tìm hiểu một số mô hình chủ nghĩa xã hội tiêu biểu trên thế giới từ năm 1917 đến nay - Pdf 28


TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

TÌM HIỂU MỘT SỐ MÔ HÌNH CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI TIÊU BIỂU TRÊN
THẾ GIỚI TỪ NĂM 1917 ĐẾN NAY

Chủ nhiệm đề tài:
ThS. NGUYỄN BẢO KIM

BAN GIÁM HIỆU LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Long Xuyên, tháng 10 năm 2010 PHẦN TÓM TẮT
Trên cơ sở phê phán chủ nghĩa tư bản một cách khoa học, C. Mác đã chỉ ra mô hình
mục tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa và điều kiện tiên quyết để thực hiện nó.
V.I. Lênin là người đầu tiên lãnh sứ mạng hiện thực hóa lý tưởng của C. Mác. Song,
trong điều kiện đặc thù của nước Nga, V.I. Lênin đã sớm nhận ra là không thể trực tiếp
đi lên chủ nghĩa xã hội được. Vì vậy, ngay từ năm 1921, NEP đã được đưa ra và V.I.
Lênin đã hết sức tập trung suy nghĩ, tìm tòi bước đi sao cho thích hợp với đặc thù nước
Nga. Nhưng đáng tiếc là Ông đã không đủ thời gian.
Trong bối cảnh đặc biệt của Liên Xô giữa những năm 20 của thế kỷ XX, J.V. Xtalin
đã dựng lên và thực thi ở Liên Xô một mô hình chủ nghĩa xã hội “trực tiếp” và duy ý
chí. Nét đặc thù của nó là tập trung quyền lực vô hạn vào tay nhà nước. Do thực hiện
kéo dài mô hình Xtalin đã biến nó trở thành sợi dây trói buộc sự nghiệp phát triển lý
luận và thực thi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô cũng như các

1

MỤC LỤC
Trang
PHẦN TÓM TẮT ……………………………………………………………………...1
MỤC LỤC………………………………………………………………………………2
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………...3
NỘI DUNG……………………………………………………………………………...6
Chương 1
SỰ NHẬN THỨC, TÌM TÒI MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
CỦA CÁC NHÀ MÁC XÍT KINH ĐIỄN……………………………………………..6
1.1. Sự nhận thức của C. Mác – Ph. Ăngghen về mô hình, mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội…………………………………………………………….6
1.2. Sự tìm tòi và nhận thức của V.I. Lênin về mô hình chủ nghĩa xã hội
hiện thực ở nước Nga trong những năm (1917 – 1924)………...........................7
Chương 2
TÌM HIỂU MỘT SỐ MÔ HÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
TIÊU BIỂU TRÊN THẾ GIỚI……………………………………………………….14
2.1. Tìm hiểu mô hình chủ nghĩa xã hội Liên Xô (1925 – 1991)…………………..14
2.2. Tìm hiểu mô hình chủ nghĩa xã hội Nam Tư (1848 – 2006)…………………..22
2.3. Tìm hiểu quá trình hoàn thiện lý luận (1941 – 1992) và thành tựu,
triển vọng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc (1978 – 2010)……...30
Chương 3
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM….43
3.1. Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và sự tìm tòi đổi mới của
Đảng Cộng sản Việt Nam (1979 – 1986)……………………………………...43
3.2. Giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước (1986 – 2010)………………………….45
3.3. Những thành tựu chủ yếu đạt được qua 25 năm đổi mới (1986 – 2010)………51
KẾT LUẬN……………………………………………………………………………58
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………….60

Lịch sử chủ nghĩa xã hội hiện thực từ 1917 đến nay là một mảng kiến thức rất quan
trọng trong chương trình lịch sử thế giới hiện đại, nhưng chưa được biên soạn đầy đủ
trong các sách giáo khoa, giáo trình và các sách chuyên khảo. Việc tìm hiểu sâu về lịch
sử chủ nghĩa xã hội hiện thực sẽ góp phần bổ sung phần nào khiếm khuyết nêu trên. Từ
đó đề tài sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập của
giáo viên, sinh viên cũng như tất cả những ai quan tâm về vấn đề này.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn “ Tìm hiểu một số mô hình chủ
nghĩa xã hội tiêu biểu trên thế giới từ năm 1917 đến nay” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời luôn gắn liền với hoạt động thực tiễn của các
Đảng Cộng sản lớn trên thế giới cùng với các lãnh tụ như V.I. Lênin, J.V. Xtalin (Liên
Xô), G.B. Tito (Nam Tư), Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình (Trung Quốc). Tùy theo
thời cuộc, đặc điểm đất nước và tùy thuộc vào nhận thức, mà mỗi Đảng – Lãnh tụ đã đề
xướng và chỉ đạo thực thi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội theo những mô hình
khác nhau. Từ thực tiễn ấy đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều học giả trên
thế giới, kể cả các học giả tư sản. Chính vì thế, sách báo viết về chủ nghĩa xã hội hiện
thực rất phong phú, đa dạng. Đặc biệt cuối thế kỉ XX, trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội
hiện thực lâm vào khủng hoảng, sụp đổ một mảng lớn thì công tác nghiên cứu về chủ
nghĩa xã hội trong và ngoài nước được đẩy mạnh, từ đó xuất hiện ngày càng nhiều công
trình nghiên cứu. Có thể dẫn ra đây một số công trình có liên quan đến đề tài ở những
mức độ khác nhau mà chúng tôi đã có điều kiện tiếp xúc:
Ở nước ngoài:
Năm 2003, các học giả Mác xít Trung Quốc đã cho ra mắt nhiều công trình tham
khảo quy mô liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu, trong đó nổi bật nhất là bộ sách
tham khảo “Lịch sử chủ nghĩa Mác” gồm 4 tập do Trang Phúc Linh làm chủ biên đã
3

được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành. Công trình “Hai chủ nghĩa một trăm
năm” của Tiêu Phong cũng do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2004. Các
công trình này đã bàn nhiều về các mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên phương diện

G.B. Tito tạo lập, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình tạo dựng
và công cuộc tìm tòi, đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu ba mô hình chủ nghĩa xã hội tiêu biểu trên thế giới từ
năm 1917 đến nay, đó là mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, mô hình chủ nghĩa xã hội
ở Nam Tư do Xtalin và Tito tạo lập; mô hình chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc do Đặng
Tiểu Bình tạo dựng và công cuộc tìm tòi, đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. Trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, chúng tôi chỉ dừng
lại ở việc trình bày bối cảnh, sự xuất hiện, các đặc trưng cơ bản, thành tựu chủ yếu của
mỗi một mô hình, từ đó cố gắng nêu ra một vài nhận xét bước đầu về vấn đề nghiên
cứu.

