§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
ĐẶTVẤN ĐỀ
Kinh tế đối ngoại là một mặt hoạt động không thể thiếu ở một nước
nào đó trong thời kì hội nhập và phân công lao động quốc tế vì vâỵ Việt
Nam cũng không phải là ngoại lệ
Kinh tế đối ngoại góp phần nối liền sản xuất và trao đổi quốc tế, nối
liền thị truờng trong nước và quốc tế, khu vực nó góp phần thực hiện trao
đổi khoa học kĩ thuật và công nghệ quản lý giữa các nước với nhau. Hoạt
động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài: như vốn
đấu tư trực tiêp FDI vốn viện trợ chính thức từ các tổ chức tiền tệ và các
chính phủ ODA. Ngoài ra nó còn thu hút khoa học kĩ thuật và công nghệ
khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế
hiện đại vào nước ta. Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước
ta kinh tế đối ngoại còn góp phần tích luỹ vốn, thúc đẩy sự tăng trưởng
kinh tế tạo nhiều công ăn việc làm cho nhân dân lao động.
Việt Nam có khả năng mở rộng quan hệ buôn bán và hợp tác kinh tế
với thị trường lớn và những cường quốc công nghệ lớn trên thế giới, đa
phương hoá quan hệ thị trường và đối tượng hợp tác phát triển lĩnh vực
kinh tế đối ngoại với tốc độ cao.
Vậy vấn đề đặt ra ở đây đối với chúng ta là đã làm được gì trong công
cuộc xây dựng đất nước, thực trạng và giải pháp cơ bản để mở rộng và
nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay. Để kinh tế
đối ngoại đạt được những thành tựu thì cần phải vượt qua được những thử
thách của toàn cầu hóa giữ vững đinh hướng xã hội chủ nghĩa.
Là một sinh viên kinh tế quốc tế chúng ta cần thiết phải nắm rõ tình
hình kinh tế trong nước và quốc tế vậy đề tài này đã giúp chúng ta hiểu
được phần nào về thực trạng kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay.
Để hoàn thành được đề tài này, tôi đã nhận được nhiều sự hướng dẫn
của thầy giáo cùng sự giúp đỡ từ các sinh viên khoá trên và bạn bè. Tôi xin
chân thành cảm ơn.
làm cơ sở; từ phân công diễn ra theo phạm vi sản phẩm phát triển thành
phân công diễn ra theo phạm vi các yếu tố sản xuất; từ phân công trong lĩnh
vực sản xuất thành phân công trong ngành dịch vụ. Cơ chế hình thành phân
công quốc tế cũng đang biến đổi. Tức là, từ phân công do lực lượng tự phát
của thị trường quyết định phát triển thành phân công do xí nghiệp, chủ yếu
2
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
là do các công ty xuyên quốc gia kinh doanh và phân công do thành viên
các tập đoàn kinh tế, thương mại khu vực tổ chức, sự phân công có tính
hiệp định. Phân công theo chiều ngang trở thành hình thức phân công quốc
tế chủ yếu, nội dung của nó là phân công theo sản phẩm, theo linh kiện sản
phẩm và theo quy trình công nghệ sản phẩm.
Phân công quốc tế đã hình thành mạng lưới sản xuất có tính thế giới, làm
cho các nước trở thành bộ phận của nền sản xuất thế giới, trở thành một
khâu trong dây chuyền giá trị hàng hoá. Nó có lợi cho các nước trên thế
giới phát huy đầy đủ ưu thế, tiết kiệm lao động xã hội, làm cho các yếu tố
sản xuất được phân bố một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy
kinh tế thế giới phát triển.
Thứ tư, kinh tế đối ngoại sẽ làm cho mối quan hệ quốc tế ngày càng tăng
cường và phát triển. Đến nay, lợi ích chung của các quốc gia trên thế giới
không ngừng mở rộng, các nước phát triển và đang phát triển, các nước lớn
và nhỏ ngày càng nâng cao mức độ phụ thuộc dựa vào nhau cùng tồn tại,
cùng hợp tác và cùng phát triển.
