1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong bất kì hình thái kinh tế xã hội nào, bất kì giai đoạn lịch sử nào và ở bất
cứ đâu, phụ nữ cũng luôn có một vai trò rất quan trọng nhưng không phải bao
giờ cũng có được địa vị cân xứng. Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân
loại, vai trò của phụ nữ đã không được thừa nhận và đánh giá đúng, họ luôn bị
bóc lột và đối xử một cách bất bình đẳng. Nghiên cứu về vấn đề này,
Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng: Bất bình đẳng giữa nam, nữ là một sự bất bình đẳng
lớn nhất của lịch sử nhân loại và nó chính là nguồn gốc đích thực về mặt lịch sử,
xã hội của những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong quan hệ vợ chồng. Ông cũng
chỉ ra rằng : muốn giải phóng phụ nữ thì phải xây dựng một xã hội mới, một xã
hội không còn áp bức bóc lột của người này đối với người khác, của giai cấp này
đối với giai cấp khác. Như vậy để xây dựng một xã hội công bằng văn minh thì
cần phải giải phóng phụ nữ và đảm bảo cho họ được bình đẳng với nam giới trên
mọi phương diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: “Nói phụ nữ là
nói phần nửa xã hội.Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa
loài người.Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng XHCN một nửa”.
Trên tinh thần kế thừa và phát huy những tư tưởng tốt đẹp ấy, Đảng và Nhà
nước ta luôn giành cho phụ nữ sự quan tâm rất lớn. Trong cả bốn bản Hiến Pháp
năm 1946, 1959, 1980 và 1992, quyền bình đẳng nam nữ đã được ghi nhận và
dần trở thành một nguyên tắc cơ bản, và theo đó, hầu hết các văn bản pháp luật
ra đời đã cụ thể hoá quyền bình đẳng nam nữ để thực hiện triệt để trong cuộc
sống. Luật Bình đẳng giới ra đời năm 2006 chính là sự cụ thể hoá một cách trực
tiếp nhất, rõ rệt nhất tư tưởng ấy.
Tính đến thời điểm này, Luật bình đẳng giới đã có hiệu lực được gần hai
năm. Tuy vậy xét từ góc độ thực tiễn và nghiên cứu, nó vẫn còn là đề tài khá
mới mẻ. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau,
nhưng với đề tài khoá luận tốt nghiệp: “Một số vấn đề cơ bản của Luật Bình
đẳng giới”, tác giả mong muốn làm rõ một số nội dung cơ bản và đóng góp một
+ Chương 2: Những nội dung điều chỉnh cơ bản của Luật bình đẳng giới
+ Chương 3: Mối liên hệ giữa Luật bình đẳng giới với các ngành luật khác và
một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của Luật bình đẳng giới.
3
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
Một số vấn đề lí luận chung về bình đẳng giới
và pháp luật về bình đẳng giới
1.1. Khái niệm chung về giới
Trong xã hội hiên đại, “giới” không còn là một khái niệm xa lạ, nó đã
được dùng một cách rất phổ biến trong cả đời sống và nghiên cứu khoa học – xã
hội. Tuy vậy, “giới” cũng có rất nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm, khái niệm
không hoàn toàn đồng nhất. “Giới” có thể là “phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và
mối quan hệ, giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ
em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc
điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được”[ 1]. “Giới” có thể là “khái niệm
dùng để chỉ các đặc trưng xã hội của nam và nữ. Đây là tập hợp những hành vi
ứng xử về mặt xã hội, những mong muốn về những đặc điểm và năng lực mà xã
hội coi là thuộc về nam giới hoặc phụ nữ trong xã hội hay nền văn hóa cụ thể
nào đó”[2]. Trong khoản 1 Điều 5 Luật bình đẳng giới có định nghĩa “giới là đặc
điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”.
