Thực trạng bệnh sâu răng viêm lợi kiến thức thái độ và thực hành vệ sinh răng miệng ở sinh viên điều dưỡng năm thứ 1 và thứ 3 trường cao đẳng y tế hà nội - Pdf 48

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh răng miệng hiện nay vẫn còn là bệnh phổ biến, gặp ở mọi tầng lớp,
lứa tuổi, trong đó hay gặp nhất là bệnh sâu răng và viêm lợi. Do tính chất phổ
biến, tỷ lệ mắc cao trong cộng đồng nên điều trị bệnh gây tốn kém cho cá
nhân, gia đình và xã hội. Trong 10 năm gần đây, mặc dù tỷ lệ mắc bệnh răng
miệng đã được cải thiện đáng kể ở những nước phát triển và đang phát triển
nhờ những tiến bộ khoa học về phòng bệnh và triển khai các chương trình nha
học đường của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, bệnh răng
miệng vẫn còn chiếm tỷ lệ cao nhất là ở các đối tượng học sinh, sinh viên.
Ở Việt Nam, tình trạng sâu răng và viêm lợi còn ở mức cao trên 90% dân
số và có chiều hướng gia tăng vào những năm gần đây [1]. Nhiều nghiên cứu
đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng theo lứa tuổi và thời gian [2]. Tại Hà Nội năm
2007, kết quả nghiên cứu của tác giả Trương Mạnh Dũng và Lương Thị Kim
Liên trên 595 đối tượng có độ tuổi từ 18 đến 45 đã cho thấy tỷ lệ mắc sâu
răng khá cao: chỉ số SMT chung là 2,08, của nhóm 18 – 34 tuổi là 1,94; có tới
63,3% sâu răng ở nhóm 18 – 34 tuổi và tăng lên 73,8% ở nhóm tuổi 35 – 44,
nữ có tỷ lệ mắc cao hơn nam [3]. Kết quả nghiên cứu của Trần Anh Thắng
(2012) tại Hòa Bình cũng cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn chung là 56%, chỉ
số SMT ở lứa tuổi 18 là 2,12 [4]. Các bệnh lý khác như viêm lợi hay tình
trạng cao răng, mảng bám răng cũng gặp khá nhiều ở lứa tuổi ≥ 18 trên sinh
viên các trường chuyên nghiệp. Một nghiên cứu gần đây về tình trạng viêm
lợi của tác giả Bùi Trung Dũng (2013) trên đối tượng sinh viên năm thứ 1 của
trường Đại học Y Hà Nội đã cho thấy tỷ lệ viêm lợi rất cao (80%) [5].
Bệnh răng miệng do nhiều nguyên nhân gây ra dưới sự tác động của
nhiều yếu tố nguy cơ. Ngoài các yếu tố tác nhân lý, hóa, sinh học thì kiến
thức, thái độ và thực hành các biện pháp vệ sinh răng miệng của các cá nhân
có liên quan rất nhiều tới bệnh răng miệng. Nghiên cứu của Sấn Văn Cương




2.

Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh răng miệng ở
sinh viên năm thứ 1 và thứ 3 trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2014.


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Tình hình bệnh răng miệng ở Việt Nam và trên thế giới
1.1.1. Một số khái niệm về chăm sóc răng miệng
Chăm sóc răng miệng (CSRM) là hành vi của cá nhân cùng với sự tham
gia của thầy thuốc như bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt, nha sỹ, điều dưỡng
viên, kỹ thuật viên ... tác động vào răng miệng nhằm giữ gìn trạng thái toàn
vẹn cả về chức năng và thẩm mỹ của răng miệng.
Răng miệng là cửa ngõ của cơ quan tiêu hóa, sự toàn vẹn của cơ quan
răng miệng góp phần rất lớn vào việc hoàn thành chức năng tiêu hóa của cơ
thể. Răng miệng còn liên quan mật thiết tới chức năng phát âm, tới thẩm mỹ
khuôn mặt của con người. Các bệnh lý của răng miệng như sâu răng, viêm lợi,
viêm quanh răng, mất răng, lệch lạc răng, viêm loét niêm mạc miệng ... phần
lớn là do quá trình chăm sóc răng miệng quyết định. Vì vậy, vấn đề chăm sóc
răng miệng là không thể thiếu được trong chăm sóc sức khỏe con người.
Chăm sóc răng miệng bao gồm:
* Giữ gìn răng miệng
* Vệ sinh răng miệng
* Khám răng miệng định kỳ
* Điều trị các bệnh răng miệng sớm và kịp thời
Giữ gìn răng miệng là hành vi của cá nhân nhưng phụ thuộc vào nhận

