Lời mở đầu
Chỉ còn vài tháng nữa Việt Nam sẽ bớc sang thiên niên kỉ thứ ba với những
vận hội và thách thức mới đang chờ đón. Khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại của
thế kỉ thứ 20 đối với nớc ta có tầm quan trọng đặc biệt trong việc hoàn thành
những nhiệm vụ chiến lợc của quốc gia để chuẩn bị tốt bớc tạo đà cho thế kỉ hai
mơi mốt. Điều đó đòi hỏi sự tập trung trí tuệ cho giai đoạn phát triển lịch sử này.
Hà Nội là thủ đô, là trái tim của cả nớc. Trong giai đoạn phát triển quan
trọng này, Hà nội đóng vai trò là đầu tầu cho cả nớc nhằm hoàn thành tốt chỉ tiêu
phấn đấu của Chính phủ đã đặt ra cho giai đoạn này là tăng trởng kinh tế mỗi năm
đạt 9-10%. GDP bình quân đạt 400 USD/ năm. Để đạt đợc mục tiêu đó cũng nh
hoàn thành tốt vai trò tiên phong của mình, Hà Nội đề ra mục tiêu phấn đấu trong
năm cuối của thế kỉ 20 là 10-11 % tăng trởng GDP, thu nhập bình quân đầu ngời
đạt 1100 USD/ năm. Những chỉ tiêu đó mặc dù còn rất khiêm tốn nhng trong điều
kiện bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực vừa qua thì Hà nội của
chúng ta cũng cần phải cố gắng rất nhiều, tận dụng và phát huy hiệu quả cả nội
lực và ngoại lực, tạo ra sức mạnh tổng hợp thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trong
số những nguồn lực có thể huy động đợc thì nguồn lực bên ngoài vẫn là phần
quan trọng cho phát triển kinh tế. Đó là những khoản đầu t và hỗ trợ của nớc
ngoài cho Hà nội. Và ODA là nguồn vốn đầu t quan trọng của nớc ngoài cho Hà
nội trong giai đoạn này. Theo ớc tính của Hà Nội thì hàng năm Hà Nội cần huy
động lợng vốn đầu t nớc ngoài chiếm 50 % tổng vốn đầu t, trong đó ODA chiếm
khoảng 50 %.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra là làm thế nào để thu hút đợc lợng vốn nh vậy và sử
dụng hiệu quả nguồn vốn này. Trong chuyên đề tốt nghiệp này của tôi, tôi muốn
đa ra một số biện pháp để giải quyết vấn đề này. Do điều kiện có hạn nên tôi chỉ
nghiên cứu về ODA của Nhật Bản trên địa bàn Hà nội. Đề tài chuyên đề là Việc
thu hút và sử dụng ODA của Nhật Bản trên địa bàn Hà Nội - Thực trạng và giải
pháp .
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm cũng nh trình độ còn hạn chế, tôi rất
mong sự quan tâm và chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để chuyên đề của
tôi thêm hoàn thiện.
Viện trợ phát triển chính thức ODA đợc OECD coi là nguồn tài chính do các
cơ quan chính thức (chính quyền nhà nớc hay địa phơng) của các tổ chức nhằm
thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi của nớc này. Nó mang tính chất trợ cấp (ít
nhất là cho không 25% kể từ tháng 1/1973).
Nói một cách cụ thể hơn, viện trợ phát triển chính thức ODA là tất cả các
khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ hoàn lại hoặc tín dụng u đãi (cho vay dài
Trang
2
hạn, lãi xuất thấp) của các chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống liên hiệp quốc
chơng trình phát triển của liên hiệp quốc- UNDP, quỹ nhi đồng liên hiệp quốc
UNICEF, tổ chức y tế thế giới- WHO, tổ chức nông nghiệp và lơng thực của liên
hiệp quốc- FAO), các tổ chức tài chính quốc tế, gọi chung là các đối tác viện trợ
nớc ngoài dành cho chính phủ và nhân dân nớc nhận viện trợ.
Hình thức cung cấp ODA hết sức đa dạng, bao gồm viện trợ không hoàn lại,
hợp tác kỹ thuật, viện trợ dới hình thức cho vay lãi xuất thấp, thời hạn dài, có loại
ODA kết hợp trong một gói gồm một phần viện trợ không hoàn lại, phần còn lại
là cho vay nhẹ lãi khoảng 0,75%- 2%, trả dài hạn khoảng hai mơi năm đến 50
năm, trong đó có 10-15 năm ân hạn, không phải trả gốc. Các điều kiện trên phụ
thuộc vào nớc nhận viện trợ có đợc qui định là nớc nghèo theo tiêu chuẩn của liên
hiệp quốc hay không và còn tuỳ thuộc vào quan hệ chính trị giữa các nớc cung
cấp viện trợ với nớc nhận viện trợ.