Mặc dù hiện nay chúng ta đã có một hệ thống các khái niệm về “giới”
tương đối đầy đủ, nhưng việc tiếp cận và hiểu rõ về “giới” còn là một vấn đề rất
đáng lưu tâm. Việc nhầm lẫn giữa hai khái niệm “giới” và “giới tính” đã và đang
diễn ra rất phổ biến mặc dù đây là hai khái niệm khác nhau. “Giới tính” là khái
niệm dùng để chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ, nó có những đặc điểm
Định kiến giới là “nhận thức, thái độ, đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc
điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ” (khoản 4 Điều 5 Luật bình
đẳng giới). Định kiến giới chính là cái nhìn trái ngược, phi thực tế về khả năng
và vai trò của giới nam và nữ trong xã hội. Định kiến giới những quan niệm
truyền thống đối với phụ nữ và nam giới hình thành từ lâu đời, được truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác, thông qua giáo dục và học hỏi, lâu dần tạo thành
những suy nghĩ cố hữu về vai trò, khả năng, loại công việc mà phụ nữ và nam
giới có thể thực hiện và những tính cách mà họ nên có.
Ví dụ:
+ Nam giới là trụ cột của gia đình, là người quyết định những công việc
lớn, quan trọng của gia đình
+ Nữ giới đảm trách công việc gia đình (nội trợ, chăm sóc con cái…)
+ Nam giới quyết đoán, mạnh mẽ, còn phụ nữ dịu dàng, điềm đạm.
Định kiến giới chính là sự đề cao hay tuyệt đối hóa các đặc điểm, tính
chất, vai trò, và vị thế của phụ nữ hoặc nam giới, thường là không đúng và hạn
chế cá nhân thực hiện những việc mà họ có khả năng làm. Định kiến giới vừa
phản ánh sự bất bình đẳng giới, vừa củng cố, duy trì thực trạng bất bình đẳng
giới trong xã hội. Ví dụ như vì định kiến “trọng nam khinh nữ”, trong tuyển
dụng, do nhiều lý do khác nhau, người ta tuyên bố không tuyển nữ, hay yêu cầu
5
phụ nữ cam kết là trong vòng từ 3 đến 5 năm không sinh con; trong quan hệ gia
đình, trẻ em nam được ưu tiên và tạo mọi điều kiện để học tập, phát triển, còn
trẻ em nữ thì không được chú ý đúng mức… Định kiến giới thể hiện dưới hai
hình thức: Một là, thổi phồng hoặc cường điệu một số đặc điểm, phẩm chất của
phụ nữ hoặc nam giới; hai là, coi thường hoặc phê phán một cách thái quá một
số đặc điểm hoặc phẩm chất của phụ nữ hoặc nam giới. Định kiến giới gắn liền
với các chuẩn mực giới để dựa vào đó phán xét đúng – sai, phải – trái, khen –
hôn những kiến thức về bình đẳng giới, để giữ gìn sự hòa hợp trong gia đình và
nuôi dạy con cái sau này.
Cùng với gia đình, nhà trường cũng là một môi trường giáo dục tối quan
trọng đối với mỗi con người. Các giáo viên cần ý thức vai trò nêu gương cho
học sinh ở tất cả các cấp từ phổ thông tới đại học. Bởi vì những thông tin truyền
đạt tới học sinh, cũng như cách xử sự của thầy cô giáo là khuôn mẫu, chuẩn mực
cho trẻ em nhận thức đúng đắn về bình đẳng giới.
b) Giáo dục thông qua phương tiện thông tin đại chúng
Một trong những phương tiện tuyên truyền hữu hiệu nhất là các phương
tiện truyền thông đại chúng như ti vi, báo, đài, internet… Các cơ quan chức
năng về văn hóa thông tin nên xây dựng những chương trình tuyên truyền đa
dạng về bình đẳng giới.
c) Mỗi người phụ nữ cần phải tự mình khẳng định vai trò trong gia đình
và xã hội
Chúng ta cần tác động đến hạt nhân cốt lõi để phá tan định kiến về giới,
đó là nhận thức của người phụ nữ về vị thế của bản thân trong xã hội hiện đại.
Họ cần phải xóa bỏ những mặc cảm, tự tin vào năng lực bản thân, có ý thức nỗ
lực không ngừng để khẳng định vai trò của họ trong nhiều lĩnh vực của đời sống
xã hội. Họ cũng cần được thông tin để nhận biết hoàn cảnh xã hội hiện đại cũng
như những cơ hội mới đang mở rộng để chào đón những nỗ lực của nữ giới
trong công cuộc phát triển chung của đất nước.
