Việt Nam (Xã Vân CanhHuyện Hoài Đức- thành phố Hà Nội)
Đoàn Thị Phương Liên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn ThS. Công tác xã hội: 60 90 01 01
Người hướng dẫn : GS.TS. Tô Duy Hợp
Năm bảo vệ: 2014
134 tr .
Abstract. Với đề tài luận văn “Tìm hiểu hoạt động mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và
hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học hiện đang sống tại làng Hữu Nghị Việt
Nam” ngoài phần mở đầu, kết luận – khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn được tác giả chia làm 3 chương. Chương 1: Trong chương này tác giả
trình bày và giới thiệu về các khái niệm chủ chốt có liên quan tới đề tài, các lý thuyết được áp
dụng vào trong nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài, đồng thời
khái quát về lịch sử thành lập, chức năng nhiệm vụ và quá trình hoạt động của địa bàn khảo sát
tiến hành nghiên cứu.Chương 2: Ở chương 2 tác giả trình bày về thực trạng tình hình chữa trị,
phục hồi chức năng cho trẻ nhiễm chất độc hóa học đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam
được tiến hành ra sao, bao gồm ba giai đoạn. Tuy nhiên các giai đoạn này có mối quan hệ mật
thiết với nhau và lồng ghép chuyển tiếp giữa các giai đoạn. Các giai đoạn đó có vai trò rất
quan trọng đối với quá trình chữa trị phục hồi chức năng. Giai đoạn 1 các bác sĩ khám sàng
lọc, tổng quát, đánh giá tình trạng sức khỏe, dạng tật và xây dựng phác đồ điều trị sao cho phù
hợp với các em, đồng thời đánh giá khả năng nhận thức, tâm lý để có hướng hỗ trợ về tâm lý.
Song song với hoạt động hỗ trợ chữa trị, phục hồi chức năng cho trẻ tác giả còn trình bày về
thực trạng dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc da cam tại Làng Hữu Nghị trong những năm vừa
qua. Bên cạnh trình bày thực trạng chữa trị, phục hồi chức năng và dạy nghề cho trẻ nhiễm
chất độc hóa học ở Làng Hữu Nghị tác giả còn so sánh các hoạt động này của Làng với một số


động nhằm trợ giúp cho những người bị nhiễm chất độc hóa học, đặc biệt là con đẻ của
họ như xây dựng chính sách mới, thành lập các trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng
người có công, trung tâm phục hồi chức năng, trung tâm dạy nghề… Nhiều chính sách,
chế độ ưu đãi được thực hiện đã có những hỗ trợ hữu ích cho người hoạt động kháng
chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học trong đời sống hằng ngày, nhất là
trong việc phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề.

Footer Page 2 of 27.


Header Page 3 of 27.

Làng Hữu Nghị Việt Nam được xây dựng để nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa trị,
dạy nghề, phục hồi chức năng có thời hạn cho một số người hoạt động kháng chiến bị
nhiễm chất độc hóa học trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước và con của
những cựu chiến binh bị khuyết tật do hậu quả của chất độc hóa học gây ra. Mặc dù
đây là Làng Hữu Nghị lớn nhất của Việt Nam, có đội ngũ cán bộ giáo viên tâm huyết
với nghề, là trung tâm áp dụng mô hình hoạt động giáo dục, dạy nghề cho trẻ khuyết
tật khá hiệu quả nhưng bên cạnh những hoạt động đã làm được thì việc quan tâm đến
các vấn đề tâm lý, hỗ trợ nhóm đối tượng này như: chế độ ăn uống, chữa trị phục hồi
chức năng, học nghề, tìm kiếm việc làm… vẫn chưa được nhìn nhận và đánh giá đúng
đắn trong khi số lượng người bị nhiễm chất độc hóa học ở Việt Nam hiện nay lại quá
đông và các kiến thức, kỹ năng mang tính bài bản chuyên nghiệp của của cán bộ,
nhân viên trong làng Hữu Nghị - với tư cách là một nhân viên công tác xã hội chuyên
nghiệp lại còn nhiều hạn chế...
Tất cả những vấn đề trên đã gợi lên trong chúng tôi hướng nghiên cứu:
“Tìm hiểu hoạt động mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy
nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học hiện nay đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam
xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Năm 2010 UNICEF tiến hành thực hiện“Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở
Việt Nam”. Báo cáo lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xét tình hình trẻ
em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng,
không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ tình
hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ em
giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam. Trong đó, nhóm trẻ em thiếu sự chăm sóc
của bố mẹ ở Việt Nam có diễn biến phức tạp. Các cơ sở chăm sóc cả công lập và dân
lập có ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại
nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính thức khác. Tình
trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là biện
pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác. Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ
ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố những đối tượng hoạt
động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật. Báo cáo còn chỉ ra nguyên nhân của
tình trạng bất bình đẳng giới ở trẻ em, sự bất cập trong chăm sóc, giáo dục trẻ em ở
Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở đó báo cáo đưa ra khuyến nghị là cần phải lồng ghép
vấn đề giới vào các chính sách, chiến lược và các hoạt động thực tiễn, và sử dụng các

