BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN
QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA TRÊN BIỂN – NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN
QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA TRÊN BIỂN – NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 62 38 01 08
khuyến khích, giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu để tác giả
hoàn thành bản luận án này.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Hồng Yến
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Stt
Từ viết đầy đủ
Từ viết tắt
Nghĩa tiếng Việt của từ viết
tắt
1
BLHS 2015
Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017
2
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
International Tribunal Law of Tòa án Luật biển quốc tế
the Sea
7
IUU Fishing
illegal, unreported and
Hoạt động đánh bắt cá bất hợp
unregulated fishing
pháp, không có báo cáo và
không được quản lý
8
LBVN
Luật biển Việt Nam 2012
9
MCA
The Convention on the
Công ước về phân định các
tế của Liên hợp quốc
The Sub-Regional Fisheries
Ủy ban thủy sản tiểu vùng
Commission
14 UNCLOS
United Nations Convention
Công ước của Liên hợp quốc
on the Law of the Sea
về Luật biển
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
STT
TÊN BẢNG, BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
SỐ TRANG
1
Sơ đồ 1: Các vùng biển theo quy định của UNCLOS
1.2. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN...................................................... 19
1.2.1. Về lý luận........................................................................................................................... 19
1.2.2. Về pháp lý và thực tiễn..................................................................................................... 19
1.2.3. Nội dung chính của Luận án ............................................................................................ 20
Tiểu kết Chương 1 ....................................................................................................................23
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÀI
PHÁN CỦA QUỐC GIA TRÊN BIỂN………………………………………23
2.1. KHÁI NIỆM, SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG QUYỀN TÀI
PHÁN CỦA QUỐC GIA TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ ...................................... ....23
2.1.1. Khái niệm quyền tài phán của quốc gia trên biển.......................................................... 23
2.1.2. Sự hình thành và phát triển nội dung quyền tài phán của quốc gia trong Luật biển
quốc tế........................................................................................................................................... 30
2.2 CÁC NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA TRÊN
BIỂN ............................................................................................................................................ 38
2.2.1. Nguyên tắc quyền tài phán theo lãnh thổ ....................................................................... 38
2.2.2. Nguyên tắc quyền tài phán theo quốc tịch ..................................................................... 38
2.2.3. Nguyên tắc quyền tài phán phổ quát ............................................................................... 44
2.2.4. Thứ tự ưu tiên áp dụng các nguyên tắc trong xác định quyền tài phán của quốc gia
trên biển ........................................................................................................................................ 46
2.3. XUNG ĐỘT VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT QUYỀN TÀI PHÁN CỦA CÁC
QUỐC GIA TRÊN BIỂN ........................................................................................................ 47
2.3.1. Cơ sở và các trường hợp phát sinh xung đột quyền tài phán của quốc gia trên biển . 47
2.3.2. Hướng giải quyết xung đột về quyền tài phán giữa các quốc gia trên biển ................ 51
Tiểu kết Chương 2 ....................................................................................................................53
CHƯƠNG 3. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA
TRÊN BIỂN, THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM.................................................................................54
nước ngoài trong các vùng biển Việt Nam ............................................................................. 111
4.3. QUYỀN TÀI PHÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC VÀ
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN TRONG CÁC VÙNG BIỂN VIỆT NAM
..................................................................................................................................................... 119
4.3.1. Quyền tài phán đối với hoạt động thăm dò, khai thác và quản lý tài nguyên sinh vật
trong các vùng biển của Việt Nam .......................................................................................... 119
4.3.2. Quyền tài phán đối với hoạt động thăm dò, khai thác và quản lý tài nguyên phi sinh
vật trong các vùng biển của Việt Nam .................................................................................... 122
4.3.3. Đánh giá thực tiễn thi hành quyền tài phán của Việt Nam đối với hoạt động thăm dò,