Nói chung các nớc và các tổ chức quốc tế chỉ viện trợ khoảng 50% đến 80%
giá trị của một phần dự án, phần còn lại nớc nhận viện trợ có nghĩa vụ đóng góp.
Việt Nam hiện nay đợc coi là thuộc diện nớc nghèo theo tiêu chuẩn của liên hiệp
quốc nên phần đóng góp của Việt Nam vào dự án thờng chiếm khoảng 20% đến
30% giá trị của dự án.
Viện trợ phát triển chính thức ODA có thể ràng buôc (phải chi tiêu ở cấp
viện trợ), hoặc không ràng buộc (có thể chi tiêu ở bất kỳ mức nào), hoặc có thể
ràng buộc một phần (một phần chi tiêu ở cấp viện trợ, phần còn lại ở bất kỳ nớc
nào).
Tuy nhiên tính đãi dành cho loại vốn này thờng đi kèm các điều kiện ràng
buộc tơng đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao, vốn thanh
toán).
Do vậy để nhận đợc loại tài trị hẫp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải
xem xét dự án viện trợ trong điều kiện tài chính cụ thể. Nếu không việc tiếp nhận
viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nớc nhận viện trợ.
Điều đó còn hàm ý rằng ngoài những yếu tố thuộc về nội dung d án tài trợ,
còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận đợc vốn vừa có thể bảo tồn
đợc các mục tiêu có tính nguyên tắc của mình.
1.2 Các đối tác cung cấp ODA trên thế giới.
Hệ thống cung cấp ODA gồm hai loại: các tổ chức viện trợ đa phơng và các
nớc viện trợ song phơng
1.2.1 Các tổ chức viện trợ đa phơng
Các tổ chức viện trợ đa phơng đang hoạt động gồm có các tổ chức thuộc hệ
thống liên hiệp quốc, cộng đồng Chau Âu, các tổ chức phi chính phủ và các tổ
chức tài chính quốc tế
Trang
4
a. Các tổ chức thuộc hệ thống liên hiệp quốc
Các tổ chức thuộc hệ thống liên hiệp quốc quan trọng nhất xét về mặt viện
trợ phát triển bao gồm:
-Chơng trình phát triển của liên hiệp quốc (UNDP)
- Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF)
- Quỹ dân số liên hiệp quốc (UNFPA)
- Chơng trình lơng thực thực thế giới (WFP)
- Tổ chức y tế thế giới (WHO)
- Tổ chức nông nghiệp và lơng thực liên hiệp quốc (FAO)
- Tổ chức phát triển công nghiệp thế giới (UNIDO)
Hầu hết viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp quốcđều thực hiện
dới hình thức viện trợ không hoàn lại, tiên cho các nớc đang phát triển có thu
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF là tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế rất quan trọng đ-
ợc thành lập từ năm 1945, hiện có 173 nớc thành viên
Các loại tín dụng IMF đều thực hiện bằng tiền mặt và không bị ràng buộc
bởi thị trờng mua sắm
- Ngân hàng thế giới (WB): là tên gọi chung của nhóm tổ chức tài chínhtiền
tệ quốc tếlớn gồm: Ngân hàng tái thiết và phát triển đợc thành lập tháng 7/1944,
hiện có 160 nớc hội viên với số vốn là 170 tỷ USD. Hiệp hội phát triển quốc tế
(IDA) đợc thành lập nănm 1960, hiện có 142 nớc hội viên, tổ chức bảo hiểm đầu
t đa biên MIGA) thành lập năm 1988, hiện có 5 nớc là hội viên chính thức. Công
ty tài chính quốc tế (IFC) đợc thành lập năm 1956 hiện có 146 nớc hội viên.
Việt Namlà thành viên chính thức của 4 tổ chức trên.
Ngoài ra còn có Trung tâm quốc tế giải quyết các vấn đề tranh chấp đầu t
(ICSID), đây là một tổ chức của Ngân hàng thế giới hoạt động nh một hội đồng
trọng tài quốc tế giải quyết vấn đề tranh chấp vềđầu t nớc ngoài giữa các công ty
nớc ngoài với các hội viên cuả ICSID.