Xét một cách cụ thể, kinh tế quốc tế hoá là xu thế tất yếu biểu hiện sự
phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất do phân công lao động quốc tế
ngày càng diễn ra sâu sắc, rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới dẫn tới sự
hình thành nền kinh tế thế giới thứ nhất.
cho đất nước.
2. Những tác dụng to lớn mà kinh tế đối ngoại đem lại cho Việt Nam.
Ngày nay, quá trình kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho chúng ta tiếp cận với
nguồn vốn và công nghệ kỹ thuật cũng như công nghệ quản lý. Quan hệ
trao đổi buôn bán hàng hóa và dịch vụ giữa nước ta với các nước khác gia
tăng mạnh mẽ. Đặc biệt là sự chu chuyển của các dòng vốn: Tính đến tháng
9 năm 1999 chúng ta đã thu hút được 35,9 tỷ USD FDI của hơn 70 quốc gia
và lãnh thổ trên thế giới, trong đó đầu tư vào công nghiệp và xây dựng là
gần 51%. Cùng với vốn FDI chúng ta còn tiếp nhận một lượng không nhỏ
nguồn vốn qua kênh ODA. Nguồn ODA thực sự có ý nghĩa quan trọng
trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả phần cứng và phần mềm đối với Việt
Nam. Tính ra mức vốn nước ngoài hiện nay chiếm khoảng 30% tổng vốn
đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước
4
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
ngoài trong GDP đều tăng lên qua các năm. Năm 1993 đạt ,6% đến năm
1998 đạt 9%, năm 1999 đạt khoảng 10,5%. Nguồn thu ngân sách từ khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 370 USD.
Đây còn là môi trường mở ra giúp cho nước chúng ta tìm và thực hiện
được các dự án đầu tư từ nước ngoài vào. Nó thực sự có ý nghĩa quan trọng
trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả phần cứng lẫn phần mềm đối với Việt
Nam.
Bên cạnh cơ hội tận dụng khả năng sử dụng các nguồn vốn, nước ta còn
được thụ hưởng những thành quả tiến bộ của kỹ thuật và công nghệ sản
xuất mới. Ngày nay, tốc độ phổ cập tri thức mới, kỹ thuật và công nghệ tiên
tiến diễn ra nhanh chóng, đa dạng thông qua nhiều hình thức và các kênh
thời, nó sẽ giải quyết được những vấn đề về việc làm và gia tăng thu nhập.
Sự chuyển dịch lao dộng đang diễn ra theo nhiều phương diện, Việt Nam
có cơ hội xuất khẩu lao động sang các nước phát triển để thu được ngoại tệ
từ bên ngoài vào. Ngoài ra, lao động có trình độ cao sẽ tập trung vào các
ngành, lĩnh vực kinh tế mới, như các hoạt động dịch vụ, thương mại, công
nghiệp chế biến… Sự phát triển của các ngành này tạo thêm nhiều việc làm
mới, do đó tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống và chất lượng nguồn nhân lực
sẽ tăng dần thích ứng với quá trình xã hội hoá lao động.
II. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA QUAN HỆ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
1. Nguyên tắc bình đẳng
Đây là nguyên tắc làm nền tảng cho việc thiết lập quan hệ giữa các quốc
gia nói chung và cho việc thiết lập quan hệ quốc tế giữa các quốc gia cũng
như giữa các đối tác kinh tế. Nguyên tắc này bắt nguồn từ yêu cầu phải coi
mỗi quốc gia trong cộng đồng quốc tế là một quốc gia độc lập có chủ
quyền. Từ yêu cầu này, sự hình thành và phát triển của thị trường thế giới
mà mỗi quốc gia là một thành viên, với tư cách là thành viên, mỗi quốc gia
có quyền kinh doanh tự do tự chủ như mọi quốc gia khác. Vì thế phải đảm
bảo tư cách pháp nhân của mỗi quốc gia trước luật pháp và cộng đồng quốc
tế.
2. Nguyên tắc cùng có lợi
Đây là cơ sở kinh tế để thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế giữa các
quốc gia. Mỗi quốc gia cần biết sử dụng lợi thế của mình trong quan hệ
kinh tế cụ thể. Nguyên tắc này được cụ thể hóa thành các điều khoản được
ký kết giữa các đối tác kinh tế với nhau.