4

5. Nội dung nghiên cứu
Đề tài trình bày: Sự nhận thức mô hình, mục tiêu và sự tìm tòi con đường xây dựng
chủ nghĩa xã hội của các nhà Mác xít kinh điển; Bối cảnh lịch sử, sự xác lập, những đặc
trưng cơ bản và những sai lầm dẫn đến khủng hoảng, sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã
hội Liên Xô và Nam Tư; Quá trình hoàn thiện lí luận và thành tựu, triển vọng của mô
hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc; Công cuộc tìm tòi, đổi mới xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài là một vấn đề thuộc chuyên ngành lịch sử, vì vậy chúng tôi tuân thủ
phương pháp nghiên cứu của bộ môn đó là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic,
trên cơ sở phương pháp luận sử học của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Phương pháp lịch sử xem xét, nghiên cứu các mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực
tiêu biểu trên thế giới từ năm 1917 đến nay trong tính đầy đủ, hiện thực, cố gắng dựng
lại bức tranh toàn cảnh về các mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực như đã từng diễn ra
với những nét cơ bản nhất. Phương pháp lôgic nhằm làm rõ cái cốt lõi, bản chất, khuynh
hướng của các mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Với việc ấn hành “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” vào năm 1848, chủ nghĩa xã hội
khoa học Mác xít chính thức ra đời thay thế cho các ý tưởng, lí luận chủ nghĩa xã hội
không tưởng trước đó. Sở dĩ gọi lý luận của C. Mác về chủ nghĩa xã hội là “khoa học”
là vì nó không dựa vào nguyện vọng chủ quan và tưởng tượng, mà là được xây dựng
trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, trên cơ sở
nhận thức được sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và luận giải một cách khoa học
rằng, thắng lợi của giai cấp vô sản và thất bại của giai cấp tư sản là tất yếu như nhau,
rằng chủ nghĩa xã hội tất yếu sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, đồng thời vạch rõ con đường
đúng đắn và khả thi để thực hiện chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội khoa học Mác xít
ra đời là kết quả tất yếu của sự phê phán một cách khoa học chủ nghĩa tư bản trong thời
kỳ công nghiệp hóa cao độ của nó.
Ở thời C. Mác – Ph. Ăngghen, cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa đặt ra một cách
trực tiếp, nhưng từ sự phê phán một cách khoa học chủ nghĩa tư bản, hai ông đã nhận ra
rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ nổ ra và thắng lợi trước hết ở một loạt các nước tư
bản phát triển nhất: rằng chuyên chính vô sản là hình thái chính quyền tất yếu trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bằng sự mẫn cảm chính trị của mình, hai ông sớm nhận
ra rằng, để đạt đến chủ nghĩa cộng sản hoàn thiện, nhân loại tất yếu phải trải qua giai
đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. “Chủ nghĩa xã hội là chế độ thay thế chủ nghĩa tư
bản, là một chế độ xã hội mà đặc điểm là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, không có
tình trạng người bóc lột người, có nền sản xuất xã hội kế hoạch hóa trong toàn xã hội; là
giai đoạn đầu của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa” (A.M. Rumiantxep,
1986: 400). Tuy không thể chỉ ra cách thức biến đổi cụ thể của chủ nghĩa xã hội trong
quá trình vận động của nó, nhưng hai ông đã chỉ ra các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa
xã hội khi nó phát triển đầy đủ, bao gồm:
Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội tương lai là xã hội phát triển cao hơn hẳn chủ nghĩa tư
bản về mọi mặt mà trước hết là về lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội được hình
thành trên cơ sở nền kinh tế công nghiệp hóa cao độ và phát triển cân đối, bền vững.
Thứ hai, trong xã hội xã hội chủ nghĩa đã hoàn thiện, thì chế độ tư hữu sẽ được xóa
bỏ hoàn toàn, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu sẽ được thiết lập và giai cấp
và sự khác biệt giai cấp sẽ dần dần bị xóa bỏ. Trong bài viết “Quốc hữu hóa ruộng đất”

như trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
Thứ tư, trong xã hội xã hội chủ nghĩa hoàn thiện, sẽ không còn quan hệ hàng hóa –
tiền tệ. Lúc đó lao động của cá nhân trực tiếp trở thành một bộ phận của toàn bộ xã hội,
vì vậy nguyên tắc “ Phân phối theo lao động” sẽ được thực hiện một cách trực tiếp,
thông qua “một giấy chứng nhận nào đó” (giấy xác nhận mức độ đóng góp lao động cá
nhân), chứ không thông qua hình thức quanh co của tiền tệ nữa. Trong “Phê phán cương
lĩnh Gôta” (1875), C. Mác viết rằng khi chủ nghĩa xã hội được thiết lập thì tư liệu sản
xuất không còn là của riêng của cá nhân nữa, mà là thuộc về của toàn xã hội. Mỗi thành
viên trong xã hội khi đã hoàn thành một phần nào đó của lao động xã hội – tất yếu, thì
được xã hội cấp cho một giấy chứng nhận số lượng lao động mình đã làm. Với giấy
chứng nhận ấy, người đó sẽ được lĩnh trong các kho công cộng chứa vật phẩm tiêu
dùng, một số lượng sản phẩm thích ứng (C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, 1986: 258 -
264).
Những nhận thức trên đây là đúng đắn, song đó là những nhận thức tổng quát.
Chúng giúp định hướng cho những người cộng sản kế sau chứ chưa phải đã chỉ ra con
đường vạn năng nào đó để có được ngay chủ nghĩa xã hội.
1.2. Sự tìm tòi và nhận thức của V.I. Lênin về con đường xây dựng chủ nghĩa
xã hội hiện thực ở nước Nga trong những năm (1917 – 1924)
Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga do Đảng Bônsêvích
lãnh đạo, đứng đầu là V.I. Lênin đã làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện
thực, tạo ra bước nhảy vọt có tính chất đánh dấu thời đại chủ nghĩa xã hội. Nhưng xây
dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào, đó là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Nước Nga là một
nước lạc hậu về kinh tế, tiểu nông chiếm ưu thế, chủ nghĩa tư bản phát triển chưa mạnh,
lại bị chiến tranh tàn phá nghiêm trọng nên giải quyết vấn đề trên càng khó khăn phức
tạp.
Là người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ về lý luận, mục tiêu chủ nghĩa xã hội của C.
Mác và Ph. Ăngghen, nhưng là một nhà lý luận thiên tài, V.I. Lênin đã không bị giáo
7