1.3. Khái niệm về bình đẳng giới
1.3.1. Các quan niệm về bình đẳng giới
Bình đẳng giới là nguyên tắc chỉ đạo của phong trào nữ quyền trong suốt
mấy chục năm qua. Mặc dù vậy, bình đẳng giới còn có nhiều cách hiểu khác
nhau. Có thể thấy một số quan điểm sau về bình đẳng giới:
Thứ nhất là quan niệm bình đẳng giới hình thức, theo đó nam giới và nữ
giới đều là những chủ thể bình đẳng trong các quan hệ pháp luật, có các quyền
và nghĩa vụ pháp lý ngang nhau. Dù có một số điểm tiến bộ nhưng quan điểm
này vẫn dẫn tới sự bất bình đẳng nam – nữ, đặc biệt là sự bóc lột nữ giới về kinh
phổ biến trên thế giới.
1.3.2. Khái niệm chung về bình đẳng giới.
* Khái niệm bình đẳng giới:
“Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo
điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng,
của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” (Khoản 3
Điều 5 Luật bình đẳng giới).
3
3. Xem: C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, Nxb.Chính trị
quốc gia Hà Nội 1995, tr.21
4
4. Xem: Ths. Nguyễn Thanh Tâm: “Quan niệm về bình đẳng giới”, Tạp chí luật học, số
3/2006, tr 59- 60
8
Như vậy qua cách định nghĩa của Luật bình đẳng giới, có thể hiểu bình
đẳng giới là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các
tầng lớp phụ nữ trong xã hội có xét đến đặc điểm riêng của giới nữ, được điều
chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách phù hợp. Bình đẳng giới có
nghĩa là nam giới, phụ nữ cùng có điều kiện để phát huy hết khả năng tiềm tàng
của mình, cùng có cơ hội để tham gia đóng góp và hưởng thụ bình đẳng các kết
quả phát triển của quốc gia trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Điều quan trọng nhất của bình đẳng giới là các kết quả công bằng cho phụ nữ và
nam giới. Bình đẳng giới không có nghĩa là thay đổi vai trò giới một cách máy
móc theo kiểu những gì phụ nữ phải làm thì đổi cho nam giới làm và ngược lại
hoặc đi đến chủ nghĩa bình quân giữa nam và nữ để chia nhau những lợi ích, cơ
hội, trách nhiệm.
Ví dụ về sử dụng nguồn lực: phụ nữ, nam giới đều được vay vốn, được
đào tạo nghề, chuyển giao công nghệ mới, được cung cấp thông tin…về quản lí
nguồn lực như: được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai;
được lựa chọn phương án sản xuất, phương án sử dụng vốn…
- Bình đẳng giới trong tham gia bàn bạc và ra quyết định.
Phụ nữ, nam giới cùng được tham gia vào quá trình ra quyết định trong
gia đình và xã hội.
Ví dụ : phụ nữ và nam giới được tham gia bình đẳng vào bàn bạc các
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, tham gia xây
dựng chương trình hoạt động của các đoàn thể…..Nam giới và phụ nữ cùng
được tham gia hội họp, phát biểu ý kiến, đề xuất nguyện vọng. Các ý kiến của
phụ nữ đều cần được tôn trọng lắng nghe và được giải quyết. Phụ nữ được tham
gia nhiều hơn vào các vị trí lãnh đạo Đảng, Chính quyền, các ngành ở địa
phương…
- Bình đẳng giới trong việc thụ hưởng thành quả lao động và phúc lợi.
Phụ nữ và nam giới được thụ hưởng những thành quả lao động và phúc
lợi xã hội như nhau. Trong gia đình cũng như ngoài xã hội, phụ nữ được thụ
hưởng văn hóa văn nghệ, được chăm sóc về dinh dưỡng, y tế, được hưởng tiền
lương tiền công bình đẳng.