6
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
Ở những nước có nền kinh tế đang kém phát triển, nhiều vấn đề gay cấn
đặt ra, trong đó mắt xích của cái vòng luẩn quẩn là trình độ kỹ thuật lạc hậu
do thiếu vốn. Vì vậy, đối với các nước này, việc mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế, nhằm đưa đất nước nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đạt
tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội cao, sao cho thu nhập quốc
dân tính trên đầu người vượt qua mức của loại nước nghèo nàn trên thế
giới, từ đó tạo ra đà phát triển ở giai đoạn sau.
Bốn nguyên tắc nói trên có liên quan mật thiết với nhau, đều có vai trò
và ý nghĩa quan trọng. Xa rời những nguyên tắc đó sẽ không thực hiện
được hoặc làm hạn chế tốc độ và hiệu quả của việc mở rộng quan hệ kinh
tế quốc dân của mỗi quốc gia.
8
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
PHẦN CƠ SỞ THỰC TIỄN
***
I. THỰC TRẠNG CHUNG CỦA KINH TẾ VIỆT NAM VÀ QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP KINH TẾ
1. Thực trạng kinh tế Việt Nam
Năm 2001, trong tình hình có nhiều khó khăn hơn dự kiến, nền kinh tế
Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao 6,8%,
cao hơn mức của năm 2000. Cơ cấu kinh tế theo GDP đang chuyển dịch
năm 2001 – 2005.
Tuy nhiên điểm nổi bật kinh tế của nước ta nói chung là chất lượng tăng
trưởng và sức cạnh tranh của các sản phẩm, của doanh nghiệp còn thấp.
Theo đánh giá của tổ chức diễn đàn kinh tế thế giới ( WEF ) chỉ số cạnh
tranh của Việt Nam năm 1997 đứng thứ 49/53 quốc gia, năm 1998 cải thiện
thêm 10 bậc do các nước trong khu vực bị lâm vào khủng hoảng tài chính
tiền tệ, thì đến năm 2001 lại lùi xuống vị trí 62/75 quốc gia xếp hạng.
Đánh giá lại tình hình kinh tế trong nước sẽ cho phép chúng ta đưa ra
những quyết định đúng đắn trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế.
2. Tình hình thực tế hội nhập của Việt Nam với các tổ chức kinh tế và
các nước trên thế giới.
Năm 1992, hệ thống danh mục hàng xuất nhập khẩu chịu thuế tương đối
thống nhất và hài hoà, được đưa vào áp dụngnăm 1992. Cũng trong năm
này, hiệp định thương mại ưu đãi giữa Việt Nam và EEC ( nay là EU ) đã
cung cấp các hạn ngạch xuất khẩu cho hàng dệt và quần áo may sẵn của
Việt Nam vào Châu Âu, chúng ta dành các ưu đãi về thuế cho một số mặt
hàng nhập từ EEC. Hiệp định thương mại quan trọng với khu vực thị
trường cao cấp và rộng lớn này đã giải quyết được phần nào vấn đề thiếu
hụt thị trường xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời mở ra và thúc đẩy tích
10
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
cực một số mặt hàng xuất khẩu, tận dụng được ưu thế về nguồn lực nội địa
của quốc gia.
Cũng trong năm này, Việt Nam có quan hệ với Nhật Bản và Nhật Bản là
nguồn cung cấp ODA lớn nhất, là một trong 3 nhà đầu tư hàng đầu ở Việt
Năm 1996, Việt Nam ban hành tiếp danh mục các hàng hoá với các mức
thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung dành cho AFTA, sẽ được áp dụng rộng
rãi vào năm 1997. Nhìn chung mức thuế nhập khẩu tối đa giảm xuống còn
80%. Chính sách nhập khẩu tiếp tục giảm số lượng hàng hoá quản lý bằng
hạn ngạch nhập khẩu xuống còn 6.