- Ngân hàng phát triển Châu á (ADB). Thành lập tháng 12/1966, có 55 nớc
hội viên (39 nớc trong khu vực và 16 nớc ngoài khu vực). Hoạt động của ADB tập
trung vào cung câp các khoản hỗ trợ cho vay kỹ thuật các nớc đang phát triển hội
viên cũng nh khuyến khích phát triển đầu t trong khu vực. ADB đặc biệt chú ý các
nớc nhỏ và kém phát triên nhất, u tiên cho các chơng trình phát triển vùng, tiểu
vùng và các dân tộc ít ngời để tạo ra sự phát triển kinh tế hài hoà của toàn vùng.
Những lĩnh vực hoạt động của ADB là nông nghiệp năng lợng, hạ tầng cơ sở và
thông tin liên lạc.
- Tổ chức các nớc xuất khẩu dầu mỏ (OPEC)
OPEC đợc thành lập từ năm 1960 theo sáng kiến của Vênêzulêla, thành viên
cuả OPEC bao gồm 13 nớc, khai thác và xuất khẩu Dầu mỏ quan trọng.
Ngoài viện trợ không hoàn lại, quỹ viện trợ của tổ chức OPEC dành nguồn
tín dụng dài hạn, u đãi để hỗ trợ các nớc kém phát triển (thời hạn trả 17-20năm,
lãi xuất và phí dịch vụ 3% năm, có 5 năm ân hạn). Những lĩnh vực u tiên cho vay
của quỹ là năng lọng vận tải công nghiệp và nông nghiệp.
xa các nớc và ở vị trí đứng đầu thế giới (xem đồ thị 1). Tuy nhiên, tỷ lệ
ODA/GNP của Nhật mới chỉ đạt khoảng 0,3% (xem bảng 2).
c) Các nớc đang phát triển.
Trang
7
Một số nớc đang phát triển là nguồn cung cấp ODA. Năm 1990 (Trớc khi
xẩy ra chiến tranh Vùng Vịnh), ả Rập Xê út cung cấp 3,7 tỷ USD, Cô Oét 1,3 tỷ
USD và Các Tiểu Vơng Quốc ả Rập Thống nhất gần 900 triệu USD, chủ yếu cho
các nớc trong vùng. Các nớc ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc cung cấp trên
dới 100 triệu USD mỗi năm. Các nớc ASEAN là những nớc nhận viện trợ, nhng gần
đây một số nớc nh Singapore, Thái Lan cũng bắt đầu cung cấp ODA với khối lợng
không đáng kể.
Nhìn chung mỗi nớc có chiến lợc viện trợ riêng của mình, đồng thời cũng có
điều kiện, thủ tục, quy chế cấp ODA không nh nhau. Năng lực kinh tế là yếu tố
quan trọng nhất quyết định đến lợng ODA của nớc tài trợ. Tuy nhiên ODA còn
chịu tác động của các yếu tố khác sau đây:
- Nhãn quan chính trị, quan điểm cộng đồng rộng rãi dựa trên quan tâm nhân
đạo và hiểu biết về sự cần thiết đóng góp vào ổn định kinh tế - xã hội quốc tế.
- Mối quan hệ truyền thống với các nớc thế giới thứ ba.
- Tầm quan trọng của nớc đang phát triển đối với nớc cung cấp viện trợ ODA
(thị trờng tiêu thụ, nơi cung cấp nguyên vật liệu, lao động).
- Chính sách đối ngoại, an ninh, lợi ích chiến lợc... của nớc viện trợ.
Trong các đối tác viện trợ trên, Nhật Bản là nớc cung cấp ODA lớn nhất của
Uỷ ban viện trợ phát triển (DAC), thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD), đồng thời cũng là nớc viện trợ song phơng lớn nhất thế giới (phụ lục 1).
Theo kế hoạch ODA lần thứ IV của Nhật Bản, trong năm năm từ 1993 đến 1997
Nhật Bản sẽ cung cấp ODA cho các nớc đang phát triển với tổng giá trị khoảng 70
đến 75 tỷ USD (bình quân khoảng 14-15 tỷ USD một năm). Dới đây, ta đi sâu vào
nghiên cứu về viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản.
2.Khái niệm ODA của Nhật Bản.
phần viện trợ cho các nớc đang phát triển. Dới đây ta đi sâu vào nghiên cứu viện
trợ song phơng của Nhật.