Footer Page 4 of 27.


Header Page 5 of 27.

số liệu phân tổ để giám sát vấn đề bình đẳng giới. Bình đẳng giới, đặc biệt là bình đẳng
giới cho trẻ em gái dân tộc thiểu số vẫn chưa được quan tâm đầy đủ [35].
Tháng 5 năm 2013 Báo cáo tình hình Trẻ em thế giới năm 2013 của UNICEF
với chủ đề: Trẻ em Khuyết tật cho biết trẻ em khuyết tật là nhóm ít có khả năng được
chăm sóc y tế hoặc được đi học nhất. Báo cáo này chỉ ra trẻ khuyết tật và cộng đồng sẽ
được lợi nhiều hơn nếu xã hội quan tâm tới những gì trẻ khuyết tật có thể đạt được
thay vì tập trung chú ý vào những khiếm khuyết của các em. Quan tâm đến những khả
năng và tiềm năng của trẻ khuyết tật sẽ tạo ra lợi ích cho toàn xã hội. Báo cáo chỉ ra

tâm sự giữa bố, mẹ, ông, bà với con cái càng thấp thì càng ảnh hưởng đến sự phát triển
sức khỏe của con cái, đặc biệt là sự phát triển của sức khỏe tinh thần. Từ nghiên cứu
này tác giả đã đưa ra sự cảnh báo cho các bậc phụ huynh trong việc làm bạn với con
mình, đây là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển về tâm lý và thể chất của trẻ.
Các bậc phụ huynh và các thành viên trong gia đình cần có sự quan tâm, chia sẻ nhiều
đối với trẻ, hãy là những người bạn lớn của trẻ. Điều này không chỉ giúp cho sự phát
triển về tâm lý của trẻ được tốt hơn mà còn làm gắn kết tình cảm gia đình đang có xu
hướng rời rạc trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay [26].
Tác giả Trịnh Hòa Bình với nghiên cứu “Sự hiểu biết giữa gia đình và trẻ em về
vấn đề quyền trẻ em hiện nay” đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4/2005 đã tập trung
điều tra về kiến thức, thái độ, hành vi của cộng đồng về quyền trẻ em, (2004- 2005)
trên quy mô 10 tỉnh, thành phố trong cả nước với sự tham gia của 3.000 cha mẹ. Một
trong những phát hiện quan trọng trùng khớp với những kết quả nghiên cứu nêu trên là
giữa cha mẹ và con cái thiếu hiểu biết lẫn nhau, thậm chí trong gia đình Việt Nam hiện
nay thường sảy ra mâu thuẫn, xung đột giữa các thế hệ [8].
Ngoài các nghiên cứu về trẻ em và trẻ em khuyết tật nói chung của các nhà
khoa học, nhà nghiên cứu có chuyên môn và kinh nghiệm thì những năm gần đây còn
có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật do
nhiễm chất độc hóa học.
Chất độc hóa học, một loại chất được tạp chí Time của Mỹ liệt vào danh sách
“50 phát minh tồi tệ nhất của loài người ”. Sở dĩ chất da cam bị liệt vào danh sách đó
là bởi những tác hại lâu dài nó gây ra đối với sức khỏe con người và môi trường khi bị
nhiễm phải. Chính bởi tính chất độc hại của nó mà trong suốt nhiều năm qua các nhà
khoa học đã không ngừng có những công trình nghiên cứu về nó. Trong những năm
gần đây các nhà khoa học Việt Nam và trên thế giới đã có những công trình nghiên
cứu về các tác hại của chất da cam, ảnh hưởng của nó tới sức khỏe của con người như
thế nào? Những bệnh tật nào mà con người mắc phải mà nguyên nhân là nhiễm chất da
Footer Page 6 of 27.



