Đề tài " Tình hình viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam từ năm 1992 đến nay và một số kiến nghị " - Pdf 70



Luận văn Đề Tài:Tình hình viện trợ ODA của
Nhật Bản cho Việt Nam
từ năm 1992 đến nay và
một số kiến nghị LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến vững chắc
trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, cho nên cần rất
nhiều nguồn vốn. Trong đó viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam, có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. ODA
của Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam tập trung vào 5 lĩnh vực cơ bản, cụ thể
là: phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế; xây dựng và cải tạo các
công trình giao thông và điện lực; phát triển nông nghiệp và xây dựng hạ tầng
cơ sở nông thôn; phát triển giáo dục và đào tạo y tế; bảo vệ môi trường và đã
đạt được rất nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên nguồn vốn ODA của Nhật Bản
CHƯƠNG I
VAI TRÒ CỦA ODA

I. Khái niệm và các hình thức của ODA
Để hiểu được đúng đắn bản chất của ODA và vận dụng nó có hiệu
quả, chúng ta cần nghiên cứu kỹ hoàn cánh ra đời và quá trình phát triển của
nó. ODA ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II cùng với kế họach Marshall,
để giúp các nước Châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn
phá. Đểc tiếp nhận viện trợ của kế họach Marshall, các nước Châu Âu đã đưa
ra một chương trình phục hồi kinh tế có sự phối hợp và thành lập một tổ chức

của nước nhận viện trợ; tính ưu đãi chiếm trên 25% giá trị của khoản vốn vay.
Quá trình cung cấp ODA đem lại lợi ích cho cả hai phía: bên các nước
đang và kém phát triển có thêm khối lượng lớn vốn đầu tư từ bên ngoài để
đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé của
mình. Phía còn lại cũng đạt được những lợi ích trong các điều kiện bắt buộc
kèm theo các khoản viện trợ cho vay, đồng thời gián tiếp tạo điều kiện thuận
lợi cho họat động của các công ty của mình khi thực hiện đầu tư tại các nước
nhận viện trợ.
Mặt khác việnh trợ ODA mang tính nhân đạo, thể hiện nghĩa vụ đồng
thời là sự quan tâm giúp đỡ của các nước giàu đối với các nước nghèo, tăng
cường thúc đẩy mối quan hệ đối ngoại tốt đẹp giữa các quốc gia với nhau,
giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia.
Các hình thức của ODA được chia làm 3 loại chính, trong mỗi loại lại
được chia thành nhiều loại nhỏ.
Phân loại theo phương thức hoàn trả thì có: viện trợ không hoàn lại:
bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận không phải hoàn lại) để bên
nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự thoả thuận giữa các bên; Viện
trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi): nhà tài trợ cho nước cần vốn vay
một khoản tiền( tuỳ theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi
và thời gian trả nợ thích hợp; ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết
hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các
điều kiện của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển, thậm chí có loại ODA

vốn vay kết hợp tới 3 loại hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần
ưu đãi và một phần tín dụng thương mại.
Phân loại theo nguồn cung cấp thì có: ODA song phương: là các khoản
viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia ( nước phát triển viện trợ cho
nước đang và kém phát triển) thông qua hiệp định được ký kết giã hai chính
phủ; ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc
tế, hay tổ chức khu vực hoặc của chính một nước dành cho Chính phủ một

kinh tế nước nhà.
ODA của Nhật Bản vẫn được coi là một nguồn vốn hết sức quý giá cho
tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế ở Viêt Nam. Chính sách ODA
của Nhật Bản trong khoảng một thập kỷ qua về cơ bản là đáp ứng được sự
mong muốn của Chính phủ và nhân dân Việt Nam, và nó đã hỗ trợ tích cực
cho sự phát triển hợp tác lâu dài giữa Viêt Nam và Nhất Bản đặc biệt trong
các quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế.
Nếu tính từ năm 1992 đến nay, Nhật Bản đã luôn là nước đứng đầu về
viện trợ ODA dành cho Việt Nam với tổng số vốn cam kết lên tới 509,804 tỷ
yên, tương đương trên 5 tỷ USD. Điều đó trước hết thể hiện đường lối mong
muốn tăng cường hợp tác trên lĩng vực kinh tế với Việt Nam. Vốn ODA của
Nhật Bản dành cho Việt Nam đã tăng năm sau lớn hơn năm trước. Điều đó có
một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước,
đặc biệt là quan hệ ngoại giao và kinh tế. Đồng thời nó cũng có tác độg
không nhỏ tới các quan hệ đối ngoại khác của Việt Nam. Sau Nhật Bản thì
một loạt các nước phát triển khác, các tổ chức quốc tế khác cũng đã nối lại và
tăng cường viện trợ cho Việt Nam, hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường của Việt Nam.
Nhìn một cách bao quát nhất, nguồn vốn ODA của Nhật Bản trước hết
có vai trò bổ sung nguồn vốn trong nước. Việt Nam bước vào quá trình thực
hiện cải cách với điều kiện cơ sở hạ tầng còn hết sức thấp kém. Việc cải tạo
và phát triển nó đòi hỏi trước hết phải có một nguồn vốn rất lớn, đọi hỏi này
mang tính tất yếu của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở một nước
chậm phát triển như Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên việc huy động và sử dụng
nguồn vốn trong nước còn rất nhỏ bé do mức tiết kiện trong nước còn thấp, tỷ