nhau như bàn chải điện, bàn chải kẽ, tăm nước, tăm gỗ, kẹo cao su có
đường xylitol...
Khám răng miệng định kỳ thường được thực hiện khoảng 6 tháng/lần.
Khám định kỳ nhằm phát hiện sớm và kịp thời bệnh sâu răng và các bệnh
khác ở răng miệng như viêm lợi, viêm quanh răng, viêm niêm mạc miệng,
viêm lưỡi, biến chứng do mọc răng, dự phòng răng mọc lệch lạc đối với trẻ
em…Có những bệnh như sâu răng thường tiến triển từ từ, lúc đầu thường
không có biểu hiện đau hoặc chỉ ê buốt thoáng qua, vì thế bệnh nhân thường


5

không để ý và xem nhẹ. Khi có triệu chứng ê buốt, đau nhức nhiều thì rất có thể
tủy răng đã bị viêm. Lúc này việc điều trị đã trở nên phức tạp hơn. Do đó khám
định kỳ để phát hiện sớm sâu răng là việc làm rất quan trọng. Đây là một nội
dung cần được đưa vào chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng
cho mọi người.
Điều trị các bệnh răng miệng sớm và kịp thời về nguyên tắc đều đem lại
kết quả tốt hơn so với điều trị muộn. Đối với bệnh răng miệng, đặc biệt là sâu
răng, điều trị sớm sẽ đem lại kết quả rất tốt, giảm bớt được chi phí không cần
thiết, răng vẫn duy trì được chức năng sống của nó. Điều trị muộn là điều trị
khi lỗ sâu lớn, đã ảnh hưởng đến tủy hoặc thậm chí gây viêm quanh cuống.
Điều trị sớm là điều trị khi lỗ sâu còn nhỏ, nông, mô răng bị phá hủy ít, tủy
răng hoàn toàn chưa bị tổn thương, bệnh nhân chưa có triệu chứng cơ năng gì
đặc biệt. Sâu răng là bệnh không có khả năng hoàn nguyên, các mô răng đã
mất thì không thể tái tạo được như ở các mô khác (xương, cơ, da, niêm mạc).
Vì thế, việc điều trị sớm được coi là biện pháp ngăn chặn mất mô răng đồng
thời dự phòng các biến chứng sẽ xảy ra nếu không điều trị.
Điều trị sớm và kịp thời không đòi hỏi kỹ thuật quá phức tạp và có thể
thực hiện được ở các cơ sở không nhất thiết phải có trang thiết bị hiện đại.

Hiện nay, theo xác định của ngân hàng dữ liệu sức khỏe răng miệng của
WHO [10], có hai xu hướng chính của sức khỏe răng miệng:
- Xu hướng xấu đi cho phần lớn các nước đang phát triển (SMT trung
bình của trẻ 12 tuổi tăng từ 2 lên 4,1).
- Xu hướng cải thiện cho phần lớn các nước công nghiệp hóa cao (SMT
trung bình của trẻ 12 tuổi đã tụt từ 7 - 10 xuống khoảng 2 - 4).
Năm 1997, một nghiên cứu ở vùng tây nam nước Đức trên học sinh 7-10
tuổi cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 65,2%, chỉ số SMT là 2,68 [11]. Năm
1998, Whittle đã nghiên cứu trên học sinh 7 trường THCS ở nước Anh, kết
quả cho thấy chỉ số SMT giảm dần theo thời gian [12]. Cụ thể:
Năm 1960: chỉ số SMT là 6,01- 6,54
Năm 1988: chỉ số SMT là 2,34 - 3,34
Năm 1997: chỉ số SMT chỉ còn 1,65 tương ứng mức độ thấp.