khai thác và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong các vùng biển ......................................... 125
4.4. QUYỀN TÀI PHÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
BIỂN DO TÀU THUYỀN NƯỚC NGOÀI TIẾN HÀNH TRONG CÁC VÙNG BIỂN
CỦA VIỆT NAM .................................................................................................................... 129
4.4.1. Yêu cầu chung đối với hoạt động nghiên cứu khoa học trong các vùng biển của Việt
Nam............................................................................................................................................. 129
4.4.2. Thực trạng cấp phép và thi hành quyền tài phán đối với hoạt động nghiên cứu khoa
học biển do tàu thuyền nước ngoài tiến hành trong các vùng biển Việt Nam..................... 133
4.5. QUAN ĐIỂM, YÊU CẦU, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC THI QUYỀN TÀI PHÁN TRÊN BIỂN CỦA VIỆT NAM
..................................................................................................................................................... 136
4.5.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện pháp luật và tăng
cường hiệu quả thực thi quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển trong giai
đoạn hiện nay...............................................................................................................136
4.5.2. Yêu cầu, mục đích của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực thực thi pháp
luật của Việt Nam trên các vùng biển ..................................................................................... 139
4.5.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quyền tài
phán của Việt Nam trên các vùng biển.. ............................................................................... ..142
Tiểu kết Chương 4 ..................................................................................................................152
- Thứ nhất, việc nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền tài
phán của quốc gia trên biển nằm trong lộ trình chung liên quan đến vấn đề bảo vệ biên
giới quốc gia mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
- Thứ hai, củng cố thêm cơ sở lý luận và pháp lý cho việc bảo vệ chủ quyền,
quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của các quốc gia nói chung và Việt Nam
nói riêng ở trên các vùng biển. Thời gian gần đây, hiện tượng tàu thuyền mang quốc
tịch nước ngoài tiến hành các hành vi vi phạm pháp luật trên các vùng biển của Việt
Nam khá phổ biến, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền chủ quyền, quyền tài
phán và lợi ích trên biển của Việt Nam; đe dọa hòa bình, an ninh, ổn định và chủ
quyền của Việt Nam. Đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp biển Đông giữa Việt Nam và
các nước đang ngày càng căng thẳng thì việc củng cố chủ quyền, quyền chủ quyền và
1
quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển là thực sự cần thiết nhằm bảo vệ chủ
quyền biển, đảo của quốc gia, đồng thời giữ gìn và duy trì trật tự pháp lý quốc tế đã
được thiết lập theo quy định của pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp
quốc về Luật biển năm 1982 (sau đây viết tắt là UNCLOS).
Thứ ba, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực của các lực lượng chấp
pháp là thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài
phán của quốc gia; đồng thời phù hợp với xu thế củng cố lực lượng chung của các
quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Thứ tư, một số quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành quyền tài phán trên
biển của Việt Nam thời gian qua còn những bất cập đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu
hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật biển Việt Nam liên quan đến nội dung quyền tài
phán và việc thực thi quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển.
Từ những yêu cầu, đòi hỏi đó của thực tiễn, với mong muốn có những đóng góp
nhất định trong việc hoàn thiện hơn nữa pháp luật và thực tiễn thi hành quyền tài phán
quốc tế;
- Nội dung các nguyên tắc xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển; thứ tự
ưu tiên áp dụng các nguyên tắc nhằm hạn chế tình trạng xung đột quyền tài phán giữa
các quốc gia;
- Các trường hợp xung đột quyền tài phán và hướng xử lý trong trường hợp phát
sinh xung đột;
- Các quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và Việt Nam về
quyền tài phán của quốc gia trong một số lĩnh vực như: hoạt động đi lại của tàu
thuyền; thăm dò, khai thác và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; nghiên cứu
khoa học biển…
- Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quyền
tài phán của Việt Nam trên các vùng biển.
Quyền tài phán là một vấn đề rộng trong luật biển quốc tế, chính vì vậy ở phạm
vi nghiên cứu của Luận án, với yêu cầu về dung lượng, đồng thời mong muốn làm sâu
sắc hơn các quy định có liên quan, Luận án sẽ tập trung làm sáng tỏ các quy định trong
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền tài phán của quốc gia trong ba lĩnh
vực cụ thể là: quyền tài phán đối với hoạt động đi lại của tàu thuyền, quyền tài phán
đối với việc khai thác, thăm dò, quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và quyền tài
phán đối với hoạt động nghiên cứu khoa học biển.