con ra đã phải nghỉ việc ở nhà chăm sóc con. Mọi khoản chi tiêu của gia đình chỉ trông
chờ vào tiền lương hưu ít ỏi và tiền chở hàng thuê của người lính già. Vậy đó, giữa thủ
Footer Page 7 of 27.


Header Page 8 of 27.

đô hai con người từng trải qua kháng chiến lại có cuộc sống khổ cực như vậy. Vì đâu
họ khổ đến vậy? Tất cả vì thứ chất độc hóa học mang tên chất độc màu da cam [16; tr
114- 119].
Ngày 11 tháng 3 năm 2011 trên báo điện tử của Hội khuyến học Việt Nam có
đăng tải bài viết “ Năm lần đào hố chôn con” của tác giả Nguyễn Duy- Hậu Bá. Các
tác giả đã phản ánh hoàn cảnh bi thương của cựu chiến binh là ông Nguyễn Văn Đính
và vợ là bà Hoàng Thị Điểm 9 lần sinh con thì 5 lần ông phải tự tay mua quan tài, đào
hố chôn con. Những đứa con của ông đều chết vì các di chứng như: điếc, xuất huyết
tiểu cầu, tràn dịch màng bụng, bầm tím da, lở loét toàn thân, phù toàn thân không đi lại
được, vỡ u ở đầu, hoại thân nặng và đái ra màng, thậm chí có đứa vừa ra đời chưa kịp
đặt tên đã chết. Đứa con út của gia đình ông là niềm hi vọng cuối cùng nhưng trong
người luôn mang trọng bệnh, suy kiệt về sức khỏe, máu không đông, thân hình tiều
tụy, đầy những vết lở loét, bầm tím. Con trai cả của ông tuy đã lấy vợ nhưng lại bị liệt
bả vai trái và con gái anh cũng bị ảnh hưởng chất độc da hóa học dẫn tới khuyết tật co
quắp tay chân. Hiện tại bản thân ông Đính đang bị viêm gan nặng, không thể lao động
nuôi sống gia đình chứ nói gì đến chữa bệnh. Căn nhà của ông mái nhiều chỗ có lỗ
thủng mà chưa có tiền sửa chữa. Chất độc hóa học đã khiến cho gia đình ông nghèo
đói, bệnh tật, bất hạnh, con cháu sinh ra không sống được. Đây là nỗi đau dai dẳng
không chỉ về thể chất mà còn cả tinh thần khiến cho bất kỳ ai có lương tri cũng phải
rơi nước mắt khi thấy hoàn cảnh của những gia đình như gia đình ông Đính [38.4].
Bên cạnh những bài viết, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thì
còn có những cuốn sách viết về đề tài nạn nhân chất độc da cam như cuốn sách: “Vì
nỗi đau da cam” của Thông tấn xã Việt Nam, cuốn “120 câu hỏi và đáp về chất độc da