điều. Ngay từ năm 1899, trong “Cương lĩnh của chúng ta”, V.I. Lênin đã xác định một

con đường quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội cho nước Nga. Ông nhận thức rằng, bấy
giờ nước Nga đang tồn tại 5 thành phần kinh tế bao gồm:
- Kinh tế xã hội chủ nghĩa
- Kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước
- Kinh tế gia trưởng
- Kinh tế hàng hóa nhỏ
- Kinh tế tư bản chủ nghĩa
Từ sự lạc hậu đó, nước Nga không thể “đi tắt” ngay lên chủ nghĩa xã hội được mà
cần phải có “sự quá độ thận trọng”. Mùa xuân năm 1918, V.I. Lênin đã viết một số tác
phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xô viết”, “Về bệnh ấu trĩ tả khuynh
và tính tiểu tư sản”… phác thảo sơ bộ về sự quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của nước
Nga. Bước quá độ đó theo Ông là chủ nghĩa tư bản nhà nước. Trước hết cần đưa các
thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản nhà nước
dưới 3 hình thức:
8

Thứ nhất, nhà nước kiểm soát các xí nghiệp tư bản và thương nhân. Các xí nghiệp
vừa và nhỏ vẫn thuộc sở hữu tư nhân nhưng nhà nước giành quyền kiểm soát, định
hướng chúng.
Thứ hai, nhà nước giành độc quyền lương thực thông qua nắm các hợp tác xã thuộc
sở hữu tư nhân và các biện pháp khác nhằm khống chế việc thu mua, buôn bán lương
thực, tức nhà nước giành quyền nắm ngay khâu phân phối trong nông nghiệp.
Thứ ba, xác lập ngay quyền quản lý của các chính quyền địa phương, và quyền kiểm
soát, định hướng của chính phủ Xô viết đối với các hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể.
Đối với tiểu nông, tháng 1 – 1918, ban bố Luật xã hội hóa ruộng đất, khẳng định
việc sử dụng bình quân ruộng đất, đồng thời tuyên bố tôn chỉ các chính sách nông
nghiệp xô viết là để quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong nông nghiệp cần phải phát triển
kinh tế tập trung nhằm tiết kiệm lao động và tăng sản phẩm nhiều hơn so với kinh tế cá
thể. Tháng 3 – 1918, tại Đại hội VII bất thường của Đảng Bônsêvích tháng 3/1918, V.I.
Lênin đã chỉ rõ mục tiêu phấn đấu trước mắt của Đảng là “nhằm chuyển dần dần, nhưng

Điều này có nghĩa là không thông qua con đường làm sống động nền kinh tế tiểu nông,
không dựa trên cơ sở nền kinh tế tiểu nông để phát triển đại công nghiệp, mà là đối lập
giữa khôi phục và phát triển đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế tiểu nông,
9

đồng thời với việc trước hết nắm đại công nghiệp, phải tính toán để hạn chế và xóa bỏ
sản xuất hàng hóa nhỏ, đồng thời tập thể hóa tiểu nông.
Tư tưởng quá độ trực tiếp nhưng thận trọng cho phù hợp với nước Nga của V.I.
Lênin vừa mới đi vào cuộc sống thì nước Nga đã lâm vào tình trạng đặc biệt: Đó là cuộc
nội chiến do các thế lực phản động trong nước và cuộc can thiệp vũ trang của 14 nước
đế quốc bên ngoài tiến hành, kéo dài trong 3 năm từ đầu năm 1918 đến cuối năm 1920.
Đế quốc và bọn phản động trong nước không những âm mưu dùng vũ lực để lật đổ
chính quyền Xô viết, mà chúng còn muốn dùng “bàn tay gầy guộc của quỹ đói” bóp
chết chính quyền Xô viết. Để giải quyết nạn bọn culắc đầu cơ, giải quyết nạn đói cho
nhân dân và lương thực cho 5 triệu bộ đội đang chiến đấu trong cuộc nội chiến, mùa hè
năm 1919, chính quyền Xô viết đã đẩy chính sách quá độ trực tiếp lên mức cao bằng
việc thực thi “Chính sách cộng sản thời chiến”. Nội dung chủ yếu của Chính sách cộng
sản thời chiến gồm:
Một là, thực hiện chế độ trưng thu lương thực thừa, căn cứ vào nhu cầu của nhà
nước, quy định cứng nhắc số lượng, giao cho cơ sở trưng thu bắt buộc theo giá quy
định. Sản phẩm trưng mua bao gồm cả các nông sản phụ như thịt, khoai tây, cá, các loại
mỡ động vật, dầu thực vật… Quy định việc trưng thu có phân biệt theo giai cấp, không
thu của bần nông, trưng thu vừa phải đối với trung nông, thu nhiều đối với phú nông.
Hai là, cấm tư nhân buôn bán, xóa bỏ mạng lưới thương nghiệp tư nhân. Mạng lưới
thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tổ chức việc cung cấp theo kế hoạch cho nhân
dân. Việc thu mua và phân phối mọi sản phẩm công, nông nghiệp đều do Bộ dân ủy
lương thực giải quyết. Quốc hữu hóa việc buôn bán lẻ của tư nhân, với các mặt hàng
quan trọng như lương thực, đường, chè, muối ăn, củi, vải, dầu hỏa, xà phòng thì nhà
nước độc quyền kinh doanh, cấm tư nhân buôn bán. Làm như vậy, nhà nước nắm được
toàn bộ việc thu mua nông sản phẩm, phân phối hàng hóa và việc cung cấp cho nhân