Trang
9
3. Các cơ quan, quỹ viện trợ của Nhật Bản.
3.1. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA: Japan International
Cooperation Agency)
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đợc thành lập tháng 8 năm
1974, tiếp nhận trách nhiệm của tổ chức hợp tác kỹ thuật hải ngoại (thành lập năm
1962) và tổ chức di c hải ngoại (thành lập năm 1963) nhằm thực hiện các chơng
trình hợp tác kỹ thuật và viện trợ không hoàn lại cho các nớc đang phát triển. Đặc
biệt JICA là tổ chức duy nhất thực hiện các chơng trình hợp tác kỹ thuật do Chính
phủ Nhật Bản bảo trợ với mục tiêu chuyển giao công nghệ và kiến thức phục vụ
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các nớc nhận viện trợ.
Để thực hiện trách nhiệm này, JICA đã và đang triển khai các chơng trình
sau:
1. Hợp tác kỹ thuật và đào tạo tại Nhật Bản, cử chuyên gia, cung cấp thiết bị,
hợp tác kỹ thuật theo dự án và nghiên cứu phát triển.
2. Cử thành viên của tổ chức những ngời nguyện hợp tác với nớc ngoài của
Nhật Bản (JOCV).
3. Đào tạo và tuyển dụng cán bộ có năng lực làm nhiệm vụ hợp tác kỹ thuật.
4. Giám sát và điều hành các chơng trình viện trợ không hoàn lại.
5. Phát triển đầu t và hỗ trợ tài chính.
6. Giúp đỡ những ngời Nhật Bản sinh sống ở nớc ngoài.
7. Cứu trợ thiên tai
Tổ chức JICA có Chủ tịch, hai Phó chủ tịch (trong đó có một Phó chủ tịch
cao cấp), một thẩm định viên, bốn văn phòng, mời chín phòng chuyên môn và các
văn phòng chi nhánh ở hải ngoại, ngoài ra còn có Ban Th ký của đội cứu trợ thiên
tai Nhật Bản. Hiện nay JICA có khoảng 1.100 nhân viên tại Nhật Bản và 50 văn
phòng ở 48 nớc trên thế giới. Tính toàn bộ, JICA có khoảng 1.200 nhân viên đang
150 nớc đang phát triển. OECF có trụ sở chính tại TOKYO nhng văn phòng đại
diện ở 17 nớc trên thế giới trong đó có 14 nớc đang phát triển với toàn bộ số nhân
viên là 327 ngời.
Tháng 11 năm 1992, OECF đã cung cấp cho Việt Nam khoản vay bằng hàng
hóa trị giá 45 tỷ 500 triệu yên, tháng 1 năm 1994, cung cấp 7 khoản vay cho các
dự án phát triển và 1 khoản vay cho dự án phục hồi với tổng giá trị 52 tỷ 304 triệu
yên cho vay tài chính 94 và cam kết cho vay năm tài chính 95 của OECF cho Việt
Nam là 70 tỷ yên.
Trang
11
Ngoài ra, OECF còn tích cực hợp tác nhằm củng cố phơng thức nhận viện trợ
của Việt Nam nh việc đa dịch vụ t vấn quản lý dự án vào tất cả các cơ quan thực
thi dự án từ năm 1993. Để thực hiện có hiệu quả vai trò của mình, OECF đã mở
văn phòng đại diện tại Hà Nội vào tháng 4 năm 1995.
3.3. Quỹ đầu t hỗ trợ cho khu vực t nhân (OECF- PSIF)
Ngoài việc cung cấp vốn vay đồng Yên, OECF cũng tiến hành đầu t tài chính
khu vực t nhân thông qua quĩ tín dụng OECF- PSIF dành cho khu vực t nhân, với
mục đích giúp khu vực t nhân tại các nớc đang phát triển có nguồn tài chính cần
thiết để thực hiện các dự án phát triển hỗ trợ các dự án dới hình thức vốn vay hoặc
cổ phần
Việt nam là nớc u tiên quan trọng nhất của OECF- PSIF và OECF mong
muốn hỗ trợ nhiều dự án t nhân tại Việt NAm dới hình thức PSIF cũng nh vốn vay
đồng.
3.4 Quỹ tín dụng MIYAZAWA
Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu á, hầu hết các nớc trong khu
vực này đã chịu ảnh hởng, nền kinh tế bị tàn phá nạng nề. để giúp các nớc này
khắc phục hậu quả sau khủng hoảng và phục hồi kinh tế, Bộ trởng Tài chính Nhật
Bản ông Miyazawa đã đa ra sáng kiến thành lập một khoản tín dụng lấy tên là
Miyazawa để giải quyết vấn đề này.