Năm 1998, vào tháng 11 Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ của
Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương ( APEC ). Việt Nam đã
trình kế hoạch hành động về các lịch trình ngắn, trung và dài hạn cho việc
thực thi các biện pháp thuế quan, phi thuế quan, thương mại, dịch vụ, v.v…
Năm 1999, chúng ta chứng kiến nhiều thay đổi của Việt Nam theo hướng
hội nhập, tự do hoá nền kinh tế. Ngân hàng Trung Ương điều chỉnh linh
hoạt lãi xuất trần cho vay của các ngân hàng thương mại. Việc này tiếp tục
thúc đẩy việc sử dụng tín dụng trên cơ sở rủi ro có liên quan, phù hợp với
yêu cầu của thực tiễn khách quan.
Năm 2000, trước hết phải kể đến một thành tựu quan trọng của Việt Nam
là Việt Nam đã tiến tới ký kết được Hiệp định thương mại với Mỹ – cường
quốc lớn nhất thế giới. Hiệp định khẳng định bước tiến mới trong tiến trình
bình thường hoá quan hệ nói chung và thương mại nói riêng giữa hai nước.
Sau khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ được hưởng và ngược lại, sẽ
dành cho Mỹ quy chế tối huệ quốc và đối xử bình đẳng. Như vậy, các bên
của Hiệp định thương mại sẽ có nền tảng pháp lý để xúc tiến các hoạt động
quốc tế thương mại song phương.
Qua đó chúng ta thấy rằng : từ năm 1990 đến 1999 tổng giá trị xuất khẩu
của Việt Nam tăng 4,5 lần khi đó, tổng giá trị nhập khẩu tăng hơn 4 lần.
Trong thực tế kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu gần như ngang bằng.
Trong cơ cấu hàng hoá cũng có chuyển biến tích cực theo hướng đa dạng
hoá mặt hàng, tăng dần những hàng hoá qua chế biến như chè, cà phê…
Trong những năm qua, Việt Nam cũng gia tăng quan hệ với Liên Hợp
Quốc, IMF, WB. Tính cho đến nay, đã hơn 20 năm Việt Nam tham gia Liên
phương hướng xã hội chủ nghĩa của qua trình cải cách đổi mới. Đại hội VII
cũng khẳng định : “Nhân dân ta quyết không chấp nhận con đường nào
khác ngoài con đường xã hội chủ nghĩa”. Trên thực tế gắn liền với sự vận
động hiện thực của cuộc sống, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện, bổ sung cụ
thể hoá thêm đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập. Trong quá trình đó,
13
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
Đảng ta đã được củng cố về chính trị và tổ chức, vai trò lãnh đạo của Đảng
trong xã hội được tăng cường. Đảng xác định đường lối ở tầm vĩ mô “xu
thế không thể tránh khỏi đối với sự phát triển” của việc tham gia kinh tế đối
ngoại. Từ nhận thức này, Việt Nam đã có những bước chuyển lớn trong
chính sách phát triển kinh tế nói chung, kinh tế đối ngoại nói riêng. Các
chính sách này đều theo hướng tự do hoá, tất nhiên ở các tầng cấp khác
nhau, phụ thuộc vào thực lực cụ thể ở mỗi lĩnh vực..
2. Những yếu tố thuận lợi về kinh tế
Một yếu tố thuận lợi là nền kinh tế có trình độ và chất lượng phát triển
cao hơn. Thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đã được
thay thế hoàn toàn bằng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa; tính chất tự cung tự cấp và khép kín trong nền kinh tế, đời sống
xã hội được thay thế bằng xu hướng mở cửa và chủ động hội nhập quốc tế,
kết hợp nội lực và ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp. Cơ chế thị trường là
hạt nhân của quỹ đạo phát triển kinh tế mới theo nghĩa nó định hình một
phương thức mới gắn kết nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới. Cơ
chế thị trường cũng tạo ra một lớp chủ thể kinh tế mới về chất. Đó là, các
chủ thể kinh doanh độc lập, trình độ bản lĩnh cạnh tranh thị trường ngày
càng được nâng cao. Qua đó, sự hiện diện của cơ chế thị trường thực sự tạo
ra trạng thái xuất phát mới của nền kinh tế nước ta. Điều mấu chốt là cơ
ta đang rất cần. Như vậy với lợi thế nhất định về nguồn lao động cho phép
lựa chọn dạng hình phù hợp tham gia hội nhập và chính qua đó, chúng ta có
điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn lao động Việt Nam.
