tình hình sản xuất – tiêu thụ đường tại việt nam từ năm 2008 đến nay - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ THỰC PHẨM Tiểu luận môn: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ĐƯỜNG BÁNH KẸO
Đề tài:

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT – TIÊU THỤ ĐƯỜNG TẠI
VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

Lớp ĐHTP5LT – Nhóm 2
GVHD: Hồ Xuân Hương
SV: Trần Thị Ngọc Anh
Nguyễn Thị Hoàng
Trần Thị Minh Nhật
Hà Trần Quỳnh Như
Phạm Thị Thảo Sương
của chúng em.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM
1.1. Phân biệt các loại đường
Phân loại theo tiêu chuẩn Việt Nam: hiện nay trên thị trường có 3 loại
đường:
Đường thô (raw sugar): là loại đường có độ tinh khiết thấp, chất lượng kém,
màu nhiều, sản xuát theo dây chuyên thủ công như đường tán, đường vàng…
RE: là chữ viết tắt của Refined Extra - Đường tinh luyện thượng hạng.
Ngoài sản phẩm đường tinh luyện RE thượng hạng, chúng tôi còn nhận sản xuất
và cung cấp đường RE đặc biệt tốt hơn theo yêu cầu của khách hàng.
RS: là chữ viết tắt của Refined Standar - Đường tinh luyện tiêu chuẩn. Nhờ
có các máy sàng đa tầng, đường tinh luyện được phân ra thành nhiều cỡ hạt khác
nhau, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Tùy theo cỡ hạt mà đường RE có
các sản phẩm khác nhau xuất hiện trên thị trường: RE thị trường - RE sản xuất -
RE hạt nhuyễn - RE hạt mịn.
1.2. Mức tiêu thụ đường ở Việt Nam
Mức tiêu dùng đường theo nhu cầu sinh học đối với cơ thể người khoảng
12g/kg thể trọng/ngày. Mức tiêu dùng bình quân của thế giới là 24 kg/người/năm
(đặc biệt là Mỹ 44 kg/người/năm, Anh là 42 kg/người/năm). Hiện nay ở Việt Nam
mức tiêu dùng đường bình quân là 12 kg/người/năm (trong đó 4 kg cho nhu cầu
tiêu dùng trực tiếp và 8 kg thông qua các sản phẩm chế biến khác). Rõ ràng so với
mức tiêu thụ đường bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với
thế giới (chỉ bằng 50%). Có thể giải thích điều này như sau: Các nước phát triển,
đường được ăn chủ yếu thông qua các sản phẩm chế biến nhiều hơn rất nhiều so
với ăn trực tiếp. Việt Nam là nước chậm phát triển nên đường ăn trực tiếp là chủ
yếu. Dân ta còn nghèo, nước ta có nhiều loại sản phẩm hoa quả nhiệt đới có hàm
lượng đường lớn, nên khẩu phần đường đã được thay thế phần lớn khi ăn các dạng
hoa quả. Mặt khác cũng xuất phát từ tập quán ăn uống của người Việt Nam ăn
ngọt ít, không dùng nhiều đường trong khẩu phần ăn hàng ngày.