7

Ở những nước đang phát triển, tình trạng sâu răng và chỉ số SMT ở trẻ
em còn cao và có chiều hướng tăng lên. Chỉ số SMT ở một số nước như Iran
là 2,4 (1974) lên 4,9 (1976); Maroc: từ 2,6 (1960) lên 4,5 (1980); Philippines
tăng từ 2,4 đến 5,5 (1994) [13].
Năm 2003, theo một nghiên cứu về tình trạng sâu răng và vệ sinh răng
miệng ở nam sinh viên nha khoa ở trường Đại học King Saud, Riyadh, tác giả
Amjad Hussain Wyne đã cho thấy trong tổng số 211 nam sinh viên (Độ tuổi
từ 20 - 25), tình trạng sâu răng được mô tả theo bảng sau [14]:
Bảng 1.1. Thực trạng sâu răng của sinh viên nha khoa King Saud
Sinh viên

DMFT (SD)


9.10 (4.35)

2.93 (3.58)

5.65 (4.42)

Năm thứ 5

8.56 (4,55)

1.89 (2.95)

5.56 (4.39)

Năm 2011, Muhammad Nadeem đã nghiên cứu trên 221 sinh viên
trường LCMD (Liaquat College of Medicine and Dentistry), Karachi,
Pakistan. Tác giả đã chia đối tượng nghiên cứu thành 2 nhóm: nhóm tiền lâm
sàng (Năm thứ 1 và 2) và nhóm lâm sàng (Năm thứ 3 và 4), kết quả cho thấy
chỉ số DMFT của nhóm lâm sàng (1,41±1,95) có thấp hơn so với nhóm tiền
lâm sàng (1,87±2,63). Số răng sâu (DT) của nhóm lâm sàng (0,62±1,19) cũng
giảm hơn so với nhóm tiền lâm sàng (1,15±1,98) [15].
Đến năm 2013, nghiên cứu của tác giả Um-e-Rubab Shirazi trên 310
sinh viên nha khoa, có độ tuổi trung bình từ 18 – 24, của trường LMDC
(Lahore Medical and Dental College) cho thấy chỉ số DMFT chung là 1,38 ±
0,54, số răng sâu (DT) là 0,54 ± 0,62, số răng mất (MT) là 0,01 ± 0,10 và số
răng trám (FT) là 0,83 ± 0,68 [16].


