Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng toà án từ thực tiễn toà án nhân dân tỉnh hải dương - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

CHU THỊ THU HÀ

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
CHU THỊ THU HÀ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN TRUNG TÍN

HÀ NỘI - 2016


1.1.

Mở đầu

01

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN

04

Tranh chấp kinh doanh thương mại và vai trò giải quyết tranh
chấp thương mại

04

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân tranh chấp thương mại

04

1.1.2 Vai trò giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án

08

1.2.

12

Thủ tục tố tụng giải quyết các tranh chấp thương mại tại tòa
án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự


Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại tại
tỉnh Hải Dương

33

2.3

Thực tiễn áp dụng thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại tại TAND tỉnh Hải Dương

34

2.4

Những khuyết điểm trong hoạt động giải quyết tranh chấp
thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương

40

2.5

Nguyên nhân khuyết điểm hoạt động giải quyết tranh chấp
thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương

47

2.6

Một số khó khăn khi áp dụng thủ tục tố tụng giải quyết tranh

thương mại đơn giản

63

3.1.4 Hạn chế quyền kháng nghị của VKS đối với phán quyết tranh
chấp thương mại.

65

3.1.5 Nâng cao quyền uy của Tòa án và uy tín của Thẩm phán

65

3.1.6 Thiết lập án lệ trong xét xử và công bố bản án rộng rãi

70

3.2.

75

Các biện pháp bảo đảm áp dụng pháp luật về giải quyết tranh
chấp thương mại

3.2.1 Một số biện pháp bảo đảm chung

75

3.2.2 Một số biện pháp bảo đảm để giải quyết các tranh chấp Công
ty của Toà án

phương thức giải quyết tranh chấp như thế.
Trong bối cảnh đang diễn ra cuộc cải cách tư pháp mạnh mẽ nhằm đáp ứng
nhu cầu phát triển của xã hội, Tòa án nhân dân là một trong những phương thức lựa
chọn hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, thủ
tục tố tụng để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại vẫn là trình tự
vướng mắc, tạo tâm lý e ngại cho đương sự khi chọn Tòa án là cơ quan giải quyết
các tranh chấp. Những thách thức đặt ra là để Tòa án nhân dân nâng cao vị thế, năng
lực, đồng thời cũng không là vật cản con đường bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của doanh nhân nếu không có những biện pháp tháo gỡ phù hợp. Với lý do đó,
tác giả đã lựa chọn đề tài: “ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1. Mục đích
- Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về thủ tục tố tụng giải quyết các tranh
chấp thương mại bằng tòa án.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp thương mại bằng tòa án.
2.2. Nhiệm vụ

1


- Làm rõ thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo quy định
của pháp luật tố tụng dân sự.
- Đánh giá thực tiễn, nguyên nhân, thực trạng giải quyết tranh chấp thương
mại tại TAND tỉnh Hải Dương.
- Nêu ra một số kiến nghị khắc phục các hạn chế, nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp thương mại tại TAND tỉnh Hải Dương nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập và tự do hóa nền kinh tế.

bằng tòa án. Trên cơ sở đánh giá thực trạng về pháp luật điều chỉnh thủ tục tố tụng
giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án, luận văn kiến nghị một số giải pháp
về thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án nhằm hoàn thiện hơn nữa
quy chế pháp lý và góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thủ tục giải
quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án.
6. Bố cục của luận văn:
Luận văn có bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp thương mại và giải quyết
tranh chấp thương mại bằng con đường Tòa án.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại tại TAND tỉnh Hải
Dương.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luận và giải pháp bảo đảm thực hiện tố
thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại bằng tòa án.
Với trình độ của tác giả còn hạn chế, đề tài luận văn lại liên quan đến nhiều
lĩnh vực nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót. Tuy nhiên, tác giả cũng đã nỗ
lực cố gắng trình bầy các ý tưởng của mình một cách có hệ thống, làm rõ sự ảnh
hưởng của các yếu tố thực tiễn đến quá trình giải quyết quá trình giải quyết tranh
chấp thương mại tại TAND tỉnh Hải Dương, trình tự tố tụng giải quyết các tranh
chấp thương mại. Hy vọng luận văn sẽ giúp ích đôi chút cho công cuộc cải cách tư
pháp đang diễn ra và là tài liệu hữu ích cho những người đang nghiên cứu các lĩnh
vực liên quan đến đề tài.