hỏi các nhà quản lý phải có những quyết sách phù hợp.
1.4. Khái quát về các nhà máy đường Việt Nam
 Phân theo khu vực như sau:
Miền Bắc: 13 nhà máy, tổng công suất 27.350 TMN, chiếm 33%
Miền Trung và Tây Nguyên: 16 nhà máy, tổng công suất 24.450 TMN,
chiếm 29,5%
Miền Nam: 15 nhà máy, tổng công suất 31.150 TMN, chiếm 37,5%
 Phân chia theo cấp quản lý và thành phần kinh tế
Trung ương: 16 nhà máy (Việt Trì, Sơn Dương, Nông Cống, Quảng Bình,
Quảng Nam, Quảng Ng•i, Nam Quảng Ng•i, Kon Tum, An Khê, 333 Đăk Lăk,
Đồng Xuân, Tuy Hoà, Bình Thuận, Bình Dương, Hiệp Hoà và Trà Vinh), với công
suất thiết kế 20.850 TMN, chiếm 25,1% công suất cả nước và 11,4% tổng vốn đầu
tư.
Địa phương: 19 nhà máy (Cao Bằng, Thị xã Tuyên Quang, Sơn La, Hoà
Bình, Sông Con, Sông Lam, Bình Định, Đăk Lăk, Ninh Hoà, Cam Ranh, Phan
Rang, Nước Trong, Trị An, Bến Tre, Sóc Trăng, Vị Thanh, Phụng Hiệp, Kiên
Giang và Thới Bình), với công suất thiết kế 24.600 TMN, chiếm 29,6% công suất
cả nước và 36,3% tổng vốn đầu tư.
Cổ phần hóa: 3 nhà máy (Lam Sơn, La Ngà, Biên Hoà), với công suất thiết
kế 10.500 TMN, chiếm 12,8% công suất cả nước và 7,7% tổng vốn đầu tư.
Liên doanh và 100% vốn nước ngoài: 6 nhà máy (Tab and lyb, Việt Đài,
Bour bon Tây Ninh, Bour bon Gia Lai, KCP Phú Yên, Nagarjuna Long An), với
công suất thiết kế 27.000 TMN, chiếm 32,5% công suất cả nước và 44,6% tổng
vốn đầu tư.
 Phân theo công suất
Công suất 100 - 900 TMN có 10 nhà máy công suất 5.200 TMN chiếm 7%
công suất cả nước.
Công suất 1000 TMN có 14 nhà máy với tổng công suất 14.000 TMN
chiếm 18% công suất cả nước.
Công suất 1250 - 1500 TMN có 8 nhà máy với tổng công suất 11.000

tăng cao, thậm chí giá đường trong nước (tính từ đầu năm 2009) còn cao gấp đôi
so với mặt bằng chung
của thế giới
Đồ thị biểu diễn diễn biến giá đường trên thị trường TP.HCM và Cần Thơ
Trong một vài năm từ trước năm 2009, do mức thu nhập của người dân
tăng và xu hướng tiêu dùng thực phẩm thay đổi nên lượng đường tiêu thụ trên thế
giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang trong xu hướng lên cao. Trong khi
đó nguồn cung đường mía (được chiết xuất từ mía đường, chiếm tới 74 - 77% tổng
sản lượng đường toàn thế giới) lại rơi vào tình trạng khủng hoảng do thiếu nguyên
liệu trầm trọng. Sức ép thiếu nguyên liệu, đó là nguyên nhân chính khiến nguồn
cung trên thị trường bị thiếu hụt so với nhu cầu của người dân và dẫn đến tình
trạng giá đường tăng rất mạnh. Trong báo cáo Ngành hàng Mía đường Việt Nam
2009 các nhà khoa học đã tiến hành khảo sát và phân tích khá rõ thực trạng trên.
Thực chất đây là sự tác động lẫn nhau của một chuỗi các yếu tố diện tích, năng
suất, sản lượng mía, giá mía nguyên liệu cũng như công nghiệp sản xuất đường
nội địa. Mía hiện nay được trồng chủ yếu tại khu vực Bắc Trung Bộ, duyên hải
Miền Trung, Đồng bằng Sông Cửu Long và khu vực Đông Nam Bộ với xu hướng
thu hẹp dần về diện tích. Bình quân giai đoạn 2001 – 2008, diện tích trồng mía cả
nước giảm 1,13%/năm. Nguyên nhân suy giảm diện tích chủ yếu là do thu nhập từ
trồng mía không có tính cạnh tranh cao so với thu nhập từ các loại cây trồng khác,
điều này đã tác động quyết định trồng hay không trồng của nông dân. Rất nhiều
diện tích trồng mía đã được chuyển sang trồng sắn và phục vụ các khu công
nghiệp. Và diện tích thu hẹp đã ảnh hưởng tới sản lượng mía đường hàng năm.
Trong năm 2008, hầu hết các khu vực đều giảm sản lượng mía, đặc biệt là khu vực