nhân có tình trạng vừa giảm sút về số lượng, lại vừa phân tán về đội ngũ và những đảo
lộn về thành phần. Số lượng công nhân công nghiệp chỉ còn bằng một nửa so với năm
1913. Đội ngũ công nhân lành nghề lại càng ít ỏi.
Lợi dụng tình hình đó, bọn phản cách mạng trong nước lại điên cuồng chống phá, ra
sức kích động sự bất bình trong nông dân và công nhân. Chúng nổi loạn ở nhiều địa
phương. Khắp nơi lại xảy ra các vụ bạo loạn và phá hoại. Đặc biệt nghiêm trọng là cuộc
nổi loạn ở pháo đài Crôngxtat vào đầu tháng 3 – 1921, do bọn Xã hội cách mạng,
Mensêvích, Bạch vệ cầm đầu và được sự ủng hộ của thế lực đế quốc bên ngoài. Chúng
định biến pháo đài thành căn cứ xuất phát cho một cuộc can thiệp vũ trang mới của các
nước đế quốc.
Những sự kiện ở Crôngxtat và ở các địa phương khác đã trở thành những dấu hiệu
rõ ràng của sự khủng hoảng chính trị. Cuộc khủng hoảng phản ánh cả vào trong nội bộ
Đảng Bônsêvich. Một số đảng viên không kiên định (kể cả một số cán bộ lãnh đạo) đã
tỏ ra dao động.
Hơn nữa vào thời điểm đầu năm 1921, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển mức
trung bình trước đây của nước Nga đã bị thụt lùi trở lại thành nền kinh tế tiểu nông lạc
hậu. Trong khi đó, thành phần kinh tế nông trang tập thể tỏ ra không hiệu quả, không có
sức thuyết phục, nêu gương. Vào năm 1920, nước Nga Xô viết có 0,4% dân số và đất
đai canh tác thuộc thành phần kinh tế nông trang tập thể. Mặc dù được nhà nước Xô viết
đầu tư nhiều tiền của, song do cơ chế mà nông dân ở đó không hứng thú sản xuất. Kết
quả là mức đóng góp của chúng cho nhà nước chỉ đạt 0,04% thấp chỉ bằng 1/10 mức
đóng góp của nông dân cá thể. Từ đó, V.I. Lênin nhận ra rằng, nông dân không phải là
những người xã hội chủ nghĩa, vấn đề nông trang tập thể không phải là vấn đề trước
mắt, nó cần phải gắn với đại cơ khí và cơ giới hóa sau này. Khi nước Nga chưa có đại
công nghiệp thì những người cộng sản phải biết sống chung và làm bạn lâu dài với tiểu
nông. V.I. Lênin hiểu rõ rằng, với một nước chưa có đủ tiền đề kinh tế cho xã hội chủ
nghĩa thì cần phải thúc đẩy cách mạng xã hội bằng một loạt các biện pháp quá độ đặc
biệt (Nguyễn Trọng Chuẩn – Phạm Văn Đức – Hồ Sỹ Quý, 1997: 314). Lúc bấy giờ ý
tưởng của V.I. Lênin về xây dựng chủ nghĩa xã hội với hai lối suy nghĩ chủ yếu: một là,
trong một nước tiểu nông chiếm ưu thế thì không thể “quá độ trực tiếp” lên chủ nghĩa xã

nghiệp lớn, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Từ lối suy nghĩ này mà tại
Hội nghị toàn thể các Xô viết Matxcơva năm 1922, V.I. Lênin đã tự tin khẳng định
rằng: “…Từ nước Nga của Chính sách kinh tế mới sẽ nảy sinh ra nước Nga xã hội chủ
nghĩa”.
Tư tưởng xây dựng đại công nghiệp cho nước Nga lúc này là không trông đợi, phải
dùng uy tín của chính quyền công nông và tiết kiệm nghiêm ngặt để phát triển đại công
nghiệp cơ khí và điện khí hóa. Đồng thời nước Nga phải “dùng cả hai tay mà lấy những
cái tốt của nước ngoài” phục vụ cho chủ nghĩa xã hội. Điều này được Ông thể hiện qua
công thức nổi tiếng: “Chính quyền Xô viết + Trật tự đường sắt Phổ + Kỹ thuật và cách
tổ chức các Tờrớt ở Mỹ + Ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc.etc… +…+… = chủ nghĩa
xã hội” (V.I. Lênin, (36), 1978: 684).
Đối với nông dân, NEP chủ trương liên minh vói tiểu nông, giúp họ một cách thiết
thực để tranh thủ họ và từng bước tổ chức họ, đưa dần họ vào làm ăn tập thể thông qua
con đường hợp tác lâu dài.
Như vậy, với NEP, V.I. Lênin đã bước đầu bắt mạch được con đường phù hợp và đã
cố gắng tìm tòi những biện pháp cần thiết để đưa nước Nga quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đáng tiếc là Ông đã không còn đủ thời gian để phát triển và áp dụng các nhận thức đó.
Sau khi Lênin mất, Xtalin đã đưa Liên Xô đi theo một mô hình con đường khác.
Có thể thấy rằng, từ sự phê phán một cách khoa học chủ nghĩa tư bản hiện thực, C.
Mác và Ph. Ăngghen đã đưa ra dự báo về cách mạng xã hội chủ nghĩa và về các đặc
trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Đó là mục tiêu mà nhân loại
sẽ đạt tới. Thế nhưng cách mạng xã hội chủ nghĩa không nổ ra đầu tiên ở một loạt các
nước tư bản phát triển nhất như dự báo của C. Mác, mà diễn ra trước ở một nước tư bản
phát triển trung bình là nước Nga. Sự khúc khuỷu vốn có của lịch sử đã đem lại cho
nước Nga cái vinh dự là nước đi tiên phong khai phá con đường xây dựng chủ nghĩa xã
hội mới, nhưng cũng đặt ra cho nó những thách thức to lớn. V.I. Lênin đã cố gắng vận
dụng tư tưởng C. Mác để tìm tòi một mô hình và các bước đi thích hợp cho nước Nga.
Nhưng ông đã không có đủ thời gian để hoàn thiện lí luận về mô hình xây dựng chủ
nghĩa xã hội đó. Chính vì thế, lịch sử chủ nghĩa xã hội hiện thực “sau Lênin” trải qua
12