3


Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN
1.1. Tranh chấp thương mại và vai trò của thủ tục giải quyết tranh chấp
thương mại:

tranh chấp về thương mại hoặc tranh chấp trong thương mại. Và như vậy, có hai
khái niệm nhỏ cần làm rõ là khái niệm tranh chấp và khái niệm thương mại trước
khi đi làm rõ khái niệm tranh chấp thương mại.
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, Tranh chấp được hiểu là “Đấu tranh,
giằng co khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa
hai bên”.
Theo khoản 16 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: “Kinh doanh là việc
thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi”
Khoản 1 điều 3 Luật thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
khác”.
Như vậy, hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại có nhiều nội hàm
trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản
phẩm ... Bởi thế, nếu tách bạch giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại
là không thể. Cho nên, BLTTDS đã đưa ra khái niệm chung là hoạt động kinh
doanh, thương mại.
Từ đó, chúng ta xác định tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất
đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số hoặc
toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch vụ
trên thị trường, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác. Một cách ngắn
gọn hơn, có thể định nghĩa tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về
quyền lợi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thương mại.

5


Cách định nghĩa như trên có hạn chế là tuy chỉ ra được bản chất của tranh



theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những
nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại
Tòa án, thi hành bản án, quyết định của tòa án; quyền và nghĩa vụ những người
tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan…. Đây
chính là thủ tục tố tụng Tòa án. Như vậy, tố tụng Tòa án chính là trình tự, thủ tục
mà pháp luật quy định để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại bằng
Tòa án.
- Khi tranh chấp xảy ra, có rất nhiều con đường giải quyết mà các bên có thể
lựa chọn. Con đường nào ngắn nhất, ít tốn kém nhất có thể khôi phục lại được các
quyền, lợi ích hợp pháp của mình sẽ được các bên lựa chọn. Trên thực tế, tranh
chấp thương mại có thể được giải quyết bằng những con đường như thương lượng,
hòa giải, Trọng tài, Tòa án.
- Tòa án là thiết chế mang quyền lực tài phán cao nhất. Quyền lực tài phán
của Tòa án là đương nhiên xuất phát từ chức năng bảo vệ pháp luật của cơ quan tư
pháp. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Toà án là hình thức giải quyết tranh
chấp do cơ quan tài phán của nhà nước thực hiện. Được tiến hành theo trình tự, thủ
tục nghiêm ngặt, chặt chẽ. Bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp được
đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
- Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường Tòa án có những đặc
trưng sau:
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Toà án chỉ phát sinh khi bên có tố
quyền thực hiện tố quyền của mình bằng thủ tục khởi kiện tại Tòa án.
Bằng hình thức Toà án, tranh chấp có thể được xem xét và giải quyết qua
nhiều cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) và có thể phải thông qua thủ tục xem xét lại
bản án (giám đốc thẩm hoặc tái thẩm) theo quy định của pháp luật mà nhiều khi
không phụ thuộc vào ý chí của các đương sự;
Quyết định có hiệu lực của toà án có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các
bên và có thể được cưỡng chế thi hành nếu các bên không tự nguyện thi hành.

Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án có ưu điểm lớn là các phán quyết
của Toà án được đảm bảo thi hành tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước và đóng vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật.