Ngoài ra, liên quan đến đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trong khuôn khổ giới
hạn cho phép, Luận án cũng sẽ giới hạn đối tượng nghiên cứu chủ yếu là tàu thuyền
của nước ngoài khi hoạt động trong các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền
và quyền tài phán của quốc gia ven biển.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, Luận án được
tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin. Đối với từng nội dung cụ
thể, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương
pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp
phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh luật học, kết hợp nghiên cứu lý
luận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cụ thể và khả thi.
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học trước đó liên quan đến đề
tài, nghiên cứu sinh mong muốn việc tiếp tục nghiên cứu đề tài này sẽ mang lại những
giá trị khoa học sau:
- Thứ nhất, Luận án đã góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực
tiễn về quyền tài phán của quốc gia trên các vùng biển như: định nghĩa, nội dung và
các đặc điểm của quyền tài phán quốc gia trong luật biển quốc tế; lịch sử hình thành và
phát triển nội dung quyền tài phán của quốc gia trong luật biển quốc tế, các nguyên tắc
xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển. Đặc biệt Luận án xác định rõ ràng hơn
các nguyên tắc và trật tự áp dụng các nguyên tắc xác định quyền tài phán của các quốc
gia trên biển…
- Thứ hai, Luận án đã làm rõ hơn cơ sở, các trường hợp xung đột quyền tài phán
của các quốc gia trên biển; đồng thời trên cơ sở lý luận về quyền tài phán và các
nguyên tắc xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển, Luận án đã chỉ ra xu hướng
4
trong giải quyết xung đột quyền tài phán giữa các quốc gia trên biển dựa trên hoạt
động xét xử của các cơ quan tài phán quốc tế và thực tiễn giải quyết giữa các quốc gia.
- Thứ ba, Luận án đã đưa ra được bình luận, đánh giá về các quy định của pháp
luật quốc tế về quyền tài phán của quốc gia trên biển trong 3 lĩnh vực là: quyền tài
phán đối với hoạt động đi lại của tàu thuyền; quyền tài phán đối với hoạt động thăm
dò, khai thác và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; quyền tài phán đối với hoạt
động nghiên cứu khoa học biển. Đặc biệt, luận án đã đi sâu bình luận về những thách
thức mới đối với việc thi hành quyền tài phán của các quốc gia trên biển như: vấn đề
đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý; vấn đề đánh bắt
cá vượt mức, hay nghiên cứu khoa học vượt quá phạm vi cho phép…
- Thứ tư, Luận án đã tiến hành hệ thống hóa pháp luật của một số quốc gia trong
việc thi hành quyền tài phán trên biển đối với 3 lĩnh vực kể trên. Từ đó rút ra một số
bài học kinh nghiệm thực tiễn cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp
luật và nâng cao hiệu quả thi hành quyền tài phán của quốc gia trên các vùng biển.
Pháp luật quốc tế về quyền tài phán của quốc gia trên biển, thực tiễn thi
hành của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Chương 4:
Pháp luật và thực tiễn thi hành quyền tài phán của Việt Nam trên các
vùng biển – thực trạng và giải pháp
6
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. ĐÁNH GIÁ NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
“Quyền tài phán của quốc gia trên biển - những vấn đề lý luận và thực tiễn” là
đề tài tương đối mới và hầu như chưa được nghiên cứu chuyên sâu ở trình độ tiến sỹ
luật học. Nói như vậy không có nghĩa rằng các nội dung liên quan đến đề tài này chưa
từng được đề cập đến trước đó. Mặc dù chưa được nghiên cứu một cách trực diện và
tổng thể, tuy nhiên cùng với các quy định của pháp luật biển nói chung và UNCLOS
nói riêng, vấn đề quyền tài phán của quốc gia trên biển cũng đã ít nhiều được xem xét
thông qua các công trình nghiên cứu khoa học với nhiều hình thức khác nhau như: bài
viết hội thảo, tạp chí, sách hay chuyên đề nghiên cứu khoa học… Có thể tạm chia các
công trình nghiên cứu này thành hai nhóm là công trình nghiên cứu ở nước ngoài và
các công trình ở trong nước.