3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm kiểm chứng những phương pháp và kỹ
năng can thiệp phù hợp đối với đối tượng trẻ bị khuyết tật do nhiễm chất độc hóa học
là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Từ đó kiểm chứng
trong thực tế một số lý thuyết ứng dụng trong Công tác xã hội bao gồm: Lý thuyết
chức năng và lý thuyết quản trị công tác xã hội. Đồng thời cũng nêu rõ vai trò của nhân
viên công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị
nhiễm chất độc hóa học tại Làng Hữu nghị, củng cố sâu sắc hơn những hiểu biết về các
lý thuyết và phương pháp, kỹ năng Công tác xã hội đã được học và thực hành.
Bên cạnh đó thông qua việc tìm hiểu mô hình và tính hiệu quả của nó, nghiên
cứu cũng góp phần cung cấp thêm tài liệu, kiến thức cho những người quan tâm đến
vấn đề hỗ trợ kỹ năng sống, chăm sóc cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học sống trong
Footer Page 9 of 27.


Header Page 10 of 27.

Làng Hữu Nghị. Đặc biệt, nó còn góp phần hình thành lên nhãn quan khoa học về hoạt
động của các mô hình hỗ trợ, chăm sóc đang diễn ra hiện nay. Vì trên thực tế vẫn còn
những sai lầm khi cho rằng mô hình chăm sóc trẻ là con đẻ người hoạt động kháng
chiến bị nhiễm chất độc hóa học phải như một gia đình và hỗ trợ như người trong gia
đình. Nếu hoạt động hỗ trợ chưa làm được như vậy thì bị coi là kém hiệu quả, đây là
một cách nhìn lệch lạc cần được điều chỉnh, khắc phục.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần cùng với Làng Hữu nghị xây dựng và hoàn thiện
mô hình chăm sóc, giáo dục và dạy nghề cho trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc hóa
học kết hợp với dạy kỹ năng sống và hỗ trợ về mặt tâm lý cho những trẻ em ấy- một
hoạt động gắn liền với đặc trưng của công tác xã hội. Từ đó mở rộng áp dụng mô hình,
nhằm giúp cho trẻ khuyết tật bị nhiễm chất độc hóa học là con đẻ người hoạt động
kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học tăng cường kỹ năng sống tiến tới hòa nhập

- Xây dựng cơ sở lý thuyết và thao tác hóa các khái niệm
- Tìm hiểu những đặc điểm về nhóm trẻ bị nhiễm chất độc hóa học tại Làng
Hữu nghị.
- Tìm hiểu các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học
trong Làng và đánh giá hiệu quả mà những hoạt động đó đem lại.
- Tìm hiểu các hoạt động của Nhân viên Xã hội xem họ đã làm tốt vai trò của
mình hay chưa trong việc chăm sóc, dạy nghề, dạy kỹ năng sống cho trẻ bị nhiễm chất
độc hóa học.
- Tìm hiểu: Các đối tượng được nuôi dưỡng phục hồi chức năng và học nghề tại
Làng Hữu Nghị Việt Nam là những ai? Quy trình tiếp nhận đối tượng ở đây như thế
nào? Chữa trị phục hồi chức năng cho các em bị nhiễm chất độc da cam bao gồm bao
nhiêu giai đoạn? Quá trình trị liệu tâm lý, hòa nhập cộng đồng của các em được tiến
hành như thế nào, bằng các biện pháp nào? Có hiệu quả ra sao? Các nghề mà các em bị
nhiễm chất độc da cam có thể được học tại Làng Hữu Nghị Việt Nam là gì? Việc học
nghề của các em có hiệu quả không? Sau khi học nghề các em có xin được việc
không? Các em tái hòa nhập cộng đồng có thành công không?
Tìm hiểu nhu cầu của trẻ hiện đang sống tại Làng và điều kiện thực tế của Việt
Nam để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mô hình hiện có nhằm hỗ trợ cho
đối tượng chính sách - trẻ em bị khuyết tật là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị
nhiễm chất độc hóa học được nhiều hơn.
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

Footer Page 11 of 27.


Header Page 12 of 27.

5.1 Đối tượng: Tìm hiểu hoạt động của mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và
hướng nghiệp trong dạy nghề cho trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc hóa học hiện nay
đang sống tại làng Hữu Nghị Việt Nam.