1.4. Pháp luật về bình đẳng giới
1.4.1. Pháp luật quốc tế về bình đẳng giới
Bình đẳng giới không phải là vấn đề riêng của một quốc gia nào, mà nó là
vấn đề chung của toàn nhân loại. Xuất phát từ thực tế, quyền của người phụ nữ
bị vi phạm, bị đối xử, bóc lột nặng nề đã diễn ra ở khắp nơi trên thế giới. Cho
nên vấn đề cốt lõi trong việc bảo đảm bình đẳng giới cũng chính là bảo đảm các
quyền của người phụ nữ, bảo đảm quyền bình đẳng nam, nữ, đồng thời phải có
những chính sách hợp lý cho mỗi giới phát huy khả năng và hưởng thụ lợi ích.
Về điểm này, luật pháp quốc tế đã sớm cụ thể hóa và ghi nhận bằng các quy
phạm pháp luật trong các văn kiện quốc tế về quyền con người như Hiến chương
Liên hợp quốc, Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948, Công ước về quốc
Công ước CEDAW có cơ cấu gồm Lời nói đầu, và chia thành 6 phần với
30 điều khoản. Về nội dung, CEDAW hướng vào những cách thức, biện pháp
nhằm loại trừ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong thụ hưởng các quyền cơ
bản của con người đã được xác định bởi các điều ước quốc tế về nhân quyền
khác. Với mục đích ấy, thực chất CEDAW nhằm trao cho phụ nữ trên toàn thế
giới những quyền con người đã được luật quốc tế và luật quốc gia ghi nhận
nhưng phụ nữ chưa được hưởng một cách đầy đủ trên thực tế, bởi sự phân biệt
11
đối xử đối với phụ nữ ở các quốc gia. CEDAW cũng đã chỉ ra cụ thể những lĩnh
vực hiện đang tồn tại sự phân biệt đối xử với phụ nữ một cách nặng nề để từ đó
xác định những biện pháp thích hợp nhằm loại bỏ hoàn toàn tình trạng bất bình
đẳng của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Có thể nói, CEDAW chính là “hiến chương về bình đẳng giới” để từ đó
các quốc gia trên thế giới ghi nhận và triển khai trong hệ thống pháp luật của mình.
Thực hiện Công ước CEDAW, hiện nay trên thế giới các nước đang có xu
hướng ban hành thành những văn bản pháp luật về bình đẳng giới để bảo đảm
quyền bình đẳng nam nữ. Ở Trung Quốc, Luật bảo vệ quyền và lợi ích của phụ
nữ. Ở Lào có Luật về sự phát triển và bảo vệ phụ nữ. Ở Na Uy, Ko-so-vo, Phần
lan, Thụy Điển…đều ban hành Luật bình đẳng giới.
Có thể nói, bình đẳng giới đã được pháp luật các nước quan tâm thích
đáng và đang trở thành một xu thế tất yếu của các nhà nước trong xã hội hiện đại.
1.4.2. Pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới
Là một yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc, pháp luật không chỉ chịu ảnh
hưởng bởi cơ sở hạ tầng, mà bên cạnh đó, pháp luật còn chịu sự chi phối của các
yếu tố tâm lí xã hội, phong tục tập quán, truyền thống…Pháp luật Việt Nam
cũng chịu sự phản ánh rõ nét của quy luật này. Bởi vậy qua mỗi thời kì phát triển
của xã hội, pháp luật Việt Nam đều mang những sắc thái riêng khi đề cập tới vấn
ta, những quy định mang tính chất bất bình đẳng nam nữ vẫn rất phổ biến và
tình trạng bất bình đẳng giới vẫn là một thực tế không thể xóa bỏ.
b) Vấn đề bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam từ khi Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
Ở nước ta, dưới chế độ mới – chế độ Xã hội chủ nghĩa – dù mói có Luật
bình đẳng giới nhưng tư tưởng về bình đẳng nam-nữ đã được hình thành từ rất
sớm. Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đã đề ra một trong mười
nhiệm vụ trọng yếu của cách mạng Việt Nam là “nam, nữ bình quyền”. Chủ tịch
Hồ Chí Minh là người đã nêu cao, quán triệt tinh thần đấu tranh giải phóng phụ
nữ, bảo vệ các quyền cơ bản của phụ nữ. Người cho rằng: Phụ nữ là một nửa xã
hội, nếu không giải phóng phụ nữ thì không phải là giải phóng một nửa loài
người, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng Chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.
Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945, khi soạn thảo
bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Nhà nước ta cũng đã ghi nhận bình đẳng
nam, nữ tại Điều 9. Điều đó khẳng định mục tiêu, thể hiện quyết tâm, và bản
chất ưu việt của Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh xóa bỏ những áp bức, bất
công trong xã hội. Tư tưởng tiến bộ này đã lần lượt được các bản Hiến pháp tiếp
theo của Nhà nước ta là Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến
pháp 1992 kế thừa và phát huy. Trong Hiến pháp năm 1992, tại Điều 63 quy
Xem: Bùi thị Mừng – “Quyền của người phụ nữ trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”
– Luận văn thạc sỹ - 2004
6
13
định: “nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xâm phạm nhân
phẩm phụ nữ”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các văn bản pháp luật và các
chính sách của Nhà nước ta trên mọi lĩnh vực triển khai các quy định về bảo
14
bình đẳng giới,…là một quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa
bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á”. Chiếm hơn 50% dân
số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày nay có ngày càng nhiều phụ nữ
tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ
quan trọng trong bộ máy nhà nước. Cụ thể là “hiện có tới 27,31% đại biểu nữ
trong Quốc hội (cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỉ lệ nữ đại
biểu cao nhất thế giới), tỉ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%, thạc sĩ 33,95%,
tiến sĩ 25,69%, …”[7] vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đang dần
dần được nâng lên rõ rệt. Những thông tin nói trên đã phản ánh rõ nét những
thành tựu về bình đẳng giới đã đạt được ở nước ta trong thời gian qua, phản ánh
hướng đi đúng đắn của những chính sách lớn của đảng và nhà nước ta thời gian
gần đây trong việc tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển. [8]
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu kể trên, vấn đề thực hiện cũng như
đảm bảo quyền bình đẳng ở nước ta vẫn còn một số tồn tại. Các mục tiêu về tiến
bộ phụ nữ và bình đẳng giới chưa được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện
một cách thường xuyên hoặc nếu có làm thì chỉ hô hào hình thức, chưa biến
thành chương trình họat động cụ thể. Lao động nữ vẫn còn chiếm tỉ lệ cao trong
nông nghiệp, một số ngành nghề, dịch vụ, phụ nữ làm việc chiếm tỉ lệ cao nhưng
còn ít được đào tạo nghề và được trả lương ít hơn nam giới trong cùng loại hình
công việc nhất là trong các khu công nghiệp. Hiện tượng phân biệt đối xử với
cán bộ, công chức nữ trong tuyển dụng, đào tạo vẫn còn tồn tại không chỉ ở
nông thôn mà còn ở các thành phố lớn, phụ nữ và trẻ em gái nghèo, dân tộc
thiểu số ít có cơ hội học tập và chăm sóc sức khoẻ. Tỉ lệ em gái ở vùng núi cao
đến trường chỉ chiếm từ 10 – 15%. Các biện pháp tránh thai vẫn chỉ tập trung
vào phụ nữ (có tới 57% áp dụng biện pháp đặt vòng tránh thai, trong khi chỉ
4,7% sử dụng bao cao su, số lượng phụ nữ áp dụng biện pháp triệt sản cao gấp
11 lần nam giới)[9]. Vấn đề tảo hôn, nạn phân biệt đối xử và ngược đãi phụ nữ,
thiết hiện nay của xã hội ta, cụ thể là:
+ Ban hành Luật Bình đẳng giới để tiếp tục thể chế hóa các chủ trương,
đường lối của Đảng về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ;
+ Ban hành Luật Bình đẳng giới nhằm khắc phục tình trạng phân biệt đối
xử về giới và những khoảng cách giới trong thực tế;
+ Ban hành Luật Bình đẳng giới góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật
bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, khắc phục tình trạng chưa thực hiện
nghiêm túc các quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ, góp phần xây dựng
Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa;
+ Việc ban hành Luật bình đẳng giới là sự tiếp tục khẳng định quyết tâm
của Việt Nam trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, hội nhập khu vực và
quốc tế.