Trong đó, đối với các công trình nghiên cứu của nước ngoài, hoặc chỉ tập trung
vào những vấn đề pháp lý liên quan đến cách thức xác định và quy chế pháp lý các
vùng biển; hoặc làm sáng tỏ một số điều khoản nhất định nào đó trong UNCLOS; hoặc
nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật quốc tế, UNCLOS
và thực tiễn giải quyết tranh chấp trên biển giữa các quốc gia trên thế giới. Trong các
vực này, làm cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp khả thi để hoàn thiện pháp luật và
thực tiễn thi hành quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển.
1.1.1. Đánh giá những kết quả nghiên cứu về định nghĩa, đặc điểm và lịch sử
hình thành nội dung quyền tài phán của quốc gia trên biển
- Về định nghĩa quyền tài phán và quyền tài phán của quốc gia trên biển:
Trên thực tế, định nghĩa về quyền tài phán nói chung đã ít nhiều được đưa ra
trong các công trình nghiên cứu trước đó với những quan điểm khá khác nhau. Chính
vì vậy, cho đến hiện nay, vẫn chưa có định nghĩa “quyền tài phán” hay “quyền tài phán
quốc gia trên biển” được thừa nhận chung trong pháp luật quốc tế.
Trong cuốn “Black’s Law Dictionary” của tác giả Bryan A.Garner, định nghĩa
về quyền tài phán (Jurisdiction) được hiểu là: “thẩm quyền của một tòa án hoặc thẩm
phán (đã được ghi nhận trong Hiến pháp) để đưa ra một bản án hoặc các biện pháp
khắc phục theo quy định của pháp luật dựa trên những vụ việc thực tế”[74]. Từ điển
Oxford Dictionary cũng giải thích: “Quyền tài phán là quyền lực công để đưa ra các
quyết định và phán quyết có giá trị pháp lý”[157].
Tác giả Luc Reydams trong cuốn sách “Universal Jurisdiction: International
and Municipal legal perspectives” lại chỉ ra rằng "quyền tài phán là quyền lực pháp lý
hoặc thẩm quyền của Nhà nước để thực hiện chức năng của Chính phủ" hoặc "quyền
lực của Nhà nước đối với con người (tự nhiên nhân) và những hành vi cần thiết để
thiết lập trật tự pháp lý của nó"[104,1-5]. Ngoài ra, do mục tiêu của cuốn sách là làm
sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền tài phán phổ quát trong luật quốc tế, do đó, bên
cạnh định nghĩa chung về quyền tài phán của quốc gia, Luc Reydams cũng đã giải
thích và đưa ra quan điểm cá nhân về nội hàm của định nghĩa quyền tài phán phổ quát.
Tiếp đó, trong cuốn “Jurisdiction of State Coastal over Foreign merchant ships
in internal waters and the territorial sea”, mặc dù không đưa ra một định nghĩa chính
thức nào về quyền tài phán của quốc gia, tuy nhiên, trong tác phẩm này, Hai Jiang
Yang đã khẳng định rằng: “quyền tài phán thường được sử dụng rộng rãi chủ yếu theo
8
thực hiện do vi phạm các quy tắc (đôi khi được gọi là thẩm quyền thực thi hay thẩm
quyền)[87,1-162].