Thứ hai, trong xã hội xã hội chủ nghĩa đã hoàn thiện, thì chế độ tư hữu sẽ được xóa
bỏ hoàn toàn, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu sẽ được thiết lập và giai cấp
và sự khác biệt giai cấp sẽ dần dần bị xóa bỏ.
Thứ ba, trong xã hội xã hội chủ nghĩa hoàn thiện, sự sản xuất và phân phối được
điều tiết hợp lý bằng kế hoạch của nhà nước.
Thời của V.I. Lênin, do hoàn cảnh đặc thù, nên đặc trưng (mô hình) chủ nghĩa xã
hội được thể hiện trong “Chính sách cộng sản thời chiến” và “Chính sách kinh tế mới”
(NEP).
Thời của J.V.Xtalin thì đặc trưng (mô hình) của chủ nghĩa xã hội được khái quát
thành chín quy luật (được trình bày ở trang 20).
Tương tự như thế, mô hình chủ nghĩa tự quản Nam Tư có bốn đặc trưng (được trình
bày ở trang 23). Ở Trung Quốc, mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc
Trung Quốc có chín diểm cơ bản (được trình bày ở trang 39). Ở Việt Nam, mô hình chủ
nghĩa xã hội được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam
đúc kết thành 6 đặc trưng cơ bản (được trình bày ở trang 46) v.v…

13

Chương 2
TÌM HIỂU MỘT SỐ MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TIÊU BIỂU TRÊN THẾ
GIỚI
2.1. Tìm hiểu mô hình chủ nghĩa xã hội Liên Xô (1925 – 1991)
2.1.1. Bối cảnh và sự xác lập mô hình Liên Xô
Mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (còn được gọi tắt là mô hình Liên Xô
hay mô hình Xtalin) đã được xác lập trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt. Nhà nước
Xô viết từ khi ra đời luôn bị các nước đế quốc thù ghét và tìm cách chống phá, tiêu diệt.
Đến năm 1923, hy vọng của Lênin và Đảng Bônsêvích vào thắng lợi của cách mạng vô
sản ở châu Âu như là một đảm bảo vững chắc cho an ninh của nhà nước Xô viết đã bất
thành. Thất bại liên tiếp của các cuộc cách mạng ở một loạt các nước châu Âu trong
những năm 1918 – 1923 đã đặt Liên Xô vào tình thế phải một mình đơn độc và trong

ưu tiên phát triển vì chúng là khâu then chốt quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
14

Theo sự nhận thức đó, và trong bối cảnh đặc biệt của Liên Xô vào giữa thập kỷ 20
của thế kỷ hai mươi, J.V. Xtalin đã đưa ra và thúc đẩy một cách cực đoan công cuộc
công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa rồi công cuộc tập thể hóa nông nghiệp nông thôn. Và
đó chính là sự khởi đầu cho sự xác lập mô hình Liên Xô.
Dưới sự chủ trì của J.V. Xtalin, Hội nghị Trung ương XIII Đảng Bônsêvich vào
tháng 4/1925 đã khẳng định khả năng thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trong một nước với
những nhân tố đảm bảo là chính quyền Xô viết, đại công nghiệp và liên minh công nông
được củng cố và phát huy đến cao độ. Đến Đại hội XIV Đảng Bônsêvich vào tháng
12/1925, J.V. Xtalin đã quyết định tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa với
phương châm là phải công nghiệp hóa với tốc độ nhanh chóng để trong một thời gian
ngắn nhất, Liên Xô phải trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, đuổi kịp và sau đó
vượt các nước tư bản phương Tây. Nội dung và phương hướng chủ yếu của công nghiệp
hóa là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng gồm các ngành luyện kim, sản xuất tư liệu
sản xuất, điện lực v.v…
Từ đầu năm 1926, công cuộc công nghiệp hóa đã được thúc đẩy bằng những biện
pháp quyết liệt nhất, “toàn Đảng, toàn dân quyết tâm phấn đấu, thắt lưng buộc bụng để
công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa tốc độ cao. Chính quyền Xô viết đã tập trung vốn cho
công nghiệp hóa bằng cách: 1) tăng thu “Thuế cống nạp” từ các ngành kinh tế khác. 2)
thu hút vốn trong nhân dân và 3) xóa bỏ các khoản nợ nước ngoài do chế độ cũ để lại.
Nhờ đó, nguồn tích lũy vốn tăng nhanh qua các năm tài khóa: năm 1926 – 1927 đạt 1,1
tỷ rúp; 1927 – 1928: 1,4 tỷ và 1928 – 1029 là 4 tỷ rúp” (J. V. Xtalin, (7), 1966: 53).
Theo phương châm vừa làm vừa học, học tập vì công nghiệp hóa đất nước, Liên Xô đã
tự giải quyết được vấn đề nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa. Nhờ đó một nền
công nghiệp nặng đã sớm hình thành. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp và tỷ trọng công
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân tăng vọt. “Nếu năm 1925, tỷ trọng công nghiệp của
Liên Xô chỉ chiếm 33% tổng sản phẩm nền kinh tế quốc dân (GDP) thì đến năm 1927 là