(thông tin tại

Niên vụ 2007 - 2008, sản lượng đường toàn thế giới đạt 168.611.000 tấn.
Sản lượng đường niên vụ 2008 - 2009 chỉ còn 161.527.000 tấn, trong khi tổng nhu
cầu tiêu thụ gần 166 triệu tấn, nên thiếu hụt gần 4,5 triệu tấn. Trước đây, mỗi niên
vụ cả nước sản xuất được 1.150 nghìn tấn đường, thêm 100 nghìn tấn đường thủ
công, tổng sản lượng là 1.250 nghìn tấn. Niên vụ 2008 -2009, Việt Nam chỉ sản
xuất được 915 nghìn tấn, cộng với đường thủ công, tổng sản lượng đạt 1.015
nghìn tấn, như vậy giảm 200 nghìn tấn so với bình quân mọi năm. Theo cam kết
WTO, hàng năm Việt Nam phải nhập 61 nghìn tấn đường chính ngạch. Năm 2009,
sau khi cân đối cung cầu (có tính đến 100 nghìn tấn đường tồn kho từ niên vụ
trước), Nhà nước cho tăng lượng đường nhập khẩu thêm 40 nghìn tấn. Đến thời
điểm 2009, tổng lượng đường tồn kho của các nhà máy còn khoảng 100 nghìn tấn.
Trong số 101 nghìn tấn đường nhập khẩu hiện vẫn còn tồn 55 nghìn tấn, như vậy
tổng cộng hiện còn tồn kho 155 nghìn tấn đường. Sản lượng đường tiêu dùng từ
15/6-15/7/09 là 44.300 tấn; từ 15/7-15/8/09 là 62.200 tấn.”
2.2. Tình hình tiêu thụ đường từ cuối năm 2009 đến 2010
Trong niên vụ 2008 - 2009, do thiếu nguyên liệu nhiều nhà máy phải đóng
cửa một thời gian dài. Theo Bộ NN&PTNT cho biết, trong tháng 4/2010 đã có 35
nhà máy đường dừng sản xuất, chỉ có 5 nhà máy hoạt động. Nguyên nhân của tình
trạng này là do ngành mía đường chưa giải quyết được vấn đề quy hoạch vùng
trồng mía, thêm vào đó, các nhà máy đường thời gian qua được xây dựng một
cách ồ ạt mà không tính tới hiệu quả cũng như quy hoạch vùng nguyên liệu, do đó
đã gây tổn thất không nhỏ. Cũng theo Bộ NN&PTNT, lượng đường bán ra thị
trường từ này 15/3 đến ngày 15/4 là 44,300 tấn, thấp hơn cùng kỳ năm trước
90.200 tấn. Trong đó lượng đường tồn tại kho các nhà máy tính đến giữa tháng
4/2010 là 382.700 tấn, cao hơn cùng kỳ năm trước 111.400 tấn. Nguyên nhân
lượng đường bán ra thấp hơn và tồn kho cao hơn là do ảnh hưởng của đường nhập
khẩu chính ngạch và nhập lậu tràn lan. (TT.Báo Thanh Tra)
Tại hội nghị tổng kết sản xuất mía đường được tổ chức tại Hà Nội, Hiệp hội