Tại Việt Nam, “Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam” cũng ghi nhận: “quyền tài
phán là quyền của cơ quan hành pháp và tư pháp của một quốc gia xem xét và giải
quyết vụ việc theo thẩm quyền của mình”[67]. Trong khi đó “Từ điển pháp luật Anh Việt” do Nguyễn Thành Minh chủ biên thì giải thích quyền tài phán là “quyền lắng
nghe và phán quyết một vụ kiện hay đưa ra một án lệnh nào đó của tòa”[42]. Như
9
vậy, cách hiểu về quyền tài phán trong từ điển này tương đối hẹp, chỉ giới hạn trong
thẩm quyền xem xét và ra phán quyết của tòa án nói chung. Khác với các từ điển trên,
trong “Từ điển Luật học” do Viện khoa học pháp lý biên soạn lại không có định nghĩa
về quyền tài phán nói chung, tại trang 701, 702 của Từ điển chỉ đề cập đến thẩm quyền
xét xử của tòa án. Theo đó, “thẩm quyền xét xử của Tòa được hiểu là một quyền
chuyên biệt được trao riêng cho Tòa án, đây là quyền chung của các tòa án, không có
sự phân cấp, phân vùng lãnh thổ”[72]. Tuy nhiên, thẩm quyền này cũng có thể được
hiểu là thẩm quyền riêng của từng tòa được phân định theo cấp, theo khu vực hành
chính và theo vụ việc. Ngoài ra, từ điển này cũng chỉ rõ nội hàm của khái niệm “tài
phán” và “xét xử” là hoàn toàn giống nhau. Theo đó, tại trang 869 có nêu: “xét xử là
hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét
về tính chất, mực độ pháp lí của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán
quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử
vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính…)”[72].
Với bài viết “Thẩm quyền tài phán hình sự trên các vùng biển Việt Nam” đăng
trên số chuyên đề tháng 8/2012 Tạp chí Luật học, tác giả Nguyễn Toàn Thắng có chỉ
ra 2 nội hàm của định nghĩa quyền tài phán như sau: “theo nghĩa rộng, quyền tài phán
bao gồm quyền lập pháp (ban hành pháp luật để điều chỉnh các vấn đề liên quan),
hành pháp (đảm bảo thực thi các quy phạm pháp luật) và tư pháp (xét xử các hành vi
vi phạm). Theo nghĩa hẹp, quyền tài phán được xác định là quyền xét xử của quốc gia
đối với hành vi vi phạm”[64,115]. Trong phạm vi bài viết của tác giả, định nghĩa
of the Sea”; Sách tham khảo“Luật biển quốc tế hiện đại” của tác giả Lê Mai Anh;
“Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững” của Đại
học quốc gia Hà Nội…Nhìn chung các công trình này đã đưa ra một bức tranh chung,
tổng thể về quá trình hình thành và phát triển của luật biển quốc tế (trong đó đặc biệt là
sự ra đời của UNCLOS), tuy nhiên, các công trình kể trên chủ yếu nghiên cứu lồng
ghép nội dung quyền tài phán của quốc gia trong quá trình phát triển chung của luật
biển, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng biệt hoặc trực diện về lịch sử hình thành
và phát triển nội dung quyền tài phán của quốc gia trên biển.
Từ những phân tích về định nghĩa, đặc điểm và lịch sử hình thành nội dung
quyền tài phán của quốc gia trên biển có thể đưa ra một vài nhận xét như sau:
Một là, định nghĩa về quyền tài phán nói chung trong luật quốc tế đã được khai
thác ở những khía cạnh khoa học khác nhau, trong đó một số kết quả nghiên cứu rất có
giá trị, cần được kế thừa và tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn. Tuy nhiên, chưa có công
trình nào nghiên cứu trực tiếp và chuyên sâu về các vấn đề của quyền tài phán quốc
gia trên biển như: định nghĩa, đặc điểm của quyền tài phán quốc gia trên biển trong
luật biển quốc tế;
Hai là, cách tiếp cận nội dung quyền tài phán của quốc gia nói chung vẫn còn có
những quan điểm khác nhau, chủ yếu được chia theo 2 nhóm chính: (i) Nhóm các công
trình đưa ra quan điểm quyền tài phán chỉ là quyền xét xử và ra quyết định của tòa án
(quyền tài phán theo nghĩa hẹp); (ii) Nhóm quan điểm theo nghĩa rộng với nhận định
quyền tài phán của quốc gia bao gồm cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy
nhiên, đa số các nghiên cứu nghiêng về nhóm quan điểm thứ hai, tức là giải thích thuật
ngữ quyền tài phán sẽ bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Ba là, chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung làm rõ sự hình thành và phát
triển của nội dung quyền tài phán trên biển trong luật biển quốc tế;
Bốn là, các công trình này ít đề cập trực tiếp đến vấn đề xung đột và giải quyết
11
xung đột quyền tài phán trên biển giữa các quốc gia.
quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam” đăng trên số chuyên san Tạp chí Luật học
8/2013; “Quản lý khai thác thuỷ sản trên các vùng biển Việt Nam – Những vấn đề
pháp lý và thực tiễn” của Phạm Hồng Hạnh đăng trên số chuyên san Tạp chí Luật học
8/2013…Tuy nhiên, với cách tiếp cận từ quy chế pháp lý của các vùng biển, trong quá
trình xác định quyền tài phán của quốc gia, tác giả của các bài viết này chủ yếu hướng
đến nguyên tắc xác định quyền tài phán theo lãnh thổ và theo quốc tịch.
12
Như vậy, mặc dù đã được nghiên cứu ở những công trình khác nhau, tuy nhiên
nội dung của các nguyên tắc xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển vẫn còn
chưa thực sự rõ ràng, đặc biệt các công trình này cũng chưa làm rõ được thứ tự ưu tiên
áp dụng của từng nguyên tắc trong các vùng biển.
1.1.3. Đánh giá các kết quả nghiên cứu liên quan đến cơ sở xác định quyền
tài phán của quốc gia trên biển
Đề cập đến vấn đề này, tác giả Redric Ryngaert trong cuốn “Jurisdiction in
International law” đã phân tích một trong những cơ sở quốc tế ghi nhận quyền tài
phán của quốc gia theo lãnh thổ, đó là luật tập quán quốc tế được rút ra trực tiếp từ
phán quyết của Tòa trong vụ tàu Lotus giữa Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1926. Theo
đó, phán quyết của Tòa trọng tài thường trực (PCIJ) cho rằng: “Một quốc gia không
thể thực hiện hay áp đặt quyền lực của nó bên ngoài lãnh thổ quốc gia, trừ trường hợp
có các quy định khác được chấp nhận trong luật tập quán quốc tế hoặc trong một công
ước quốc tế. Đồng thời Tòa cũng cho rằng: Một quốc gia không thể sử dụng sức mạnh
cưỡng chế để thi hành các quy định của nó bên ngoài lãnh thổ của mình. Đi ngược lại
điều này thì sẽ phá vỡ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và bất khả xâm phạm của
các quốc gia. Một quốc gia cũng không thể sử dụng sức mạnh quân sự để ép buộc
quốc gia khác phải tuân thủ luật pháp của mình. Tương tự như vậy, một nhà nước
không thể viện đến các biện pháp thực thi pháp luật như phạt, tiền phạt, điều tra hoặc
các nhu cầu thông tin để cung cấp những tác động của lãnh thổ tới các quy định pháp
luật của quốc gia đó”[117],[139].
quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với đảo nhân tạo và các công trình thiết bị
trên biển; quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với hoạt động thăm dò, khai thác
và quản lý tài nguyên thiên nhiên…Mỗi công trình này, trên cơ sở các quy định của
pháp luật quốc tế nói chung và luật biển quốc tế nói riêng, các tác giả lại đưa ra những
cách tiếp cận khác nhau nhằm giải quyết mục đích khoa học của từng sản phẩm nghiên
cứu.