nông dân cá thể cung cấp chỉ là 130 triệu pút. Đến năm 1937 thì toàn bộ lúa mì cho nhà
nước đều do các nông trang tập thể cung cấp. Kinh tế tiểu nông đã bị xóa sổ, công cuộc
tập thể hóa nông nghiệp đã hoàn tất” (Nguyễn Anh Thái, 1998: 60; 63).
Với công cuộc tập thể hóa nông nghiệp, mô hình Liên Xô đã được đẩy cao lên một
bước.
2.2.2. Sự định hình và các đặc trưng cơ bản của mô hình Liên Xô
a. Sự định hình của mô hình Liên Xô
Thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và công cuộc tập thể hóa
nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã giúp Liên Xô tăng hơn gấp đôi GDP.
Mô hình kinh tế tập trung cao độ và có kế hoạch đã tỏ rõ tính ưu việt của nó. Hơn nữa,
vào những năm 1933 – 1941, nguy cơ chiến tranh phát xít lại đang đến rất gần. Để có
thể vượt qua nguy cơ bị tiêu diệt, Liên Xô cần tiếp tục tăng nhanh hơn nữa tiềm lực kinh
tế, quốc phòng và sự thống nhất ý chí cao độ. Mô hình Liên Xô vì thế có lý do để tiếp
tục được thúc đẩy, khẳng định và định hình.
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1933 – 1937), Liên Xô tiếp tục đạt được những
kỳ tích trong phát triển kinh tế - xã hội. Năm 1937, tổng sản lượng công nghiệp tăng 2,2
lần so với năm 1932, riêng công nghiệp nặng tăng 3,4 lần. và trên 80% tổng sản lượng
công nghiệp là thuộc những nhà máy mới xây dựng hoặc hoàn toàn xây dựng lại thong
thời kỳ hai kế hoạch 5 năm. Năm 1937, sản lượng công nghiệp chiếm tỷ lệ 77,4% trong
tổng sản phẩm kinh tế quốc dân. Nhiều ngành công nghiệp đã đạt được những thành
tích to lớn, vượt mức kế hoạch. Năm 1937, so với năm 1932, sản xuất gang tăng khoảng
2 lần, thép – khoảng 3 lần, đồng – hơn 2 lần, điện lực – 168,8 lần, than – 98,8 %, thép
dát – 203%, công nghiệp hóa học – 202,4% (Nguyễn Anh Thái, 1998: 63). “Đến năm
1938, sản lượng công nghiệp Liên Xô đã vượt các nước Anh, Đức, Pháp, đã đứng đầu
châu Âu, đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ” (Trang Phúc Linh, 2003: 634). Về nông
nghiệp, đến năm 1937, đã có 93% tổng số nông hộ và 99% tổng diện tích đất đai đã
được hợp tác hóa, trong đó có tới 90% đất đai đã được canh tác bằng cơ giới (Nguyễn
Anh Thái, 1998: 63)
Sự phát triển nhanh và ổn định của nền kinh tế đã dẫn đến đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân cũng như bộ mặt xã hội Liên Xô đã được cải thiện một bước lớn.

hoạch 5 năm và 7 năm sau đó cho đến năm 1985, mô hình Liên Xô không ngừng được
củng cố theo hướng giáo điều hóa. Cũng không ít lần Đảng Cộng sản và nhà nước Liên
Xô cố gắng thực hiện cải cách để khắc phục những hạn chế đã bộc lộ của mô hình,
nhưng sự bất cập về nhận thức lý luận và xu thế giáo điều hóa quá nặng nề trong Đảng,
đã trói buộc và làm thất bại mọi cố gắng cải cách.
b. Các đặc trưng cơ bản của mô hình Liên Xô
Mô hình Liên Xô có 6 đặc trưng cơ bản, bao gồm 3 đặc trưng trên phương diện kinh
tế, 2 đặc trưng trên phương diện chính trị và 1 đặc trưng trên phương diện văn hóa:
Đặc trưng thứ nhất: Nền kinh tế Liên Xô được xây dựng và vận hành trên cơ sở chế
độ công hữu với hai hình thức là sở hữu toàn dân (thực ra là sở hữu nhà nước) và sở hữu
tập thể (qua các nông trang nông nghiệp).
Chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu nhà nước được thực hiện từ cuối năm
1917, song phải đến khi tiến hành công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và tập
thể hóa nông nghiệp thì quyền sở hữu toàn bộ nền công nghiệp và một phần nền nông
nghiệp của nhà nước Xô viết mới được xác lập. Chế độ sở hữu tập thể chỉ thực sự được
đẩy mạnh qua công cuộc tập thể hóa nông nghiệp những năm 1928 – 1932 và kéo dài
đến năm 1936. Bấy giờ các nông trang tập thể mới thực sự “lấp đầy” vùng nông thôn
Liên Xô, quyền sở hữu tập thể mới được xác lập đầy đủ. Hiến pháp năm 1936 cũng như
các hiến pháp sau đó của Liên Xô đều quy định: chế độ sở hữu toàn dân được thể hiện
qua sở hữu nhà nước là hình thức cơ bản (hình thức cao) của chế độ sở hữu xã hội chủ
nghĩa, chế độ sở hữu tập thể của người lao động gồm các nông trang tập thể và các hợp
tác xã là hình thức quá độ (hình thức thấp) của chế độ công hữu. Vì vậy, phải từng bước
đưa chế độ sở hữu tập thể lên thành sở hữu toàn dân, cải biến các nông trang tập thể và
hợp tác xã thành các nông trường quốc doanh hoặc liên hợp sản xuất dưới sở hữu,
không cho phép tồn tại sở hữu tư nhân, cá thể. Nguyên tắc của mô hình Liên Xô là:
càng công hữu càng tốt, càng toàn dân càng tốt. Đến chủ nghĩa xã hội hoàn thiện thì chỉ
còn lại một hình thức công hữu duy nhất là sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện.
17

Đặc trưng thứ hai: Kết cấu kinh tế Liên Xô nghiêng về công nghiệp nặng.

kiêm luôn chức trách của chính quyền, làm thay chính quyền. Từ năm 1934, Đảng ủy
cấp huyện trở lên đặt thêm ủy ban nghiệp vụ sản xuất, còn cấp ủy Liên bang thì có đủ
các ban kinh tế, văn hóa…y như nhà nước. Quyền lực chính trị cao nhất của đất nước vì
vậy thực chất đã tập trung về một mối: Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà đại diện
của nó là Tổng Bí thư.
Đặc trưng thứ năm: Cơ chế giám sát dân chủ trong thể chế chính trị không mạnh, tạo
môi trường cho sự độc đoán chuyên quyền và tệ sùng bái cá nhân.
Trong bối cảnh khốc liệt của cách mạng Tháng Mười, V.I. Lênin đã nêu ra nguyên
tắc xây dựng Đảng là tập trung thống nhất với kỷ luật sắt. Nhưng ngay sau khi cách
mạng Tháng Mười thắng lợi, Ông đã chú ý kiện toàn cơ chế tập trung dân chủ, phát huy
sức mạnh dân chủ trong Đảng. Sau khi V.I. Lênin mất đi, J.V. Xtalin đã từng bước làm
cho không khí dân chủ trong Đảng giảm đi, cơ chế giám sát mất dần hiệu lực. Những
người bất đồng ý kiến bị xử lý kỷ luật, thậm chí bị thủ tiêu. Trong 2 năm đầu, J.V.
Xtalin còn duy trì nếp đại hội Đảng mỗi năm một lần. Từ sau năm 1925, giảm dần cách
2 năm, 5 năm rồi 13 năm (1939 – 1952); số lần họp Ban Chấp hành Trung ương cũng
18