đường tăng chậm lại trong niên vụ 2009/2010. Và sản lượng đường thế giới niên
vụ 2009/2010 đạt vào khoảng 165 triệu tấn, thị trường đường tiếp tục lún sâu hơn
vào tình trạng thâm hụt nguồn cung, nâng giá đường cao lên mặc dù tình trạng
kinh tế thế giới đang khiến nhu cầu đường giảm. Lượng đường sản xuất trong niên
vụ 2009/2010 của Việt Nam là 1,3 triệu tấn, cộng với lượng đường nhập khẩu theo
cam kết sau khi gia nhập WTO là 64.000 tấn.
Hiện nay, ngành mía đường đang tập trung chỉ đạo quyết liệt việc đầu tư
giống mới và kỹ thuật thâm canh để nâng nhanh năng suất và chất lượng mía
nguyên liệu. Hiện nay có trên 60% các giống mía đang trồng phổ biến trong sản
xuất là những giống cũ đã trồng tại Việt Nam trên dưới 10 năm về trước như ROC
1 - ROC 10, F156, F127… Đặc điểm chung của các giống mía này là dễ canh tác,
có khả năng thích nghi, thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái nhưng trữ lượng
đường lại rất thấp. Một số năm trở lại đây, hàng loạt các công ty mía đường như:
Lam Sơn, Quảng Ngãi, Biên Hòa, Tây Ninh… đã chủ động nhập về và khảo
nghiệm thành công nhiều giống mía mới cho năng xuất và trữ lượng cao hơn,
trong đó Công ty CP mía đường Lam Sơn là một trong những công ty hàng đầu
quan tâm đến công tác phát triển giống mới với tỷ lệ đạt trên 50% diện tích. Diện
tích những giống mía mới hiện mới chỉ đạt rất khiêm tốn với khoảng 30.000ha
tính cho cả nước.
2.3. Tình hình tiêu thụ đường từ cuối năm 2010 đến nay
Theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam, hiện đang giữa mùa thu hoạch mía
đường nên nguồn cung khá dồi dào. Tháng 1-2011, các nhà máy sản xuất trên
200.000 tấn đường, trong tháng 2 cũng sản xuất khoảng 130.000 tấn – 140.000 tấn
đường, trong khi nhu cầu tiêu thụ đường trên thị trường chỉ khoảng 100.000
tấn/tháng. Dự báo sản lượng đường mùa vụ 2010- 2011 sẽ đạt trên 1 triệu tấn, tăng
khoảng 10% so với cùng kỳ năm trước.
2.4. Biến động giá thị trường nội địa từ năm 2008 đến nay
Vào giữa năm 2008, trong khi hầu hết các sản phẩm đều tăng giá mạnh theo
giá dầu (kỷ lục 147 USD), thì giá đường lại xuống tới mức thấp nhất, chỉ 7.000-
7.500đồng/kg. Chỉ tính riêng từ năm 2008 -2009, giá đường thô liên tục tăng và

bán đường từ 8.500 đồng/kg lên 11.000-11.300 đồng/kg. Trong khi đó, chính Bộ
NN&PTNT vào thời điểm trên cũng xác nhận mức giá 8.500 đồng/kg là hợp lý vì
giá thành sản xuất đường vụ 2008-2009 khoảng 7.500 đồng/kg.

Giá đường tinh luyện tháng 9-2009. Đồ họa: VĨ CƯỜNG -
Ngu
ồn:
Những ngày đầu năm 2011 tại Bến Tre, giá đường RE nội là 22.000 đ/kg,
tại Cà Mau là 23.000 đ/kg. Tại khu vực Tp. Hồ Chí Minh, giá bán lẻ tại các chợ và
cửa hàng nhỏ vẫn duy trì mức 24.000 đ/kg đối với đường trắng, 22.000đ/kg đường
vàng, tăng 1.000 đ/kg so với đầu tháng 1.
Theo dự báo của Cục Quản lý giá (Bộ Tài Chính), do nhu cầu đường vẫn ở
mức cao, bên cạnh đó giá đường trên thị trường thế giới dự báo cũng tăng cao, đẩy
giá đường trong nước tăng lên.(Nguồn tổng hợp theo Bản tin đường mía
1/3/2011)

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ ĐƯỜNG Ở
VIỆT NAM TỪ 2008 ĐẾN NAY
3.1. Tình hình sản xuất đường
3.1.1. Thời kì 2008 - 2009
Từ cuối tháng 3/2009 đến tháng 4/2009, liên tục 6 nhà máy đường ở đồng
bằng sông Cửu Long “tăng tốc” thu mua nguyên liệu, đã đẩy giá mía lên kỷ lục
mới 620-670 đồng/kg (mía chữ đường 10 CCS) thu mua tại nhà máy.
TS. Hà Hữu Phái, Tổng thư ký Hiệp hội Mía đường cho biết, từ giữa tháng
3 đến tháng 4, đã có hơn 20 trong tổng số 40 nhà máy đường trên cả nước phải kết
thúc sản xuất trước thời hạn niên vụ, nguyên nhân do hết nguyên liệu. Thông
thường, niên vụ sản xuất mía thường kết thúc vào đầu tháng 5, nhưng năm 2009
vụ sản xuất mía sẽ kết thúc sớm hơn khoảng nửa tháng.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long có tới 10 nhà máy đường công suất lớn (từ
1.000-2.500 tấn/ngày) và nhiều nhà máy đang tiếp tục đầu tư nâng công suất.