Tiếp theo kế hoạch Miyazawa đã đợc Bộ trởng Tài chính Nhật trình bày tại
các khoản vay ngân hàng và cả trái phiếu mà các nớc châu á phát hành.
Trợ cấp lãi suất
Nhật sẽ thiết lập một thể thức hỗ trợ khủng hoảng tiền tệ Châu á. Thể thức
này sẽ đợc sử dụng để cung cấp trợ cấp lãi suất cho các nớc Châu á vay vốn từ
ADB.
Hỗ trợ tài chính theo hình thức đồng tài trợ với các ngân hàng phát triển đa
phơng : Nhật sẽ cung cấp đồng tài trợ với WB, ADB. Đặc biệt hỗ trợ cho các nớc
Châu á trong nỗ lực của họ để giải quyết việc cơ cấu lại các khoản nợ công ty,
khôi phục sự ổn định của hệ thống tài chính.
Trang
13
Trợ giúp kĩ thuật: WB và ADB sẽ đựơc yêu cầu cung cấp các hỗ trợ kĩ thuật
cần thiết thông qua quỹ đặc biệt Nhật Bản cho các nớc châu á để tiến hành nghiên
cứu toàn diện để giải quyết vấn đề cơ cấu lại nợ công ty và phục hồi sự ổn định của hệ
thống tài chính. Nhật chuẩn bị để tham gia bằng các biện pháp cung cấp TA cho các
nớc châu á này, có tính đến bối cảnh cụ thể của từng nớc.
2. Hỗ trợ tài chính ngắn hạn :
15 tỷ còn lại Nhật sẽ hỗ trợ cho các nhu cầu về vốn ngắn hạn cho cải cách
kinh tế dới hình thức các hoán đổi tiền tệ (dùng đồng tiền ở địa phơng để mua
ngoại tệ để tăng dự trữ).
Theo thông tin mới nhất hiện nay, Nhật đã thông báo cho một số chính phủ
ASEAN, những nớc chịu tác động của khủng hoảng về kế hoạch tài trợ của họ nh
sau :
- Tài trợ cho Philipin : 1,4 tỷ USD
- Indonesia : 2,4 tỷ USD
- Thái Lan : 1,85 tỷ USD
- Malaysia :1,5 tỷ USD
- Hàn quốc : 8,5 tỷ USD
- Việt Nam (Mới thông qua ngày 16/5/99) là 20 tỷ Yên
3.5 Mối quan hệ giữa JICA và OECF
(khoảng 15%-20%), chia thành 6 phần chi tiết nh sau:
- Viện trợ không hoàn lại tổng hợp:
Viện trợ không hoàn lại tổng hợp là loại viện trợ đợc cung cấp cho nhiều lĩnh
vực khác nhau trừ nghề cá, các hoạt động văn hóa, khắc phục thiên tai và lơng
thực, thực phẩm. Xét theo qui mô ngân sách thì đây là phần lớn nhất của khoản
viện trợ không hoàn lại do Nhật Bản cung cấp.
Viện trợ không hoàn lại tổng hợp nhằm mục đích góp phần phát triển kinh tế
- xã hội của các nớc đang phát triển, nhằm vào những lĩnh vực cung cấp các nhu
cầu cơ bản của con ngời (nông nghiệp, y tế, chăm sóc sức khoẻ công chúng, phúc
lợi xã hội, môi trờng) và công cuộc phát triển tài nguyên nhân lực (giáo dục,
nghiên cứu, đào tạo...).
- Viện trợ không hoàn lại cho ngành cá:
Trang
15
Loại viện trợ này góp phần phát triển nghề cá ở các nớc đang phát triển
thông qua việc hợp tác theo các dự án có liên quan đến nghề cá, chẳng hạn nh xây
dựng các trung tâm đào tạo nghề cá, mua các tàu huấn luyện đánh cá, xây dựng
các phòng thí nghiệm nghiên cứu nghề cá... cho các đang nớc phát triển.
- Viện trợ không hoàn lại để khắc phục thiên tai (viện trợ khẩn cấp)
Loại viện trợ khẩn cấp đợc cung cấp để hỗ trợ cho các hoạt động cứu trợ
trong các khu vực đang phát triển, nơi xẩy ra thảm họa. Trên tinh thần nhân đạo,
loại viện trợ này đợc cung cấp dới hình thức hàng cứu tế hoặc tiền mua hàng hóa,
thuốc men....
- Viện trợ không hoàn lại cho các hoạt động văn hóa.
Loại viện trợ này đợc bắt đầu thực hiện trong năm tài chính 1975 kết hợp với
việc hợp tác trao đổi văn hóa quốc tế.