4. Thuận lợi của nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú
Về vị trí địa lý, nước ta là cửa ngõ đi ra Thái Bình Dương của một số
quốc gia Đông Nam Á, là điểm tiếp giáp các tuyến đường giao thông quan
trọng của thế giới. Đáng chú ý với bờ biển rộng, trải dài từ bắc tới nam với
nhiều hải cảng, đặc biệt là cảng Cam Ranh có độ sâu thuận lợi cho sự phát
triển giao thông hàng hải cũng như phát triển kinh tế hàng hoá.
Ngoài một số khoáng sản như Bôxit có trữ lượng lớn : 5 tỷ tấn, đứng thứ
ba thế giới, quặng đất hiếm cũng có trữ lượng đứng thứ hai thế giới... các
loại khoáng sản khác của nước ta không có trữ lượng lớn nhưng rất đa dạng
và phong phú. Trong thời gian qua việc khai thác và chế biến còn vô cùng
hạn chế. Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hiện đại hóa thì việc khai thác
15
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
sử dụng nguồn lực đó thông qua hợp tác quốc tế là rất cần thiết. Với thực
trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên, chúng ta cần phát huy năng lực bên
trong, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang xuất khẩu các
mặt hàng chế biến. Chúng ta cần tập trung phát triển các ngành vật liệu xây
dựng, gốm sứ du lịch kết hợp phát triển các sản phẩm từ cây công nghiệp
để tạo sản phẩm xuất khẩu. Đồng thời chú ý phát triển các loại hình xí
nghiệp vừa và nhỏ trên cơ sở liên doanh để tận dụng nguồn khoáng sản
phong phú, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế của chúng ta.
Với những thế mạnh như trên, Việt Nam có rất nhiều cơ hội cần tận dụng
để hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp rất nhiều khó khăn và
của Trung Quốc… trong khi Việt Nam mặc dù được đánh giá là đứng ngoài
khủng hoảng nhưng tốc độ lại sụt giảm khá mạnh và sự phục hồi xem ra rất
chậm với 5,8% năm 1998, 4,7% năm 1999 và 6,7% vào năm 2000 so với
khoảng 9% của thời kỳ 1993 – 1997.
Dòng FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988 – 1997 là khả quan, đã tiếp sức
đáng kể cho sự tăng trưởng, nhưng sự kỳ vọng đó thật ngắn ngủi và hiện
đang trong thời kỳ tụt dốc kéo dài, trong khi Trung Quốc lại đang có sức
hấp dẫn lớn đối với đầu tư nước ngoài. Hiện nay các nước châu Á nói
chung và khu vực nói riêng đang cạnh tranh gắt gao với nhau trong việc cải
thiện môi trường để gia tăng các hoạt động thương mại, thu hút xuất khẩu
thì ở Việt Nam cả mức độ cạnh tranh, dòng FDI và xuất khẩu lại có xu
hướng giảm xuống, hoặc tốc độ cải thiện rất chậm chạp, mức độ cạnh tranh
của Việt Nam hiện nay được xếp thứ 53/59 quốc gia, vì thế có thể nhận
thấy khoảng cách giữa Việt Nam và các nước đang có nguy cơ dãn rộng
thêm.