 Thiếu nguyên liệu gay gắt
Ông Phan Huy Thông, Cục phó Cục Trồng trọt cho biết, ngay từ đầu vụ,
ngành mía đường đã có kế hoạch mở rộng diện tích trồng mía, dự kiến tăng 12.620
ha (6%) so với vụ trước. Tuy nhiên, điều trái ngược là diện tích mía cả nước khi
kết thúc vụ chỉ đạt 265.136 ha, giảm 5.464 ha so với năm trước. Diện tích mía
giảm chủ yếu ở vùng nguyên liệu tập trung của các nhà máy, hiện chỉ còn 242.413
ha, giảm 5.307 ha.
Theo thống kê trung bình hàng năm, năng suất mía những năm gần đây đạt
bình quân 60 tấn/ha. Tuy nhiên, theo báo cáo của các nhà máy trên cơ sở tổng diện
tích thu hoạch và sản lượng mía được thu mua, thì năng suất mía nguyên liệu thực
tế bình quân niên vụ 2009-2010 chỉ đạt 51,7 tấn/ha.
Tổng sản lượng mía các nhà máy đường thu mua được là 9.747.800 tấn, chỉ
đáp ứng được 61,2 tổng công suất thiết kế của các nhà máy. Trong số 40 nhà máy
đường: chỉ có 2 nhà máy có đủ nguyên liệu; 13 nhà máy hoạt động dưới 50% công
suất, thậm chí cá biệt Công ty đường Tuyên Quang chỉ đạt được 21% công suất;
Công ty Suger Việt Nam chỉ đạt 15,5% công suất.
Trong 3 năm qua, các công ty đã đầu tư nâng tổng công suất từ 86.500 tấn
mía/ngày lên 105.700 tấn mía/ngày, nhưng diện tích mía, năng suất và sản lượng
mía ngày càng sụt giảm dẫn đến tình trạng khan nguyên liệu gay gắt.
Theo ông Đoàn Xuân Hòa, Cục phó Cục Chế biến thương mại nông lâm thủy sản
và nghề muối, tất cả các chỉ tiêu đặt ra cho ngành đường đều không đạt được.
Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Mía
đường đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 với các chỉ tiêu chủ yếu đến năm
2010 như diện tích mía 300.000 ha; năng suất mía bình quân 65 tấn/ha; chữ đường
bình quân 11 CCS; sản lượng mía cả nước 19,5 triệu tấn; tổng sản lượng đường
sản xuất 1,5 triệu tấn (trong đó sản lượng đường công nghiệp đạt 1,4 triệu tấn).
Nhưng các chỉ tiêu thực tế năm 2010 đạt được là: diện tích mía 265.000 ha
(thấp hơn 11,7% so với kế hoạch); năng suất mía bình quân 51,7 tấn/ha (thấp hơn
20,5%); chữ đường bình quân chỉ đạt 9,7 CCS (thấp hơn 11,8%); tổng sản lượng
mía chỉ đạt 13,7 triệu tấn (thấp hơn 29,7%); tổng sản lượng đường công nghiệp chỉ