8



DMFT là 1,2. Vì vậy, các tác giả đề cập đến nhu cầu phòng bệnh sâu răng cho
trẻ em và cộng đồng [22].
Năm 1990, điều tra cơ bản toàn quốc về sức khỏe răng miệng lần đầu
tiên được tiến hành tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, tại miền Bắc Việt Nam,
trẻ 12 tuổi có 57,33% bị sâu răng, chỉ số DMFT là 1,82; ở trẻ 15 tuổi có 60%
sâu răng và chỉ số DMFT là 2,16. Tại miền nam Việt Nam, trẻ 12 tuổi có tỷ lệ
sâu răng vĩnh viễn là 76,33% và chỉ số DMFT là 2,93; ở trẻ 15 tuổi tỷ lệ sâu
răng là 82,99% và chỉ số DMFT là 3,59 [22], [23]. Từ năm 1991 đến 1998,
Việt Nam tiếp tục nghiên cứu đưa ra tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMT ở các địa
phương khác nhau trên khắp cả nước như: Yên Bái, Hòa Bình, Thái Nguyên,
Hà Nội, Nam Định, Đà Nẵng… và đều cho thấy tỷ lệ sâu răng dao động trong
khoảng 34,54% đến 62%, chỉ số SMT từ 1,33 đến 4,28 [24].
Năm 2001, sau 10 năm tiến hành điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc
lần thứ 1, Việt Nam thực hiện điều tra răng miệng toàn quốc lần thứ 2, kết quả
cho thấy trẻ 6 – 8 tuổi có 84,9% bị sâu răng sữa và chỉ số dmft là 5,04, trẻ 12
tuổi có 56,6% sâu răng vĩnh viễn và chỉ số DMFT là 1,87; ở trẻ 15 tuổi tỷ lệ
sâu răng vĩnh viễn là 67,6% và chỉ số DMFT là 2,16. So sánh với kết quả điều
tra răng miệng toàn quốc năm 1991, thì thấy sau 10 năm, bệnh sâu răng của
trẻ em Việt Nam có chiều hướng tăng lên [22]. Kết quả này cho thấy tình
trạng sâu răng đặc biệt là sâu răng vĩnh viễn còn rất phổ biến và tăng dần theo
nhóm tuổi. Đây là vấn đề rất đáng quan tâm.
Năm 2003, nghiên cứu của Lương Ngọc Trâm trên đối tượng học sinh
vùng cao tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở độ tuổi 15 là
40%, chỉ số SMT = 2,0 [25]. Cũng trong năm này, một nghiên cứu khác của
tác giả Đào Thị Ngọc Lan trên đối tượng học sinh dân tộc của tỉnh Yên Bái
cũng cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn rất cao. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở lứa
tuổi 15 là 58,31%, chỉ số SMT là 1,7 [26]. Năm 2004, kết quả nghiên cứu của



2,84

18 - 34

75,2

2,31

0,77

0,21

3,29

35 - 44

83,2

2,35

2,10

0,25

4,70

≥ 45

89,7


Anh (2013) trên 3104 học sinh 15 tuổi tại 8 tỉnh thành trên cả nước cho thấy:
tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 46,1%, tỷ lệ sâu răng ở thành thị là 44,3%, ở nông
thôn cao hơn (47,9%), chỉ số SMT là 1,44; ở nam là 1,37 thấp hơn nữ (1,50),
có tới 85,0% răng sâu chưa được điều trị [30].
Cũng trong năm 2013, tại Hà Giang, nghiên cứu của Sấn Văn Cương cho
thấy tỷ lệ sâu răng ở học phổ thông trung học độ tuổi 12 - 15 là 86,3%, trong
đó nhóm tuổi 12 là 85,7% và nhóm tuổi 15 là 89,7% [6]. Tại Hà Nội, nghiên cứu
của Cao Thị Ngọc Quyên (2013) cho thấy tỷ lệ sâu răng của sinh viên trường
trung cấp nghề Thanh Xuân (Hà Nội) là 44%, chỉ số DMFT là 1,66 [31].
Như vậy, trong những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh
bệnh sâu răng ở lứa tuổi thanh niên còn rất cao và có ảnh hưởng trực tiếp đến
sức khỏe toàn thân cũng như thẩm mỹ. Bên cạnh việc phát hiện để điều trị
bệnh thì việc chăm sóc, dự phòng bệnh cũng rất quan trọng. Điều này cho
thấy vai trò quan trọng của công tác đào tạo đội ngũ điều dưỡng viên công tác
trong lĩnh vực nha khoa. Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu về tình trạng bệnh
sâu răng trên đối tượng này không nhiều. Đây là một vấn đề cấp thiết cần phải
tìm ra lời giải đáp. Một đánh giá trung thực về tình trạng sâu răng của sinh viên
điều dưỡng đa khoa sẽ góp phần thay đổi tình trạng bệnh cũng như đẩy lùi bệnh
răng miệng ở lứa tuổi thanh niên – lứa tuổi lao động của xã hội.
1.1.3.2. Bệnh viêm lợi
Tại Việt Nam, bệnh vùng quanh răng rất phổ biến với tỷ lệ mắc tương
đối cao [32]. Từ những năm 1989, Điều tra sức khỏe răng miệng tại Huế của
Nguyễn Toại cho thấy ở ba nhóm tuổi 12, 15, 35 - 44, tỷ lệ bệnh nha chu rất
cao (93,6%) trong đó tỷ lệ có cao răng là 85,3% [5]. Tới năm 1994, nghiên cứu