Xem: TS Dương Tuyết Miên – “Luật bình đẳng giới – sự cần thiết và một số nội dung cơ
bản” – Tạp chí Luật học số 3/2008, tr 62
10
16
Chương 2
Những nội dung điều chỉnh cơ bản củaLuật bình đẳng giới
2.1. Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Luật bình đẳng giới
2.1.1. Đối tượng điều chỉnh của Luật bình đẳng giới
Theo nguyên tắc chung, đối tượng điều chỉnh của mỗi ngành luật là các
quan hệ xã hội cùng loại, có đặc tính cơ bản giống nhau. Để phân biệt các ngành
luật, chủ yếu dựa vào đối tượng điều chỉnh. Luật bình đẳng giới là một đạo luật
chung điều chỉnh các vấn đề về bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Như vậy, có thể hiểu: đối tượng điều chỉnh của Luật bình đẳng giới là
các quan hệ xã hội phát sinh trên tất cả các lĩnh vực có liên quan tới vấn đề bình
+ Quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực
Như vậy có thể thấy, Luật bình đẳng giới không quy định chi tiết, cụ thể
các quy phạm điều chỉnh các quan hệ bình đẳng giới trong từng lĩnh vực, mà chỉ
đưa ra các nguyên tắc chung. Các chuyên ngành luật ở mỗi lĩnh vực sẽ có trách
nhiệm triển khai cụ thể các nguyên tắc ấy vào trong các đạo luật thuộc lĩnh vực
mà mình điều chỉnh. Luật bình đẳng giới sẽ đóng vai trò chỉ đạo, chi phối về vấn
đề bình đẳng giới đối với các văn bản pháp luật khác.
+ Quy định biện pháp bảo đảm bình đẳng giới
Đây là các biện pháp nhằm giúp cho bình đẳng giới được thực hiện một
cách thực chất trên tất cả các lĩnh vực. Các biện pháp mà Luật đưa ra như: biện
pháp thúc đẩy bình đẳng giới, lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật, thông tin tuyên truyền…sẽ giúp cho bình đẳng giới được tiến hành
mạnh mẽ, triệt để, lâu dài. Nó cũng thể hiện quyết tâm của Nhà nước ta trong
việc xây dựng một xã hội phát triển, văn minh và tiến bộ mà mọi người dân đều
được hưởng các thành quả của sự phát triển đó.
+ Quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc
thực hiện bình đẳng giới
Có thể thấy, Luật bình đẳng giới không chỉ đưa ra các nguyên tắc chung,
các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới trên các lĩnh vực mà còn quy định trách
nhiệm cụ thể cho từng đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật. Các đói tượng sẽ
tùy thuộc và chức năng, vị trí cũng như các đặc điểm của mình mà có những
trách nhiệm tương xứng. Điều này cho thấy tính bao quát, triệt để trong phạm vi
điều chỉnh của Luật, trên tất cả các lĩnh vực, với mọi đối tượng. Nó cũng là tiền
đề để Nhà nước đưa ra việc xử lý các đối tượng được quy định không làm tròn
trách nhiệm được giao.
* Đối tượng áp dụng của Luật bình đẳng giới
Đối tượng áp dụng theo quy định của Luật bình đẳng giới là cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia
quả, triệt để các cơ hội phát triển cho mỗi giới. Đó là những điều kiện cần thiết
để hướng tới “bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan
hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia
đình” (Điều 4 Luật bình đẳng giới). Bình đẳng giới thực chất chính là việc đưa
người phụ nữ thoát khỏi sự kiềng tỏa, phụ thuộc nam giới, có những quyền lợi,
19
nghĩa vụ chung bình đẳng với nam giới. Đó còn là việc xác định những điều
kiện riêng cho mỗi giới để áp dụng những “đặc quyền”, đặt nam giới và nữ giới
vào vị trí xuất phát ngang bằng nhau để tiếp nhận cơ hội và thụ hưởng thành quả
một cách bình đẳng. Bên cạnh đó, còn tạo ra mối liên hệ hài hòa, chia sẻ khó
khăn, phát huy thế mạnh của cả hai giới trong mọi lĩnh vực, xây dựng xã hội
phát triển, văn minh, gia đình hạnh phúc.
2.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của bình đẳng giới
Nguyên tắc cơ bản của bình đẳng giới là những nguyên lý, tư tưởng chỉ
đạo quán triệt toàn bộ chính sách và các quy phạm pháp luật về bình đẳng giới.