Header Page 13 of 27.

- Đặc điểm hoạt động của mô hình chăm sóc, hỗ trợ trẻ cho trẻ bị nhiễm chất
độc hóa học tại Làng Hữu Nghị là dựa trên nền tảng triết lý lấy con người làm trung
tâm, tất cả vì sự phục hồi và sự hoàn thiện của con người, nhất là các em nhỏ bị khuyết
tật do nhiễm chất độc da cam họ là con đẻ của những người hoạt động kháng chiến.
- Hoạt động chăm sóc, hỗ trợ trẻ bị nhiễm chất độc hóa học mà Làng Hữu nghị
quan tâm và triển khai chủ yếu là chăm sóc, trị liệu và dạy nghề.
- Đại đa số trẻ bị nhiễm chất độc hóa học khi sống trong Làng và sau này ra bên
ngoài đều có thể hòa nhập với xã hội và có đủ sức khỏe, năng lực tự kiếm sống nuôi
bản thân.
- So với mô hình những cơ sở phục hồi chức năng, dạy nghề cho trẻ bị nhiễm
chất độc hóa học khác thì mô hình Làng Hữu Nghị Việt Nam ưu việt hơn bởi đây là
mô hình lớn của cả nước được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư cả về chuyên môn
cho nhân viên công tác xã hội và cơ sở vật chất.

Footer Page 13 of 27.


Header Page 14 of 27.

8. Phương pháp nghiên cứu
8. 1 Phương pháp tiếp cận
Trong đề tài này quan điểm biện chứng là nền tảng để tôi tiếp cận với vấn đề
nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu.
Quan điểm biện chứng, nguyên tắc về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng
được áp dụng để lí giải các vấn đề trong nghiên cứu. Hoạt động hỗ trợ cho trẻ bị nhiễm
chất độc hóa học sống tại Làng Hữu Nghị được coi trọng đã đánh dấu một bước phát
triển mới trong lịch sử phát triển xã hội của đất nước. Chiến tranh bảo bảo vệ tổ quốc
đã tạo lập ra nhóm những người hoạt động kháng chiến có con bị khuyết tật do ảnh

-

Trẻ bị nhiễm chất độc hóa học với các phản ứng
của chúng trước các tình huống nảy sinh trên thực
tế

-

Sự thích ứng của trẻ bị nhiễm chất độc hóa học

Nhóm Thân chủ (Nhóm

trong môi trường hiện tại được thể hiện như thế

trẻ bị nhiễm chất độc hóa

nào? (Trong học tập và vui chơi, kết bạn)

học)

-

Giao tiếp của trẻ bị nhiễm chất độc hóa học đối
với các thành viên trong Làng Hữu nghị.

-

Giao tiếp của trẻ bị nhiễm chất độc hóa học với
cán bộ trung tâm và sinh viên thực tập, người lạ.



Header Page 16 of 27.

Đề cương thảo luận nhóm:
Nhóm trẻ bị nhiễm chất độc hóa học:
Mục đích: Tìm hiểu về suy nghĩ, cảm nhận của trẻ bị nhiễm chất độc hóa học về
các hoạt động hỗ trợ trẻ trong Làng. Những khó khăn, thuận lợi của trẻ khi sống tại
Làng…
Số lượng trẻ tham gia: 10
Nhóm cán bộ, nhân viên:
Mục đích: Thu thập thông tin từ phía nhóm cán bộ, nhân viên về mô hình hoạt
động của Làng. Những khó khăn và thuận lợi khi triển khai các hoạt động mà Làng
đang gặp phải, đồng thời tìm hiểu sáng kiến của họ (dựa trên nhận thức, kinh nghiệm
đã có và điều kiện thực tế của Làng, của Việt Nam) để bổ sung, hoàn thiện thêm mô
hình đang có, ý kiến của cán bộ, nhân viên về công việc họ đang tham gia giúp trẻ….
Số lượng tham gia: 8 người
8.2.4 Phân tích tài liệu sẵn có
Công trình sử dụng, trích dẫn, tổng hợp các số liệu, thông tin từ các nguồn tài
liệu có như:
+ Các báo cáo: Báo cáo phân tích tình hình trẻ em Việt Nam 2010 của
UNICEF, báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2013 của UNICEF, báo cáo số liệu trẻ
em năm 2010 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, báo cáo của Trung ương hội
cựu chiến binh Việt Nam, báo cáo tình hình hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy
nghề cho cựu chiến binh, trẻ khuyết tật của Làng Hữu Nghị Việt Nam.
+ Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH 11
ngày 29/6/2005 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
+ Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với
cách mạng số 04/2012/UBTVQH 13 ngày 16/7/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
+ Thông tư số 04 /TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 2 năm 2011 quy định tiêu
chuẩn chăm sóc tại cơ sở bảo trợ xã hội.