a. Về quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với hoạt động đi lại của tàu
thuyền nước ngoài trên các vùng biển
Tác giả Hai Jiang Yang trong“Jurisdiction of State Coastal over Foreign
merchant ships in internal waters and the territorial sea” đã giải quyết những vấn đề
về cảng biển và quyền tài phán của quốc gia có cảng đối với tàu thương mại nước
ngoài, cũng như các quyền và nghĩa vụ của các tàu thuyền khi hoạt động trong nội
thủy và lãnh hải của quốc gia có cảng. Trên thực tế, các quốc gia có cảng khi thực hiện
quyền tài phán của mình thường phải đối mặt với một số vấn đề liên quan đến sự khác
biệt trong các quy định về quyền cập cảng hoặc các điều kiện cho các yêu cầu cập
cảng… vì các quy định về hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trong nội thủy của
quốc gia ven biển nói chung chưa được được pháp điển hóa cụ thể trong pháp luật
quốc tế. Cũng trong công trình này, Hai Jiang Yang đã tiến hành phân tích những quy
định pháp lý và hoạt động thực tiễn của tàu thuyền nước ngoài trong cả hai vùng biển
nội thủy và lãnh hải. Qua đó, ông đã thận trọng đưa ra các giải pháp hợp lý và có thể
coi là được chấp nhận nhằm đảm bảo một cách hài hòa các quyền của tàu thuyền nước
ngoài với quyền và lợi ích của quốc gia có cảng. Tương tự như Hai Jiang Yang, trong
“Port state control and Jurisdiction: evaluation of the port state regime”, tác giả
Geogre C. Kasoulides đã làm rõ nguồn gốc của hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động
ra vào cảng cũng như quyền của các quốc gia sở hữu cảng biển. Cũng trong tài liệu
này, tiến sĩ Kasoulides đã hướng sự chú ý đến nhiều quy định không rõ ràng trong hệ
14
thống pháp lý mới và đưa ra những giải pháp trong phần kết luận[88]. Tuy nhiên, cũng
thuyền trên biển, vấn đề quản lý tài nguyên biển… nhưng nghiên cứu này chủ yếu
dừng lại ở việc giới thiệu khá chung chung với một thời lượng hạn chế. Thiết nghĩ,
cách sắp xếp và trình bày như vậy, nằm trong tổng thể chung của công trình là khá phù
hợp, đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ khoa học đặt ra.
Liên quan trực tiếp đến quyền tài phán của quốc gia trong hoạt động hàng hải nói
chung, bài viết “Quyền tự do hàng hải và những lợi ích liên quan của quốc gia ven
15
biển” của tác giả Nguyễn Vũ Hoàng đã chỉ ra những quy định của UNCLOS liên quan
đến quyền tự do hàng hải và mối quan hệ giữa quyền này với các quyền của quốc gia
ven biển. Theo đó, tác giả nhấn mạnh: cùng với việc mở rộng các vùng biển như lãnh
hải và việc thành lập vùng đặc quyền kinh tế, vùng hải phận quốc tế đã bị co hẹp lại
cùng với đó là sự hạn chế quyền tự do hàng hải quốc tế - quyền trước đây không hề bị
ngăn cản. Sự ra đời của UNCLOS với việc công nhận quy chế quần đảo đã tác động
đáng kể tới quyền hàng hải, tuy nhiên nhiều điều khoản của Công ước này vẫn chưa
được toàn thế giới tán thành. Nhiều khía cạnh của quyền tự do hàng hải có thể bị ảnh
hưởng bởi quy định của chính các quốc gia. Do đó, để giải quyết thỏa đáng mối quan hệ
giữa quyền tự do hàng hải với quyền của quốc gia ven biển, tác giả cũng đề xuất một số
biện pháp nhằm tăng cường an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường biển như: các biện
pháp được đưa ra bởi chính các quốc gia ven biển, các biện pháp được đưa ra trong các
công cụ pháp lý quốc tế, các biện pháp trong khuôn khổ IMO hay các biện pháp được
đưa ra trong các thỏa thuận song phương....
Cùng nội dung này, cuốn “Biển Đông: hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu
vực” do tác giả Đặng Đình Quý chủ biên là một công trình thực sự ý nghĩa và có giá
trị tham khảo về cả khía cạnh lý luận và thực tiễn đối với các công trình nghiên cứu
sau này. Công trình này đã đề cập khá chi tiết vấn đề hợp tác an ninh trên biển Đông
với 3 cụm vấn đề chính là: (1) Tầm quan trọng của Biển Đông trong khu vực cũng như
trên toàn cầu trong bối cảnh tổng thể của môi trường quốc tế; (2) Những diễn biến gần
đây ở Biển Đông và những hệ lụy đối với hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực; (3)