12

của tác giả Lê Thị Thơm đã cho thấy tỷ lệ viêm lợi ở lứa tuổi 12 là 93,67%, ở
tuổi 15 là 95,67% và ở lứa tuổi 35 – 44 là 97,0% [33]. Cũng trong năm này, kết

25,5

50,52

9 - 11

691

69,2

56,8

81,78

12 - 14

695

71,4

78,4

90,70

15 - 17

670

66,9


8,7% [38].
Năm 2013, Cao Thị Ngọc Quyên nghiên cứu trên 100 sinh viên trường
Trung cấp nghề Hà Nội cho thấy tỷ lệ viêm lợi là 86%, cao răng là 89% [31].
Một nghiên cứu gần đây của tác giả Bùi Trung Dũng (2013) đã cho thấy
tình trạng viêm lợi ở nhóm sinh viên năm thứ I trường Đại học Y Hà Nội cao
(80%) trong đó tập trung chủ yếu ở mức trung bình chiếm 65%, viêm lợi nhẹ
ở mức thấp hơn (15%), và không có viêm lợi ở mức nặng [5].
Năm 2014, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Hậu trên 100 sinh viên
năm thứ nhất của Đại học Y Hà Nội cho kết quả: chỉ số OHI – S trung bình
là 0,91 ± 0,38 cho thấy tình trạng vệ sinh răng miệng ở mức trung bình. Tỷ lệ
viêm lợi nhẹ chiếm tới 82,0%, không có sinh viên nào viêm lợi nặng. Không
có sinh viên nào mắc bệnh viêm quanh răng [39].


14

Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy tình trạng viêm lợi ở đối tượng học
sinh – sinh viên các trường chuyên nghiệp là rất đáng lưu tâm đồng thời cũng
cho thấy sự cần thiết phải sớm phát hiện thực trạng kiến thức, thái độ và hành
vi chăm sóc răng miệng ở các đối tượng này để thực hiện truyền thông - giáo
dục sức khỏe răng miệng, góp phần giảm bớt các nguy cơ của bệnh răng
miệng cho các em.
1.2. Sinh bệnh học bệnh sâu răng, viêm lợi
1.2.1. Bệnh sâu răng
Bệnh sâu răng là bệnh phá hủy tổ chức cứng của răng (men, ngà) thành hố
trên răng gọi là lỗ sâu. Lỗ sâu một khi đã hình thành thì không có khả năng hoàn
nguyên. Qua lỗ sâu, vi khuẩn (Streptococcus Mutan) sẽ thâm nhập vào tủy răng
gây viêm tủy răng, viêm quanh cuống răng hoặc nặng hơn nữa gây viêm xương
hàm, viêm mô tế bào, nhiễm trùng huyết và các bệnh toàn thân do răng …
Từ trước năm 1970, người ta giải thích nguyên nhân gây sâu răng theo sơ

cao vai trò bảo vệ của nước bọt, pH dòng chảy nước bọt trong môi trường
miệng, và vai trò của fluor. Nhờ sự hiểu biết đầy đủ hơn về sinh bệnh học
bệnh sâu răng, ngày nay nhân loại đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong sự
phòng sâu răng cho cộng đồng.
Gần đây, người ta đưa ra định nghĩa mới về bệnh sâu răng. Theo đó, sâu
răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hóa được đặc trưng bởi sự hủy
khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của mô cứng.
Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hóa lý liên quan đến
sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng và là quá trình
sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ. Cơ chế
sinh bệnh học sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình hủy khoáng và tái


16

khoáng. Nếu quá trình hủy khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ gây sâu
răng. Có thể tóm tắt cơ chế gây sâu răng như hình dưới đây:
Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng:
- Mảng bám vi khuẩn.
- Chế độ ăn đường nhiều lần.
- Thiếu nước bọt hay nước bọt acid.
- Acid từ dạ dày tràn lên miệng (Hội
chứng trào ngược).
- pH < 5.