hủy bỏ vì không bán được. Nông dân trồng mía không chịu đầu tư mua giống, vẫn
giữ thói quen tự để giống mía cho vụ sau, khiến giống mía trồng ngày càng suy
thoái.
Kế hoạch đề ra cho niên vụ mía đường 2010-2011 là các địa phương phải
tích cực chỉ đạo mở rộng diện tích trồng mía, nhằm đưa diện tích mía lên 278
nghìn ha, tăng 13 nghìn ha so với vụ mía năm nay. Sản lượng mía nguyên liệu vụ
tới phấn đấu đạt 11 triệu tấn, đáp ứng 69% công suất của các nhà máy đường.
Định hướng đến năm 2015, phát triển ổn định diện tích mía cả nước 300
nghìn ha; đưa năng suất bình quân lên 65 tấn/ha; sản lượng mía nguyên liệu 17,2
triệu tấn; sản lượng đường 1,75 triệu tấn, đáp ứng đủ nguyên liệu trong nước và có
thể dư thừa để xuất khẩu.
3.1.3. Thời kì 2010 – đến nay
Vào thời điểm tháng 10/2010, giá đường bán ra của nhà máy ở mức 17.000
đồng/kg. Giá bán lẻ tại các chợ đầu mối và siêu thị dao động từ 20.000- 22.000
đồng/kg tùy loại. Như vậy từ đầu năm 2010 đến thời điểm này, giá đường trắng đã
tăng 3 lần.
Nguyên nhân do thiếu hụt nguồn cung. Sản lượng đường niên vụ vừa rồi
trên thế giới giảm gần 5 triệu tấn nên không chỉ Việt Nam mà các nước sử dụng
nhiều đường như Thái Lan, Trung Quốc, Mỹ cũng nhập khẩu dự trữ thêm
đường.
Những năm gần đây, lượng đường tiêu thụ, sản xuất công nghiệp trong
nước trung bình khoảng 1,3-1,4 triệu tấn/năm. Nhưng năm 2010, kế hoạch sản
xuất 1 triệu tấn cũng rất khó hoàn thành bởi đợt hạn hán.
Thống kê của Bộ NN-PTNT, vụ mía vừa qua, diện tích các vùng mía
nguyên liệu cả nước tăng 3-4% với diện tích tăng không nhiều thì chưa thể tạo ra
đột biến về sản lượng mía, bởi mía dù thâm canh tốt cũng chỉ đáp ứng không quá
70% nhu cầu của các nhà máy đường. Trên thực tế trong những năm gần đây cây
mía hiện đang bị cạnh tranh quyết liệt bởi cây cao su, cà phê, tiêu, điều, sắn mì
hay các cây trồng khác cho thu nhập cao hơn, nên diện tích mía thực tế hiện ở một
số địa phương chỉ bằng một nửa so với quy hoạch. Quảng Ngãi, địa phương nổi

mía nguyên liệu đang là vấn đề nhức nhối ở khắp các địa phương.
Tại ĐBSCL, tình trạng giành giật mía nguyên liệu vẫn xảy ra khi lượng mía
thiếu hụt so với công suất dự kiến của các nhà máy. Giá mía nguyên liệu khu vực
này năm 2010 có lúc đã lên tới 1,4 triệu đồng/tấn. Nhiều nhà máy trong khu vực
đã lên kế hoạch đầu tư vùng nguyên liệu ra nước ngoài, đặc biệt là Campuchia.
Ở khu vực miền Bắc, Công ty mía đường Lam Sơn (Thanh Hóa) cũng trong
tình trạng thiếu hụt nguồn nguyên liệu trầm trọng mặc dù đã có kế hoạch mở rộng
diện tích trồng mía lên gấp đôi từ năm ngoái. Công ty này dự kiến sắp tới sẽ đầu tư
vào vùng nguyên liệu mía từ các nước lân cận hoặc phải nhập khẩu nguyên liệu.
Tại tỉnh Nghệ An, vụ đường năm 2010 có 4 nhà máy tham gia hoạt động
chế biến bao gồm Nhà máy đường NAT&L, Sông Con, Sông Lam và Sông Dinh
với tổng công suất 14.000 tấn mía/ngày nhưng nguồn nguyên liệu trong tỉnh chỉ
đáp ứng hơn một nửa. Hiện nay ngành đường của Nghệ An đang phải nỗ lực tìm
nguồn nguyên liệu.
Khu vực miền Trung, nguồn mía nguyên liệu ở Quảng Ngãi cũng thiếu. Giá
mía nguyên liệu đã lên tới 1 triệu đồng/tấn mía tại ruộng, cao hơn 150.000
đồng/tấn so với cùng kỳ năm 2009. Đầu năm 2010, theo dự kiến của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, lượng đường tiêu thụ trong nước sẽ thiếu hụt trầm
trọng nên bộ đã đề nghị cho nhập 250.000 tấn.
Bộ Công Thương cũng đã cấp hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường là
200.000 tấn. Đến cuối tháng 7/2010, do lượng đường sản xuất trong nước thấp hơn
kế hoạch dự kiến nên cơ quan này đã cấp hạn ngạch thuế quan cho các doanh
nghiệp nhập khẩu thêm 100.000 tấn đường nữa. Song theo số liệu từ Vụ Xuất
nhập khẩu (Bộ Công Thương) đến hết tháng 10, các doanh nghiệp mới chỉ nhập
khẩu được 210.000 tấn. Như vậy, lượng đường trong hạn ngạch thuế quan năm
2010 chưa được nhập khẩu là 90.000 tấn.
Niên vụ sản xuất mía đường 2010/2011 chính thức bắt đầu từ tháng
11/2010, chậm hơn thông thường 2 tháng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn đưa ra ước tính sản lượng đường dự kiến toàn ngành chỉ đạt khoảng 1 triệu
tấn, thiếu hụt khoảng 200.000-250.000 tấn so với nhu cầu tiêu dùng trong nước.