2. Sự yếu kém trong quản lý kinh tế của Nhà nước
Kinh tế đối ngoại lấy tự do hoá kinh tế làm động lực, do đó khu vực kinh
tế tư nhận ở đa số các nước tỏ ra rất năng động và là lực lượng chủ lực, đối
với chúng ta thì khu vực tư nhân tuy đã có sự quan tâm khuyến khích, có sự
tăng trưởng đáng kể liên tục trong vòng 10 năm qua, tuy nhiên khu vực này
còn nhỏ bé, manh mún và thiếu vững chắc, khu vực này hiện chiếm chưa
đầy đủ 23% GDP. Trong khi khu vực nhà nước là chủ đạo nhưng lại hoạt
động kém hiệu quả và được sự bảo trợ quá lớn. Riêng ngành công nghiệp
thì kinh tế nhà nước chiếm khoảng 60% giá trị. Mặc dù sở hữu tới 3/4 giá
trị tài sản quốc gia nhưng chỉ góp phần tạo ra khoảng 42% GDP. Hơn nữa
số doanh nghiệp bị thua lỗ lại có xu hướng tăng lên : 16% năm 1995, 25%
17
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
nghiệp. Hậu quả của tình trạng này là giá thành của sản phẩm của khu vực
18
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
và thế giới, dẫn đến ứ đọng, khó tiêu thụ sản phẩm, năng lực sản xuất
không khai thác hết, làm cho nhiều doanh nghiệp thua lỗ. Chẳng hạn :
trong khi giá thành sản xuất đường trắng trên thế giới từ 200 đến 250
USD/tấn thì của Việt Nam từ 290 đến 350 USD/tấn, giá thành xi măng của
Việt Nam từ 42 đến 65 USD/tấn, giá xi măng nhập khẩu CIF từ 35 đến 40
USD/tấn. Giá thép xây dựng trên thế giới từ 280 đến 300 USD/tấn thì giá
bán tại Việt Nam từ 290 đến 350 USD/tấn; giá thành sản xuất xe máy chưa
có thuế trong nước trên 1250 USD, trong khi đó giá bán trên thế giới chỉ
khoảng 1000 USD…
3. Vấn đề về hàng xuất khẩu
Điều đáng chú ý là tỷ lệ hàng chế biến xuất khẩu có xu hướng tăng dần
lên nhưng tỷ lệ hàng xuất khẩu thô, sơ là chủ yếu, chiếm tới 60% tổng kim
ngạch xuất khẩu. Tỷ lệ còn cao này cho thấy trình độ công nghệ của các
doanh nghiệp, của ngành kinh tế còn thấp kém. Bên cạnh đó, hình thức
xuất khẩu của các mặt hàng công nghiệp chủ yếu là gia công lắp ráp cho
nước ngoài. Hàm lượng hàng nội địa còn thấp, chưa tạo được sự liên kết từ
khâu cung cấp nguyên liệu đến khâu sản xuất ra thành phẩm và xuất khẩu.
Điều này cho thấy xuất khẩu chưa thực sự trở thành một đầu tàu mạnh mẽ
kéo nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Năm 2001 kinh tế tăng trưởng
6,8% trong khi xuất khẩu chỉ tăng 4,5%, theo kế hoạch thì tốc độ tăng của
xuất khẩu phải gấp đôi GDP để tăng trưởng kinh tế đạt 7,5%.
4. Mất dần xu thế về lao động
Ngoài ra, lợi thế về lao động rẻ có xu hướng đang mất dần. Do trước mắt
trung ương cho thấy các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp xuất
khẩu chỉ có 23,8%, 13,7% doanh nghiệp có triển vọng xuất khẩu, 62%
doanh nghiệp hoàn toàn không có khả năng xuất khẩu.
Môi trường kinh doanh đầu tư ở Việt Nam mặc dù đang được cải thiện
song nhìn chung còn chưa thuận lợi, còn nhiều khó khăn như : khuôn khổ
pháp lý chưa đảm bảo cho cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế, sự độc quyền trong một số lĩnh vực của một số tổng công ty nhà nước,
hệ thống tài chính ngân hàng còn yếu kém, sự thiếu minh bạch về cơ chế
chính sách, chế độ thương mại còn nặng về bảo hộ, thủ tục hành chính còn
rườm rà, chưa thông thoáng. Các thể chế thị trường như : thị trường vốn
20
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
( bao gồm cả chứng khoán ), thị trường sức lao động, thị trường công nghệ,
thị trường bất động sản ( kể cả quyền sử dụng đất )… còn sơ khai.
Những khó khăn nói trên không chỉ hoàn toàn là những thách thức mà nó
còn chứa đựng các yếu tố tích cực, bởi vì thông qua việc phải đối mặt với
những thách thức, đương đầu với cạnh tranh, chúng ta sẽ tìm ra được
những giải pháp hữu hiệu nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ,
đồng thời các doanh nghiệp Việt Nam sẽ trở nên năng động hơn, và hoạt
động hiệu quả hơn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
IV. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI:
1. Kinh tế Việt Nam chủ yếu phải dựa vào chất lượng
Nền kinh tế không chỉ dựa vào tăng trưởng về số lượng mà phải hết sức
coi trọng chất lượng thì mới có thể phát triển nhanh và bền vững. Muốn
vậy, phải đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với nhu cầu thị
nước. Theo hướng này, Nhà nước cần đưa ra một chương trình tổng thể xây
dựng môi trường cạnh tranh ở Việt Nam. Chương trình này cần đề cập trên
nhiều phương diện : chính sách tiếp cận các nguồn vốn, chính sách sử dụng
đất, cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, phát triển khu vực tư nhân,
cải cách chính sách tài chính – tiền tệ ( chính sách thuế, cơ cấu lại và đổi
mới phương thức hoạt động của hệ thống ngân hàng, phát triển thị trường
chứng khoán.