Các yếu tố bảo vệ:
- Nước bọt.
- Khả năng kháng acid của men răng.
- Ion fluor có ở bề mặt men răng.
- Trám bít hố rãnh.

yếu là vi khuẩn Gram (+), 2 ngày sau có thoi trùng và vi khuẩn sợi, từ ngày
thứ 4 đến ngày thứ 9 có thêm xoắn khuẩn. Khi mảng bám răng già thì vi
khuẩn hình sợi chiếm tới 40%, còn lại là vi khuẩn yếm khí và xoắn khuẩn.
Mảng bám răng bám rất chắc vào răng, không bị bong ra do xúc miệng
hoặc chải răng qua loa. Có thể loại trừ mảng bám bằng việc chải răng đúng kỹ
thuật, hạn chế ăn đường và vệ sinh răng miệng sau ăn hoặc dùng biện pháp
hóa học.
Viêm lợi là bệnh lý xuất hiện rất sớm khi mảng bám răng hình thành
được 7 ngày. Vi khuẩn ở mảng bám răng kích thích gây viêm lợi. Một vài
biểu hiện dễ nhận thấy khi mắc bệnh viêm lợi:
- Lợi chảy máu trong và sau khi đánh răng.
- Lợi đỏ, sưng tấy hoặc khi chạm vào dễ gây đau.
- Hơi thở hôi liên tục hoặc vị giác kém khi ăn.
- Lợi tụt lùi vào trong.
- Giữa răng và lợi xuất hiện những khe hổng, sâu.


18

1.3. Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh răng miệng
Hành vi sức khỏe, trong đó có hành vi chăm sóc răng miệng (CSRM) là
một trong nhiều khái niệm có liên quan đến hành vi con người. Hành vi sức
khỏe có vai trò rất quan trọng, tạo lập nên sức khỏe cho mỗi cá nhân, gia đình,
cộng đồng. Nghiên cứu về hành vi sức khỏe là một phần quan trọng trong các
nghiên cứu cũng như can thiệp cộng đồng. Hành vi con người là một phức
hợp của nhiều hành động chịu ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền, môi trường,
kinh tế - xã hội và chính trị [43]. Kiến thức (Knowledge), thái độ (Attitude),
hành vi (Practice) là tập tính, thói quen, cách sống, cách suy nghĩ, hành động
của con người đối với môi trường bên ngoài, đối với bệnh tật.
Kiến thức (Knowledge) bao gồm những hiểu biết của con người, thường

Trên thế giới, có khá nhiều các nghiên cứu về kiến thức VSRM trên đối
tượng sinh viên đặc biệt là nhóm sinh viên chuyên ngành Y. Năm 2003, một
nghiên cứu của tác giả Amjad Hussain Wyne và cộng sự [46] trên 211 nam
sinh viên nha khoa trường King Saud đã cho thấy: ở nhóm sinh viên năm thứ
1, tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt về VSRM là 23,2%, khá là 37,5%, kém là
39,3%. Ở nhóm sinh viên năm thứ 3, tỷ lệ sinh viên có kiến thức kém đã giảm
nhiều (3%), tỷ lệ khá cũng tăng lên (87,9%). Năm 2011, tại Nepal, kết quả
nghiên cứu của bác sĩ Manoj Humagain trên 1000 sinh viên năm thứ 2 cho
thấy chỉ có 21% sinh viên biết chải răng với kem đánh răng giúp dự phòng
viêm lợi, 100% sinh viên biết đồ ngọt và 73% biết thức uống không cồn có
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe răng miệng [47]. Cũng trong năm này, nghiên
cứu của R.Neeraja (Ấn Độ) cho thấy tổng điểm kiến thức về sức khỏe răng
miệng (Kiến thức chải răng, kiến thức sử dụng chỉ tơ, kiến thức về nước súc
miệng…) được cải thiện dần theo năm học. Cụ thể, tổng điểm của nhóm sinh
viên năm thứ nhất là 6,88 ± 1,69, của nhóm năm thứ 3 là 8,25± 2,00, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 [48]. Còn tại Tanga, Tanzania (2011),
nghiên cứu của Lorna Carneiro trên 2 nhóm sinh viên tại 2 quận Tanga và