Các nguyên tắc cơ bản của bình đẳng giới không chỉ thể hiện trong Luật bình
đẳng giới mà còn phải trở thành tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ hệ thống
pháp luật, trong quá trình xây dựng, bổ sung, sửa đổi pháp luật, trong quá trình
xây dựng chính sách, kế hoạch, chiến lược xây dựng và phát triển đất nước trong
mọi lĩnh vực. Theo Điều 6 Luật bình đẳng giới gồm 6 nguyên tắc sau:
- Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
- Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới
- Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới
- Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử
về giới
- Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi
pháp luật
giữa hai giới nam và nữ. Với các nguyên tắc này, các cơ quan nhà nước có thể
đưa ra các biện pháp linh hoạt, phù hợp trong từng thời kỳ, ở mỗi điều kiện xã
hội khác nhau để ứng phó với tình hình.
c) Nguyên tắc “Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân
biệt đối xử về giới”
“Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ” là các chính sách của Nhà nước
được áp dụng riêng cho giới nữ trong thời gian dài nhằm bảo vệ, hỗ trợ cho
người phụ nữ khi mang thai hoặc nuôi con nhỏ, thực hiện chính sách bảo vệ bà
mẹ và trẻ em. Phụ nữ là giới có thiên chức mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ
bằng sữa mẹ là do các đặc điểm sinh học – giới tính quy định. Đây là một đặc
trưng vô cùng quan trọng trong việc duy trì nòi giống con người, bảo đảm sự
phát triển bền vững cho xã hội. Để thực hiện được thiên chức của mình, phụ nữ
đã phải hi sinh rất nhiều thời gian, sức khỏe, cũng như những điều kiện khác.
Đây chính là những thiệt thòi mà nữ giới cần được chia sẻ, hỗ trợ. Các chính
sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ sẽ giúp cho người phụ nữ có điều kiện để vừa
thực hiện tốt vai trò làm mẹ, vừa tham gia công việc xã hội một cách hiệu quả.
Nguyên tắc “chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối
xử” sẽ giúp cho các chính sách được thực hiện được thực hiện hiệu quả, thường
xuyên, liên tục.
21
d) Nguyên tắc “bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và
thực thi pháp luật”
Nguyên tắc này là nhằm đảm bảo vấn đề bình đẳng giới sẽ được triển khai,
lồng ghép trong các văn bản pháp luật một cách hợp lý, triệt để. Từ đó, bình
đẳng giới sẽ được thực hiện nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực với những cơ sở
pháp lí vững chắc. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong việc xây dựng và thực
được tham gia vào trong lĩnh vực chính trị, đặc biệt là việc tham gia vào trong
các cơ quan chính quyền, và giữ các vị trí lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức.
Chính bởi vậy, Luật bình đẳng giới đã đưa ra các biện pháp nhằm bảo đảm tỉ lệ
nữ một cách thích đáng trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, cũng như
trong bổ nhiệm các chức danh của cơ quan nhà nước với mục tiêu quốc gia về
bình đẳng giới. Các biện pháp trên sẽ định hướng để các Luật chuyên ngành
(Luật bầu cử Quốc hội, pháp lệnh cán bộ công chức…) có những quy định phù
hợp, tương ứng để bảo đảm cho phụ nữ được tham gia đầy đủ trong lĩnh vực
chính trị.
* Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động
Trong lĩnh vực kinh tế và lao động, bình đẳng giới được thể hiện ở việc
nam, nữ được bình đẳng trong việc tham gia các hoạt động kinh tế, tiến hành
quản lí sản xuất, kinh doanh cũng như trong tuyển dụng, hưởng thụ các thành
quả trong lĩnh vực mình tham gia. Tuy nhiên, để có được bình đẳng giới thực sự
trong kinh tế và lao động, là điều rất khó. Bởi lẽ, nữ giới hiện nay chưa có được
những điều kiện để tham gia bình đẳng với nam giới (nghỉ sinh con, chăm sóc
con nhỏ…). Chính bởi vậy, để có được bình đẳng giới trong kinh tế và lao động,
Luật bình đẳng giới đưa ra các biện pháp như: khuyến khích hơn nữa việc sử
dụng lao động nữ trong các doanh nghiệp bằng các ưu đãi về thuế và tài chính;
quy định tỉ lệ nam, nữ; hỗ trợ, tạo điều kiện ưu tiên cho lao động nữ trong hoạt
động kinh tế và nâng cao trình độ tay nghề trong lao động…
* Bình đẳng giới trong giáo dục, khoa học – công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao
Trong các lĩnh vực trên, bình đẳng giới thể hiện ở việc nam, nữ bình đẳng
trong các tiêu chuẩn đào tạo, bồi dưỡng, chuyên môn nghiệp vụ, tiếp cận khoa
học công nghệ, chăm sóc sức khỏe và tham gia vào các hoạt động văn hóa, thể
thao, cũng như việc thụ hưởng các chính sách của Nhà nước. Với các lĩnh vực
này, Luật bình đẳng giới đã đưa ra các biện pháp như: quy định tỉ lệ nam, nữ
tham gia học tập đào tạo; nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo,
bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy
triển khai hiệu quả.
2.4. Các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới
Xét về nguyên tắc, là con người, phụ nữ và nam giới hoàn toàn bình đẳng,
các quy định của pháp luật và các cơ quan, tổ chức thực thi pháp luật phải tạo cơ
hội như nhau cho cả hai giới trong sự phát triển và hưởng thụ. Tuy nhiên, do
những nguyên nhân như sự khác biệt về giới tính, liên quan đến chức năng sinh
sản và khoảng cách giới thực tế…. phụ nữ và nam giới sử dụng cơ hội không
giống nhau. Do vậy, luật bình đẳng giới đã quy định rất rõ ràng và khá chi tiết
các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới.
Chương III của Luật Bình đẳng giới đề cập đến các biện pháp bảo đảm
bình đẳng giới nhằm tạo cơ hội phát triển cho cả nam và nữ, bao gồm: biện pháp
24
thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong
hoàn thiện hệ thống luật, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong việc hoàn thiện
hệ thống quy phạm pháp luật, thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, thông
tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới, nguồn tài chính cho hoạt
động bình đẳng giới.
Tại Điều 19 Luật Bình đẳng giới quy định các biện pháp thúc đẩy bình
đẳng giới. Đây là “các biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn
giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ
hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa
nam và nữ không làm giảm sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng
giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích
bình đẳng giới đã đạt được”.(khoản 6 Điều 15 luật bình đẳng giới). Các biện
pháp thúc đẩy bình đẳng giới gồm:
a)
nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy
định của pháp luật, lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến
25
nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật ( khoản 2 Điều 12
Luật Bình đẳng giới).
Trong lĩnh vực lao động, các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là : quy
định tỉ lệ nam nữ được tuyển dụng trong lĩnh vực lao động , đào tạo bồi dưỡng,
nâng cao năng lực lao động nữ, người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an
toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành nghề nặng nhọc,
nguy hiểm hoặc tiếp xúc một số hóa chất độc hại (khoản 3 Điều 13 Luật Bình
đẳng giới).
Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, cac biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
là: quy định tỉ lệ nam nữ tham gia học tập, đào tạo, lao động nữ ở nông thôn
được hỗ trợ dạng nghề theo quy định của pháp luật (khoản 5 Điều 14 Luật Bình
đẳng giới).
Những quy định trên là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền ban hành cac quy định cụ thể trong lĩnh vực nào đó có sự chênh lệch
lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội, phát huy năng lực và thụ
hưởng thành quả của sự phát triển.
Trong lịch sử phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam, đây không phải
là lần đầu tiên các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được đề cập, nhất là sau
khi Việt Nam phê chuẩn Công ước liên hiệp quốc về xóa bỏ các hình thức phân
biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) vào ngày 17/2/1982. Trước và sau khi tham
gia công ước, hệ thống pháp luật của nước ta đã thể hiện rõ các quy định khẳng
định nguyên tắc nam nữ bình quyền và bình đẳng giới đồng thời cũng có những
quy định thúc đẩy bình đẳng giới chủ yếu trong lĩnh vực đào tạo và chính trị.
Trong đào tạo, được thể hiện bằng các quy định khuyến khích, tạo điều