lệ huy động vồn nhàn rỗi cho đầu tư cũng ở mức rất khiêm tốn sẽ không đảm
bảo thoả mãn nhu cầu khách quan ấy.
Với ý nghĩa trên, ODA của Nhật Bản được xem như một trong các
nguồn vốn cơ bản từ bên ngoài có thể thu hút để thúc đẩy nhanh sự phát triển

công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, từ đó Việt Nam từng bước nâng cao
vai trò của nền kinh tế và vị thế của đất nước.
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH VIỆN TRỢ ODA CỦA NHẬT BẢN CHO VIỆT
NAM TỪ 1992 ĐẾN NAY

I. Tình hình tiếp nhận và giải ngân ODA ở Việt Nam
Về tiềp nhận: trong chiến tranh chống Mỹ Việt Nam đã thiết lập quan
hệ ngoại giao với các nước XHCN và nhận được nhiều khoản viện trợ. Sau
chiến tranh chúng ta vẫn tiếp tục nhận tài trợ ODA không những từ các nước
XHCN mà cả từ các nước TBCN, đặc biệt từ thập kỷ 90 đến nay viện trơ
ODA dành cho Việt Nam ngày càng tăng, có vai trợ quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của Việt Nam. Các nhà tài trợ song phương và đa phương chính
đó lạ:
Đa phương: Ngân hàng Thế giới (WB); Ngân hàng phát triển Châu Á
(ADB); Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và Liên hợp quốc…
Song phương: Nhầt Bản, Hàn Quốc, Úc, Thụy Điển, Đài Loan, Pháp,
Bỉ và Canađa…Trong đó Nhật Bản luôn là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam,
với những hình thức cung cấp đa dạng và ưu đãi. Bên cạnh đó WB, ADB
cũng là hai nguồn viện trợ lớn.
Bảng1: Tổng vốn ODA cam kết vào Việt Nam (Tỷ USD)
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 tổng
Cam kết 1,88 1,94 2,26 2,43 2,40 2,40 2,70 2,8 18,81
Giải ngân 0,27 0,62 o,66 0,98 1,015 1,04 1,2 0,785 5,798
(Theo: Hỗ trợ phát triển chính thức ODA - NXB giáo dục - 2000)
dụng ODA các năm qua có tằng lên nhưng vẫn còn quá chậm do các nguyên
nhân sau:
Thứ nhất, khâu khảo sát thiết kế, chuẩn bị dự án chất lượg không cao
nên giai đoạn thực hiện dự án phải khảo sát, thiết kế lại, hoặc phải bổ sung
thiết kế mất nhiều giời gian và chính sách giải quyết thủ tục về đất đai không
được đồng bộ với chíng sách tín dụng.
Thứ hai, yêu cầu của các nhà tài trợ về việc chấp hành nguyên tắc đấu
thầu khắt khe và phức tạp, nên việc triển khai đấu thầu chập, quy trình đấu
thầu, xét thầu, giao thầu kéo dài hơn so với kế họach do có sự khác biệt giữa
thủ tục trong nước và nước ngoài.
Thứ ba, năng lực của các cơ quan thực hiện dự án còn hạn chế, trình độ
năng lực quản lý nợ của các cán bộ còn yếu kém, chính sách của nhà nước
chưa đầy đủ, đồng bộ, thủ tục hành chính còn rườm rà. Chính vì vậy việc giải
ngân ODA thấp và gây ra một số bất lợi cho Việt Nam, đó là các công trình
thực hiện không đúng tiến độ ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm
hiệu quả sử dụng vốn, ảnh hưởng tới thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội
đã họach định. Từ thực tế trên, để tăng cường quản lý, tăng tốc độ giải ngân,
sử dụng nguồn vốn ODA hiệu quả, chúng ta cần có những biện phát hữu hiệu
hơn để phát huy được hiệu quả của nguồn vốn này trong phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.

II. Viện trợ ODA Nhật Bản cho Việt Nam - những kết quả đạt
được và những khó khăn tồn tại.
Nhật Bản là nước có quan hệ viện trợ cho Việt Nam từ rất sớm và
chính thức được phát triển từ năm 1975, nhưng đến năm 1979 Nhật Bản đình
chỉ vốn ODA cho Việt Nam. Tháng 11 năm 1992 Nhật chính thức công bố
nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam và bắt đầu cho Việt Nam vay 45,5 tỷ yên
với lãi suất ưu đãi 1%/ năm trong vòng 30 năm, trong đó 10 năm đầu không
phải trả lãi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status