trước giảm 5000 tấn (0.5%). Tỉ lệ phát huy công suất bình quân cả nước đạt 61.5%
so với thiết kế.
Trong đó:
 Miền Bắc ép được 2.528.000 tấn mía, được 267.200 tấn đường. So với vụ
trước, lượng mía ép giảm 300.000 tấn (10.6%), lượng đường giảm 5.300 tấn
(2,0%).
 Miền Trung và Tây nguyên ép được 2.834.000 tấn mía, được 270.750 tấn
đường. so với vụ trước, lượng mía ép tăng 198.000 tấn (7.5%), lượng đường tăng
18.350 tấn (7.3%).
 Miền Nam ép được 4.385.000 tấn mía, được 366.100 tấn đường. so với vụ
trước lượng mía ép tăng 219.000 tấn (5.3%), lượng đường giảm 18.300 tấn
(4.8%).
Chất lượng mía đưa vào nhà máy bình quân cả nước kém hơn vụ trước
khỏang 9.8 CCS; tỉ lệ tiêu hao bình quân 10.8 mía/1 đường (vụ trước 10.7). Cụ thể
từng vùng là:
 Miền Bắc tiêu hao bình quân 9.5 mía/1 đường, vụ trước là 10.4 mía/1
đường.
 Miền Trung và Tây Nguyên tiêu hao bình quân 10,5 mía/1 đường, tương
đương vụ trước.
 Miền Nam tiêu hao bình quân 12.0 mía/1 đường, vụ trước là 11.2 mía
đường.
4.1.2. Sản xuất đường thủ công
Đường thủ công sản xuất được khỏang 80.000 tấn đường (quy đường trắng), bằng
vụ trước.
4.2. Những hạn chế và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sự phát triển ngành
mía đường
4.2.1. Về nguyên liệu
Sự cạnh tranh có nước giữa cây mía và nhóm cây khác rất quyết liệt do cây
mía muốn có năng suất cao phải tưới nước, đa số cây mía của chúng ta được trồng
ở những vùng không có nước, nhưng thuỷ lợi giải quyết cho cây mía thì còn rất

với giá từ 21 nghìn đến 22 nghìn đồng/kg. Tuy nhiên, theo Cục Chế biến nông -
lâm - thủy sản và nghề muối, từ tháng 4 và sang đầu tháng 5, giá đường thế giới lại
giảm 52%, hiện giá giao dịch tại New York còn 356 USD/tấn. Trước sức ép này,
giá đường trong nước xuất tại kho của các nhà máy phải hạ nhiệt, xuống còn 13,5

Trích đoạn Giải pháp cụ thể:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status