thưa dần. Vì vậy, nhiều vấn đề trọng đại của đất nước thường do một mình J.V. Xtalin
quyết định. Việc lựa chọn cán bộ Đảng, Chính quyền thường do đề bạt từ bên trên chứ
không thông qua bầu cử (hoặc bầu cử hình thức). J.V. Xtalin cũng thay đổi cơ chế giám
sát theo hướng làm mất đi tính hiệu lực của nó. Thời V.I. Lênin, Ban Kiểm tra Trung
ương tồn tại song song ngang quyền và có trách nhiệm giám sát Ban Chấp hành Trung
ương, thành viên của Ban Kiểm tra Trung ương được quyền tham dự các hội nghị của
Bộ Chính trị. J.V. Xtalin đã đưa ra quy định, Đảng cấp dưới cử người tham gia Ban
Kiểm tra Trung ương. Về hình thức có vẻ dân chủ, nhưng thực chất Ban Kiểm tra Trung
ương bị biến thành cấp dưới của Ban Chấp hành Trung ương và nhiệm vụ của nó chỉ là
giám sát việc thực thi nghị quyết của Trung ương nhất là ở các cấp bên dưới chứ không
còn là giám sát Ban Chấp hành Trung ương nữa. Cùng với đó, các tổ chức giám sát của
quần chúng cũng bị thủ tiêu. Điều này đã tạo môi trường cho sự độc đoán, cửa quyền và
tệ sùng bái cá nhân phát triển.

các giáo trình bộ môn Mác – Lênin, nhất là giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô.
Những biện pháp nói trên một mặt đã tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và thúc đẩy
phát triển đối với sự nghiệp văn hóa giáo dục và khoa học đất nước; nhưng mặt khác, do
sự phê phán không thỏa đáng, cực đoan trong lĩnh vực học thuật, thậm chí dùng biện
pháp hành chính chèn ép hoặc loại trừ một số trường phái, trào lưu học thuật… đã làm
cho không khí tranh luận tự do lắng đi, chủ nghĩa giáo điều, quan liêu phát triển, tư
tưởng xơ cứng, bất cập trở nên phổ biến. Nền học thuật Xô viết rơi vào tình trạng phiến
diện và trì trệ.
“Sau khi J.V. Xtalin qua đời (5/3/1953), Khơrútsốp và sau đó là Brêgiơnhép lên
thay thế. Trong thời kỳ Khơrútsốp và Brêgiơnhép làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên
Xô (Khơrútsốp làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1953 đến 1964;
Brêgiơnhép làm Tổng bí thư từ 1964 đến 1982), Khơrútsốp cùng với Đảng Cộng sản
19

Liên Xô đã tuyên bố “Cương lĩnh xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa” (1961), còn
Brêgiơnhép và Đảng Cộng sản Liên Xô cũng đã từng khẳng định:“Liên Xô đã xây dựng
xong chủ nghĩa xã hội phát triển” (1977). Trong suốt thời kỳ lãnh đạo, Khơrútsốp và
Brêgiơnhép đã tiến hành cải cách trên nhiều lĩnh vực về kinh tế, chính trị và xã hội. Tuy
nhiên, kết quả đạt được về căn bản đều chưa động chạm tới thể chế truyền thống hình
thành từ những năm 30. Vì vậy, những cải cách trong hai thời kỳ này đều chưa thể vượt
qua được khuôn khổ của thể chế cũ. Sau thời kỳ Brêgiơnhép (1982 trở đi), thể chế chính
trị, kinh tế của Liên Xô vẫn là thể chế tập trung trung ương cao độ, vẫn cần được nghiên
cứu để cải cách” (Trang Phúc Linh, 2003: t4, 144), sáu đặc trưng của Mô hình Liên Xô
về cơ bản vẫn được giữ nguyên.
2.3.3. Sự lan tỏa và khủng hoảng, sụp đổ của mô hình Liên Xô
a. Sự lan tỏa của mô hình Liên Xô ra thế giới
Tuy chứa đựng nhiều khuyết tật và thể hiện tính duy ý chí cao độ, nhưng trong bối
cảnh đặc thù, và nhất là trong vài thập kỷ đầu tồn tại, mô hình Liên Xô mang lại cho đất
nước Xô viết những thành tựu kỳ diệu. Chính vì thế mà nó đã tạo ra ảo tưởng rằng đây
là mô hình hợp lý và có tính phổ quát. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và

giờ Chiến tranh lạnh đã nổi lên, các nước xã hội chủ nghĩa cần phải đứng chung trong
một đội ngũ chung quanh Liên Xô để tạo sức mạnh chiến thắng. Riêng Nam Tư, từ năm
1948, đã phủ nhận mô hình Liên Xô và tìm đến với mô hình tự quản xã hội chủ nghĩa.
Cũng vì thế nên trong một thời gian dài, Nam Tư không được Liên Xô xem là nước xã
hội chủ nghĩa.
Ở châu Á, ảnh hưởng của mô hình Liên Xô diễn ra khá đa dạng. Mô hình Liên Xô
gần như đã được rập khuôn ở Mông Cổ, ở Triều Tiên và ở cả Trung Quốc trong 10 năm
đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1949 – 1958). Tuy nhiên, ở Trung Quốc dưới sự lãnh
đạo của Mao Trạch Đông, ngay từ những năm buộc phải “nhất biên đảo” về Liên Xô,
Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận ra những khuyết tật của mô hình Liên Xô và đã sớm
đưa ra chủ trương tìm tòi một mô hình con đường đi riêng phù hợp với đặc thù đất
nước. Mô hình Liên Xô cũng được những người cộng sản Việt Nam và Lào áp dụng chí
ít cũng đến năm 1986.
Ở bên kia bán cầu, từ năm 1961, Cuba cũng đã dựa chắc vào Liên Xô và vận dụng
rộng rãi mô hình Liên Xô vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ít nhất cho đến
năm 1991.
b. Sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình Liên Xô
Như đã nói, mô hình Liên Xô được xác lập trong bối cảnh rất đặc biệt và từ đầu đã
chứa đựng nhiều khuyết tật, một mô hình phiến diện và duy ý chí. Trong bối cảnh sau
Chiến tranh thế giới thứ hai, những khuyết tật của nó bắt đầu bộc lộ. Những làn gió
khủng hoảng mô hình đã diễn ra ở Liên Xô như cuộc đấu tranh của một bộ phận trí thức
đòi dân chủ hóa xã hội, phản ứng của nông dân trước cuộc tập thể hóa nông nghiệp lần
thứ hai những năm 1945 – 1950 làm xáo trộn nông thôn Liên Xô lúc đó. Sự áp đặt mô
hình Liên Xô vào các nước Đông Âu những năm 1945 – 1955 cũng đã gây những phản
ứng của nhân dân. Nhiều nước trong số đó thậm chí đã xảy ra khủng hoảng chính trị -
xã hội.
Từ thập kỷ 70 trở đi, khi nhân loại đứng trước cuộc khủng hoảng năng lượng buộc
các nước tư bản phát triển phải tiến hành cải biến thích ứng và chuyển sang nền văn
minh hậu công nghiệp, thì mô hình Liên Xô thực sự lâm vào khủng hoảng trầm trọng.
Trong vòng 15 năm, tính từ nửa sau thập kỷ 1970 trở đi, mô hình Liên Xô đã lần lượt