Loại viện trợ này nhằm cung cấp tiền cho việc mua sắm những thiết bị và vật
t để phát triển công cuộc giáo dục và nghiên cứu bảo toàn và sử dụng những tài
sản văn hóa, những di tích lịch sử, và để tổ chức các buổi công diễn triển lãm
mang tính chất văn hoá ở các nớc đang phát triển.
hiệu quả trực tiếp bằng cách góp phần phát triển kinh tế và cải thiện phúc lợi công
cộng của nớc nhận viện trợ. Thông qua sự hiểu biết của nhân dân các nớc về viện
trợ không hoàn lại của Nhật Bản, Nhật Bản muốn tăng cờng sự hiểu biết sâu sắc
hơn nữa của những nớc này về Nhật Bản. Đó chính là vai trò quan trọng của viện
trợ không hoàn lại trong việc thực hiện chính sách ngoại giao của Nhật Bản.
4.2. Hợp tác kỹ thuật
a) Giới thiệu chung và tầm quan trọng của hợp tác kỹ thuật.
Hợp tác kỹ thuật liên quan trực tiếp đến việc chuyển giao công nghệ. Nhật
Bản rất coi trọng loại hình hợp tác này vì nó là bộ phận viện trợ không hoàn lại
mà các nớc đang phát triển rất mong đợi. Nó kéo theo một quan hệ trực tiếp thông
qua việc trao đổi nhân sự và góp phần đáng kể vào việc "phát triển tài nguyên
nhân lực". Lĩnh vực hợp tác kỹ thuật rất đa dạng: Nông nghiệp, công nghiệp, ng
nghiệp, cơ sở hạ tầng và y tế. Tỷ lệ phần hợp tác kỹ thuật trong ODA khoảng
25%.
Các chơng trình hợp tác kỹ thuật của Nhật vận dụng cơ chế nh sau: Bộ Ngoại
giao Nhật chuẩn bị kế hoạch cho những chơng trình này cũng nh xin ngân sách
cần thiết. Còn trách nhiệm thực hiện kế hoạch thuộc về Cơ quan hợp tác quốc tế
Nhật Bản (JICA).
Trang
17
Mục đích của hợp tác kỹ thuật là phát triển "các nguồn nhân lực" để xây
dựng đất nớc tại các nớc đang phát triển. Nói cách khác, hợp tác kỹ thuật nhằm để
nâng cao tay nghề của các kỹ thuật viên tại các nớc đang phát triển, những ngời
có khả năng về kỹ thuật, có vai trò tích cực trong công cuộc phát triển kinh tế và
xã hội của đất nớc.
b) Các hình thức hợp tác kỹ thuật.
Hợp tác kỹ thuật bao gồm hàng loạt các hoạt động rộng rãi từ việc nhận đào
tạo sinh viên từ nớc ngoài tới việc xuất bản và cung cấp sách vở, tài liệu kỹ thuật
bằng ngôn ngữ địa phơng....
Các chơng trình hợp tác kỹ thuật bao gồm.
* Giúp học viên trong chơng trình đào tạo tại Nhật Bản sử dụng đợc các kiến
thức và kỹ năng mới học đợc một cách hiệu quả ở nớc họ.
- Cử nhân viên tình nguyện từ tổ chức tình nguyện hợp tác tại nớc ngoài của
Nhật Bản (JOCV).
- Hợp tác kỹ thuật theo từng dự án.
Các chơng trình hợp tác kỹ thuật do Chính phủ Nhật Bản giao cho JICA thực
hiện gồm ba thành phần cơ bản: Đào tạo kỹ thuật tại Nhật, cử chuyên gia Nhật
sang các nớc, cung cấp thiết bị vật liệu cho hoạt động của các chuyên gia đó. Ba
loại hình hợp tác kỹ thuật này có thể đợc thực hiện một cách độc lập nhng để hợp
tác một cách hiệu quả hơn, thông thờng chúng đợc phối hợp với nhau và đợc gọi
là "Hợp tác kỹ thuật theo từng dự án". Hình thức hợp tác này do phòng hợp tác kỹ
thuật thuộc Vụ hợp tác kinh tế của Bộ ngoại giao Nhật phụ trách. Mục tiêu của nó
là chuyển giao công nghệ cho các kỹ s, kỹ thuật viên, nhân viên y tế, nông dân,
cán bộ khuyến nông... của nớc nhận viện trợ bằng cách cho họ tham gia vào các
dự án phát triển thuộc các lĩnh vực cụ thể nh nông lâm ng nghiệp, khai khoáng,
nghiên cứu về dân số và kế hoạch hóa gia đình... và các hoạt động nghiên cứu liên
quan đến các lĩnh vực đó.