nghiệp dạy nghề cho trẻ khuyết tật do nhiễm chất độc hóa học đang sống tại Làng Hữu
Nghị Việt Nam.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Báo cáo thành tích 15 năm hoạt động của Làng Hữu Nghị Việt Nam

2.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Báo cáo số liệu trẻ em của các địa
phương năm 2010

3.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Luật người khuyết tật và một số văn bản
luật liên quan, NXB Lao động – xã hội, 2010

Footer Page 17 of 27.


Header Page 18 of 27.

4.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Kết quả khảo sát người khuyết tật 2011,
NXB Lao động – Xã hội.

5.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với UNICEF “xây dựng môi

tác xã hội trực tiếp”, NXB Đại học sư phạm
14.

Nguyễn Bá Đạt (2010), Tư vấn hướng nghiệp trong công tác dạy nghề cho thanh
niên, thiếu niên khuyết tật nạn nhân chất độc hóa học”

15. Tô Duy Hợp, An sinh xã hội tam nông – một số vấn đề lý luận cơ bản, đăng trên
Tạp chí Xã hội học số 1 năm 2006
16. Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, Khát vọng và sẻ chia
17. Trần Văn Minh (2010), “Cần phân biệt rõ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm
chất độc da cam với nạn nhân chất độc da cam, thương binh, bệnh binh”. Tạp chí lao
động xã hội số, 383 (Từ 16-31/5/2010), 25-26
18.

Lê Văn Phú (2004), “Công tác xã hội”, NXBĐHQGHN, Hà Nội.

Footer Page 18 of 27.


Header Page 19 of 27.

19. Quốc hội (2012), Bộ luật lao động sửa đổi
20.

Quốc hội(2004), Luật bảo vệ, giáo dục và chăm sóc trẻ em

21.

Quốc hội (2006), Luật dạy nghề



31. Từ điển xã hội học, của G.Endrweit và G. Trommsdorff (2002), NXB Thế giới.
32. Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (2011), Người khuyết tật ở Việt Nam
một số kết quả chủ yếu từ tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009.
33.

Ủy ban thường vụ Quốc hội (2005),Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng
số 26/2005/PL-UBTVQH 11 ngày 29 tháng 6 năm 2005.

34. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2012), Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp
lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH 13 ngày 16 tháng 7
năm 2012.
35. UNICEF Việt Nam (2010), Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam
36.

UNICEF (2013), Báo cáo tình hình Trẻ em thế giới năm 2013 với chủ đề: Trẻ em
Khuyết tật

Footer Page 19 of 27.


Header Page 20 of 27.

37. Văn phòng Lao động Quốc tế Geneva, Công ước (số 159) và Khuyến nghị (số 168) về
Phục hồi chức năng lao động và việc làm người khuyết tật.
38. Thông tin cập nhật từ Internet
38.1 http:// www.vava.org.vn
38.1.1 http:// www.vava.org.vn Trọng Kha- An Điền: “Chất độc da cam phát minh tồi
tệ nhất thế giới”
38.1 .2 http:// www.vava.org.vn Công Lý: “Thái Nguyên: Hệ lụy từ nạn hồ sơ thương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status