luận sôi nổi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số nhà lãnh đạo chủ trương đi
theo con đường Liên Xô, họ cho rằng mô hình và kinh nghiệm của Liên Xô có tính phổ
biến. Số khác lại cho rằng, nên tìm con đường đi riêng phù hợp với đặc điểm của đất
nước, dân tộc mình. Lãnh tụ Đảng Cộng sản Nam Tư là Giôrip Brốtgiơ Tito đại diện
cho xu hướng thứ nhất, còn lãnh tụ Đảng Cộng sản Bungari là Ghêoocghi Đimitơrốp đại
diện cho xu hướng thứ hai. Năm 1946, Đimitơrốp cho rằng: “Những người Mác xít cần
làm rõ con đường mỗi nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không phải theo một con
đường định sẳn, một mô hình hoàn chỉnh, không phải là đường lối của Liên Xô mà là
đường lối của chính mình, được định ra trên cơ sở xem xét tình hình lịch sử, dân tộc, xã
hội và văn hóa của nước mình”.
Lúc đầu, Đảng Cộng sản Liên Xô không mấy để tâm đến cuộc tranh luận đó. Nhưng
khi chiến tranh lạnh bùng nổ, Liên Xô đã can thiệp, ngăn chặn xu hướng thứ hai, buộc
các nước Đông Âu phải theo mô hình Liên Xô, liên kết chặt chẽ với Liên Xô để chống
lại chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Đúng lúc đó, Nam Tư đã lên tiếng xét lại mô hình Liên
Xô và tuyên bố tìm kiếm mô hình đi cho riêng mình.
Thực ra trong ba năm đầu làm cách mạng xã hội chủ nghĩa (1945 – 1947), Nam Tư
đã mô phỏng mô hình tập trung cao độ của Liên Xô. Bấy giờ Đảng Cộng sản Nam Tư
đã thực thi một loạt các biện pháp nhằm tập trung quyền lực quản lý kinh tế, xã hội,
chính trị vào tay nhà nước Liên bang. Về công nghiệp, chính phủ Liên bang nhanh
chóng tiến hành quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản tư nhân và chuyển các xí nghiệp
công hữu trước chiến tranh thành xí nghiệp quốc doanh xã hội chủ nghĩa. Đến năm
1947, Nhà nước Liên Bang đã nắm trong tay 90% năng lực công nghiệp đất nước. Về
công nghiệp, chính phủ Liên bang tiến hành thủ tiêu chế độ sở hữu ruộng đất của địa
chủ và chuyển ngay sang sở hữu nhà nước hoặc tập thể. Đến năm 1947, trong số
1.500.000 ha ruộng đất tịch thu của địa chủ, chính phủ chỉ dành 80.000 ha chia cho bần
nông, số còn lại (1.420.000 ha) chuyển ngay sang công hữu xã hội chủ nghĩa… Ngoài
ra, chính phủ Liên bang cũng giành độc quyền kiểm soát các mạch máu kinh tế khác
như: ngân hàng – tiền tệ, nội – ngoại thương v.v… (Trang Phúc Linh, 2003: 38 – 39)
Thể chế quốc doanh hóa nền kinh tế và tập trung quyền lực này đã giúp Nam Tư
nhanh chóng khôi phục kinh tế, ốn định xã hội và trấn áp các thế lực thù địch, bảo vệ và

Thứ nhất, thực hiện phi tập trung, phi quan liêu hóa bằng cách giảm bớt chức năng
của nhà nước, nhất là chức năng quản lý kinh tế - xã hội.
Thứ hai, tách biệt và phân định rõ chức năng của các cơ quan Đảng và bộ máy nhà
nước các cấp.
Thứ ba, chuyển chế độ sở hữu tư liệu sản xuất từ hình thức sở hữu nhà nước sang sở
hữu xã hội: trao quyền sở hữu và quản lý trực tiếp các xí nghiệp cho tập thể công nhân
lao động. G. B. Tito cho rằng chế độ sở hữu nhà nước là hình thức thấp nhất của chế độ
công hữu, còn chế độ sở hữu xã hội là hình thức cao nhất của nó.
Thứ tư, hình thành nên một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa dựa trên hoạt
động kinh doanh tự chủ của các xí nghiệp công nhân tự quản và các liên hiệp lao động
tự do.
Ngày 26/6/1950, Nghị viện nước Cộng hòa Liên bang Nam Tư đã thông qua Pháp
lệnh công nhân tự quản với tên gọi đầy đủ là “Pháp lệnh cơ bản về tập thể những người
lao động quản lý xí nghiệp quốc doanh và tổ chức liên hợp kinh tế bậc cao”. G. B. Tito
cho rằng việc thông qua Pháp lệnh trên có một ý nghĩa đặc biệt trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội Nam Tư. Việc giao cho công nhân quản lý nhà máy, hầm mỏ
v.v… là làm cho bệnh truyền nhiễm quan liêu không thể phổ biến trên đất nước Nam Tư
nữa, đồng thời làm cho Nam Tư đi đầu thế giới về thiết lập nền dân chủ chân chính.
Việc nông dân tự quản lý lấy hợp tác xã và công nhân tự quản lý lấy nhà máy đã làm
cho họ thực sự trở thành người làm chủ. Pháp lệnh này đã khởi đầu cho một mô hình
23

Trích đoạn Những thành tựu chủ yếu đạt được qua 25 năm đổi mới (1986 – 2010)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status