20

Lushoto (Tuổi trung bình là 16,9) đã cho thấy có tới 88,4% sinh viên có kiến
thức đầy đủ về nguyên nhân, cách dự phòng và nhận biết các dấu hiệu về sâu
răng. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, độ tuổi, giới tính không có ảnh hưởng
đến mức độ kiến thức về vệ sinh răng miệng [49]. Gần đây nhất, một nghiên
cứu trên các sinh viên ở tỉnh Jamma, Ethiopia (2014) [50] cho thấy trong 300
sinh viên ở độ tuổi trung bình 22,1 có tới 57,6% sinh viên nam và 52,5% sinh
viên nữ đạt điểm cao về kiến thức bệnh sâu răng. Qua đó có thể thấy rằng nếu
các em sinh viên đặc biệt là các sinh viên điều dưỡng được trang bị đầy đủ
những kiến thức về bệnh, các biện pháp chăm sóc răng miệng ngay từ khi còn

động đúng và ngược lại [29]. Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu đề cập
đến vấn đề này.
Ở Trung Quốc, một nước láng giềng giáp phía Bắc Việt Nam, nghiên
cứu của tác giả Zhu L và cộng sự trên học sinh ở độ tuổi 12 – 18 cho thấy: chỉ
có 44% học sinh chải răng ít nhất 2 lần/ngày nhưng chỉ có 17% sử dụng kem
đánh răng có fluor, chỉ có 29% học sinh đến khám nha sĩ khi răng đã bị đau
[51]. Năm 2006, nghiên cứu của tác giả F.Maatouk và cộng sự trên 155 sinh
viên nha khoa ở Tuy-ni-di cho thấy có 86% sinh viên chải răng ít nhất 2
lần/ngày, hơn 90% đã từng đi khám răng miệng một năm trước [52]. Một
nghiên cứu khác tại một trường ở phía bắc Jordan, nghiên cứu của tác giả
Mahmoud K. Al – Omiri và cộng sự cho thấy có 83,1% học sinh có sử dụng
bàn chải và kem đánh răng để vệ sinh răng miệng, 36,4% học sinh có chải
răng buổi sáng, 52,6% học sinh có chải răng buổi tối trước khi đi ngủ và chỉ
có 17,6% học sinh có chải răng ngày 02 lần vào buổi sáng và buổi tối trước
khi đi ngủ, có 66% học sinh đi khám răng miệng định kỳ, có 46,9% chỉ đến
nha sĩ khi đau răng và 20,1% ít khi và không bao giờ đến nha sĩ [53].
Nghiên cứu của tác giả Nadeem M và cộng sự trên đối tượng các sinh
viên nha khoa từ năm thứ nhất đến năm thứ 4 trường LCMD (Liaquat College
of Medicine and Dentistry), Karachi, Pakistan năm 2011 [15] cho thấy trong số
221 sinh viên năm thứ nhất, có 63,2% chải răng 1 lần/ngày; 29,8% chải răng 2


22

lần/ngày; chỉ có 7% chải răng sau mỗi bữa ăn. Ở nhóm sinh viên năm thứ 3, có
25,1% chải răng 1 lần/ngày; 72,9% chải răng 2 lần/ngày; chỉ có 2,1% chải răng
ngay sau mỗi bữa ăn. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,001). Thói quen sử
dụng chỉ tơ nha khoa hàng ngày cũng tăng dần theo thời gian học tập của sinh
viên. Tỷ lệ sử dụng chỉ tơ nha khoa ở năm thứ 2 là 59,0% trong khi đó ở năm thứ
4 là 82,0%. Về thời gian chải răng, có thể tổng kết qua bảng dưới đây:

Thứ 1

36

63.2

7

12.3

11

19.3

3

5.3

Thứ 3

5

10.4

19

39.6

22


các đối tượng này có thái độ phòng bệnh sớm ngay cho chính bản thân mình.
1.4. Các biện pháp dự phòng bệnh sâu răng, viêm lợi
1.4.1. Dự phòng sâu răng
Bao gồm các biện pháp [42]:
* Hướng dẫn giáo dục vệ sinh răng miệng
- Các biện pháp được giám sát chặt chẽ ở trường bao gồm: chải răng,
dùng chỉ tơ nha khoa.
- Các biện pháp không giám sát được như thực hiện chải răng và các
biện pháp vệ sinh răng miệng khác ở nhà.
* Sử dụng fluor
- Fluor hóa nguồn cung cấp nước công cộng với độ tập trung fluor từ 0,7
đến 1,2 mgF/lít nước mà độ tập trung tối ưu tùy thuộc vào khí hậu.
- Đưa fluor vào muối ăn với độ tập trung fluor là 250 mgF/1kg muối.
- Dùng viên fluor.
- Fluor hóa nguồn cung cấp nước ở trường học với độ tập trung fluor cao
hơn mức độ tập trung fluor tối ưu trong nước công cộng 4,5 lần.
- Xúc miệng với các dung dịch fluor pha loãng. Cho trẻ em xúc miệng
hàng ngày với dung dịch fluor 0,05% hoặc xúc miệng mỗi tuần một lần với
dung dịch fluor 0,2%.
- Dùng kem đánh răng có fluor.


24

- Dùng gel fluor hoặc vecni fluor.
- Sử dụng phối hợp các dạng fluor.
* Trám bít hố rãnh: áp dụng đối với các mặt nhai để ngăn ngừa sâu ở hố và
rãnh răng sau khi răng vĩnh viễn mọc.
* Chế độ ăn hợp lý phòng sâu răng là kiểm soát các thức ăn và đồ uống có
đường bao gồm các biện pháp:

(Interproximal brush), dùng loại bàn chải để chải răng ở vùng giữa các
khoảng trống (The interspace brush), dùng bàn chải tự động. Năm 2000,
Warren thông báo kết quả nghiên cứu về tác dụng của bàn chải tự động trên
16.903 người và kết quả cho thấy có 80,5% người không còn mảng bám và
cải thiện được sức khỏe răng miệng [57].
* Phương pháp phun tưới: áp dụng cho người sử dụng cầu răng, có tác dụng
làm sạch mảnh vụn thức ăn.
Chlohexidine thường được bổ sung vào nước phun tưới với nồng độ
loãng có tác dụng với vi khuẩn trong miệng. Nếu phun tưới quá mạnh có thể
đẩy vi khuẩn từ túi lợi vào tổ chức và có thể gây áp xe quanh răng.
* Kiểm soát mảng bám răng bằng phương pháp hóa học là biện pháp dùng
nước xúc miệng có tác dụng lên mảng bám răng theo cơ chế:
- Kìm hãm sự phát triển của các khuẩn lạc trong hốc miệng.
- Ngăn cản việc định cư của các vi khuẩn ở bề mặt răng.
- Ức chế việc hình thành mảng bám răng.
- Hòa tan các mảng bám đã hình thành.
- Ngăn ngừa sự khoáng hóa các mảng bám.
Nước xúc miệng có tác dụng làm sạch miệng khỏi các mảnh vụn thức ăn.
Ngoài ra do có chất kháng khuẩn nên nó có tác dụng phòng ngừa và giảm tích
tụ mảng bám răng và có fluor nên làm giảm sâu răng. Hiện nay, nước xúc



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status