Các chính sách của Việt Nam không những cần phải bảo vệ hữu hiệu
môi trường sinh thái và loại trừ việc khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên
thiên nhiên mà còn thúc đẩy và tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, đáp
ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường ở các nước nhập khẩu. Cần nỗ lực để
có thể tạo ra một khuôn khổ pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh tế
trong nước nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trong
nước, trong khu vực và toàn cầu; thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp trong
nước xâm nhập vào các thị trường tiềm năng. Vì vậy, chính sách thương
mại và môi trường cần phải được hoàn thiện trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu
sau :
- Chính sách thương mại, môi trường phải khuyến khích các nhà sản xuất
trong nước và nước ngoài đầu tư và phát triển theo hướng bền vững hay
thân thiện với môi trường. Thông qua chính sách pháp luật, các nhà đầu tư
và sản xuất phải quan tâm đến nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá thông
22
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
qua tạo ra những “sản phẩm xanh”, hạn chế tối đa những tác hại của hoạt
động sản xuất và kinh doanh đến môi trường trong nước cũng như quốc tế.
- Chính sách thương mại, môi trường phải phù hợp với luật pháp quốc tế
§Ò ¸N KINH TÕ CHÝNH TRÞ
8000 nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp trong thương mại quốc tế.
3. Các chính sách về nguồn nhân lực
Thứ nhất phải khẩn trương điều chỉnh lại cơ cấu nguồn nhân lực với đào
tạo đại học, cao đẳng. Giảm ngay chỉ tiêu tuyển sinh ở những trường mà
quy mô đào tạo hiện đang quá tải so với điều kiện cho phép và ở những
ngành học có quy mô đào tạo đang vượt quá nhu cầu, như báo chí, luật,
kinh tế. Tăng chỉ tiêu tuyển sinh ở các trường sư phạm, kỹ thuật, nông
nghiệp, nhất là các trường này nằm ở đồng bằng sông Cửu Long và trung
du miền núi phía bắc.
Để làm tốt điều này, cần rà soát lại chiến lược đào tạo nguồn nhân lực để
kịp thời điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm cho các trường, các ngành
học. Các cơ sở đào tạo, một mặt, phải thực hiện đúng chỉ tiêu tuyển sinh,
khắc phục tình trạng tuỳ tiện tăng chỉ tiêu; mặt khác, phải tiến hành khâu
tuyển sinh chặt chẽ, nghiêm túc, đảm bảo chất lượng đầu vào cho các
trường và ngành học.
Nhanh chóng mở rộng quy mô đào tạo trung học chuyên nghiệp và công
nhân kỹ thuật. Trong mấy năm qua, quy mô đào tạo nghề tuy đã tăng,
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Cần nâng cao nhận thức của toàn
xã hội, của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của công tác dạy nghề và lao
động được đào tạo nghề. Dấy lên phong trào học nghề trong toàn xã hội.
Phải quy hoạch lại hệ thống dạy nghề theo hướng đồng bộ cả về cơ cấu
ngành nghề, cơ cấu vùng kinh tế và ở từng địa phương. Đội ngũ giáo viên
dạy nghề cần được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Đổi mới nội
dung, chương trình và hiện đại hoá cơ sở nghiên cứu, nhà học, trang thiết bị
cho dạy nghề. Xã hội hoá công tác đào tạo nghề, qua đó tăng nguồn tài
chính cho đào tạo, mở rộng hình thức, phương thức đào tạo và xây dựng
một số trường dạy nghề đạt tiêu chuẩn khu vực và thế giới.
25