* Chơng trình hợp tác về y tế nhằm góp phần cải thiện phúc lợi xã hội của
các nớc đang phát triển bị nhiều bệnh dịch hoành hành.
* Chơng trình dân số và kế hoạch hóa gia đình.
* Chơng trình hợp tác về nông lâm ng nghiệp nhằm phát triển nhân lực và
cải tiến công nghệ trong các lĩnh vực này nh trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm, chăm
sóc gia súc....
Trang
19
* Chơng trình hợp tác về phát triển công nghiệp nhằm tạo ra và phát triển
các ngành công nghiệp ỏ nớc nhận viện trợ.
- Khảo sát về phát triển:
Khảo sát về phát triển là bớc đầu tiên để hình thành mọi dự án. Cần tiến
hành khảo sát về phát triển đối với mọi lĩnh vực kể cả giao thông vận tải, dịch vụ
suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thơng mại (tiêu chuẩn quy ớc là 10%/năm).
Với các khoản viện trợ không hoàn lại, "yếu tố cho không" là 100%, trờng hợp
vay thơng mại (lãi suất 10%/năm)thì "yếu tố cho không" bằng 0. Công thức tính
phức tạp do Uỷ ban viện trợ phát triển (DAC) đa ra:
GE : Nhân tố viện trợ không hoàn lại (yếu tố cho không)
r : Lãi suất hàng năm
a : Số lần trả nợ trong 1 năm
G : Thời gian ân hạn
M : Thời gian trả nợ
d : Tỷ lệ chiết khấu
Thể loại cho vay này cung cấp để mua hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho việc
thực hiện một dự án phát triển. Các dự án về kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nh Bu
chính viễn thông, giao thông vận tải, điện lực, thủy lợi, hệ thống cung, thoát nớc...
đợc Nhật Bản u tiên chú ý trong các khoản cho vay của mình, chúng chiếm đại bộ
phận trong các khoản cho vay theo dự án.
Những loại sau đây cũng nằm trong vốn vay cho dự án:
* Vốn dịch vụ kỹ thuật: Vốn này chủ yếu cung cấp tài chính cần thiết cho
những dịch vụ t vấn có liên quan tới thiết kế chi tiết dự án. Những dịch vụ này
cũng có thể bao gồm những hoạt động nh xét duyệt sự nghiên cứu tính khả thi,
chuẩn bị cho các tài liệu đấu thầu...
Trang
21
* Vốn phục hồi: Nguồn vốn này đợc cung cấp để tài trợ cho việc mua hàng
hóa và thanh toán các dịch vụ cần thiết cho việc nâng cấp những công trình, thiết
bị hiện có nhng chất lợng đã giảm do tính lỗi thời hoặc bảo dỡng không thỏa
đáng.
* Vốn khu vực: Vốn này đợc cung cấp cho việc thực hiện một số các dự án
có quy mô vừa và nhỏ trong một khu vực kinh tế cụ thể (ví dụ nh vận tải, tới tiêu
hoặc đánh cá), kể cả việc tăng cờng của các cơ quan thực hiện. Bằng cách này vốn
những mặt hàng sẽ trực tiếp góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của n-
ớc nhận viện trợ nh máy móc, thiết bị, nguyên liệu công nghiệp....
c) Vai trò và các lĩnh vực của viện trợ cho vay:
Vai trò hàng đầu của viện trợ cho vay là bổ xung thêm các nguồn lợi bản
địa cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội của nớc nhận viện trợ. Tuy nhiên lĩnh
vực và khoản vay hớng vào tùy thuộc vào một số yếu tố nh cơ cấu kinh tế, kế
hoạch phát triển, chính sách phân phối của nớc nhận viện trợ. Viện trợ cho vay
ODA đợc cung cấp để phát triển nông nghiệp, cải tiến nâng cấp các công trình hạ
tầng cơ sở nh đờng xá, đập nớc, xây lắp các hệ thống thông tin liên lạc.
II. Các thủ tục cần thiết để cấp viện trợ ODA của Nhật
Bản cho một đề án.
1. Mục tiêu viện trợ ODA của Nhật Bản
Đã 45 năm qua, kể từ 1954, Nhật Bản đã thực hiện chính sách viện trợ phát
triển chính thức (ODA) và chính sách này ngày càng trở thành công cụ đắc lực về
ngoại giao và bành chớng kinh tế của Chính phủ Nhật Bản. Mặc dù mục tiêu ban
đầu của chính sách ODA của Nhật Bản là "Nhận thức đợc sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các quốc gia trên thế giới" và "Những sự quan tâm mang tính nhân đạo",
cũng nh coi viện trợ phát triển là một công cụ khuyến khích phát triển kinh tế và
phúc lợi xã hội, đồng thời cung cấp một sự trợ giúp gián tiếp phục vụ cho việc tự
trợ giúp đối với các nớc đang phát triển, nhng trong thực tế mục tiêu của ODA
ngày càng mở rộng, không chỉ có mục tiêu nhân đạo hỗ trợ phát triển kinh tế mà
còn là công cụ chính trị của Chính phủ Nhật Bản đối với các nớc đang phát triển
tiếp nhận viện trợ, là bàn đạp hỗ trợ cho các nhà kinh doanh Nhật Bản bành chớng
thơng mại và đầu t trên thế giới.
Thực tế chính sách ODA của Nhật Bản trong mấy chục năm qua đã cho thấy
đây là một công cụ của chính sách đối ngoại và chính sách kinh tế tích cực của
Chính phủ Nhật Bản. Ngoài những mục tiêu nhân đạo trợ giúp các nớc đang phát
triển (theo những tiêu chuẩn chính sách của chính sách đối ngoại), chính sách
ODA còn có mục tiêu phục vụ cho chính Nhật Bản.
Trang
triển kinh tế của nớc tiếp nhận viện trợ. Nó quan trọng cho cả 2 phía, vì vậy đòi hỏi
cả hai phía phải hợp tác, tôn trọng lẫn nhau và có trách nhiệm với nhau.
Trang
24
2. Đặc điểm viện trợ ODA của Nhật Bản.
Chính sách viện trợ ODA của các nớc không giống nhau, phụ thuộc vào
chính sách kinh tế và chính sách đối ngoại của từng nớc. Nếu so sánh với viện trợ
của Pháp và Mỹ, cách thức viện trợ của Nhật Bản có những điểm khác biệt. Viện
trợ của Mỹ đặt trọng tâm vào "Nhu cầu cơ bản của con ngời" thỏa mãn những nhu
cầu tối thiểu của cuộc sống của con ngời và phổ biến "Hệ thống giá trị của Mỹ",
đặt tầm quan trọng ngoại giao của Mỹ cao hơn nhu cầu của nớc nhận viện trợ.
Còn Nhật Bản tiến hành viện trợ với điều kiện tiên quyết là khoản viện trợ phải
đáp ứng đúng yêu cầu và dự án cụ thể do nớc nhận viện trợ đa ra và nhất thiết phải
có điều tra khả thi đối với dự án. Về hình thức viện trợ, viện trợ của Mỹ hầu hết là
viện trợ không hoàn lại (trên 90%) và có thể đợc xuất nhanh chóng bơỉ các quỹ hỗ
trợ. Trong khi đó, viện trợ ODA của Nhật Bản chủ yếu là vốn vay bằng đồng Yên,
thủ tục phức tạp mất nhiều thời gian (trung bình hai năm đối với dự án kể từ khi
ký kết hiệp định vay đến khi bắt đầu triển khai thực thi dự án). Đố với viện trợ
ODA của Pháp thì phần lớn viện trợ là dành cho các mối quan hệ sẵn có và sự
truyền bá văn hóa và ngôn ngữ Pháp.
So với các nớc, viện trợ ODA của Nhật Bản có bốn đặc điểm sau:
2.1. Viện trợ cho vay chiếm tỉ lệ cao trong ODA
Thông thờng, tỷ lệ viện trợ có hoàn lại trong ODA của các nớc viện trợ thấp.
Các quốc gia viện trợ khác quan niệm rằng: đã là viện trợ sao còn phải hoàn trả cả
vốn và lãi. ý kiến này, về một phơng diện nào đó là đúng, bởi vậy, Nhật Bản u tiên
viện trợ không hoàn lại nhiều cho những nớc kém phát triển không có khả năng
trả nợ. Chính sách viện trợ của Nhật Bản cho từng nớc đang phát triển cũng thay
đổi tùy thuộc vào những thành quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của n-
ớc đó. Ví dụ, Thái Lan luôn là một trong những nớc nhận viện trợ ODA lớn nhất
của Nhật Bản trong mọi hình thức viện trợ song phơng của Nhật Bản nhng từ năm