8


Để có thể nhìn nhận đúng đắn và có những tác động hợp lý nhằm nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án, cần đánh giá đúng những
yếu tố tác động vào quá trình giải quyết tranh chấp thương mại. Khi đó, ta sẽ có đủ
những cơ sở và phương hướng tác động vào từng khâu, từng quá trình mà không bị
sợ sai lầm. Đồng thời, dưới sự phân tích các yếu tố tác động cả từ bên trong và bên
ngoài, chúng ta có cái nhìn hệ thống, tìm ra được các chi tiết còn yếu kém hoặc
không phù hợp để tạo ra sự đồng bộ, hài hòa cho cả hệ thống.
Nhìn trong nội bộ hệ thống thì các yếu tố tác động bên trong gồm có: các quy
định về luật nội dung, các quy định về luật thủ tục, các tài liệu chứng cứ mà các bên
có thể xuất trình, năng lực của nguời giải quyết. Thử tưởng tượng một cách so sánh
giữa giải quyết tranh chấp thương mại với quá trình chế tạo một sản phẩm. Với sự
đơn giản nhất, làm ra một sản phẩm bị ảnh hưởng bới những yếu tố như là: các
nguyên vật liệu đầu vào; máy móc thiết bị để gắn kết những nguyên liệu đó thành
sản phẩm; công nghệ (quy trình) để sản xuất ra sản phẩm; sau cùng là tay nghề của
người thợ chế tạo ra sản phẩm đó. Tất cả các yếu tố này có tác động một cách đồng
thời tới chất lượng đầu ra của sản phẩm. Nếu nguyên vật liệu không tốt hoặc máy
móc/thiết bị hư cũ, hoặc công nghệ lạc hậu hoặc tay nghề người thợ yếu kém đều
ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm được làm ra.
Một sự so sánh dường như khập khiễng, nhưng những gì đúng với việc sản
xuất có vẻ đúng như đối với việc giải quyết tranh chấp thương mại. Các nguyên vật
liệu đầu vào tương ứng với các tài liệu, chứng cứ mà các bên có được khi xuất trình
cho Tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp; Các máy móc,thiết bị để gắn kết các
nguyên vật liệu đầu vào tương ứng với các quy định của luật nội dung; quy

biến. Tất nhiên, sự cầu viện công lý là điều luôn luôn cần thiết, nhưng đó có phải là
phương án mà các bên tham gia cho là thỏa đáng và ưa thích hay không là vấn đề
cần xem xét.
Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án có rất nhiều ưu điểm
không ai có thể phủ nhận, tuy nhiên, nó có thích hợp hay không, hay nói cách khác,
nó có bám rễ được vào lòng xã hội hay không một phần rất lớn ảnh hưởng từ truyền
thống của xã hội. Đối với xã hội Tây Âu có truyền thống phân quyền với sự độc lập
của Tòa án, giới Doanh nhân đã có một thời gian rất dài được làm quen với các

10


phương thức tố tụng bởi Tòa án. Tòa án là thiết chế sinh ra để bảo vệ pháp luật và
các quyền tự do kinh doanh, nghĩa vụ hợp đồng của giới doanh nhân. Do đó, các
tranh chấp được cầu viện công lý tới Tòa án là điều hết sức bình thường. Trái lại,
đối với xã hội Á đông, sự tách bạch giữa một cơ quan hành chính và một cơ quan tư
pháp là không có. Những vị phán quan học hành thi cử, tiến thân từ “kẻ sĩ” dường
như xa lạ đối với giới thương nhân. Thêm vào đó, tư tưởng đạo nho “ức nông, trọng
thương” đã xếp vị trí của người thương nhân xuống hạng bét trong xã hội đã lấy đi
sự tin tưởng của giới thương nhân truyền thống vào các cơ chế tài phán công. Bởi
vậy, có thể thấy, ở các nước Á Đông chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo Trung
hoa, phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án không mấy được ưa
chuộng (để xem xét cụ thể giới Doanh nhân Việt Nam, tác giả xin được trình bầy cụ
thể hơn ở chương sau)
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án chỉ có thể trở lên
phổ biến khi nó lấy được sự tin tưởng từ phía các Doanh nhân và thông qua đó, dần
dần thay đổi tư duy truyền thống. Chỉ khi ấy, phương thức giải quyết tranh chấp
bằng con đường Tòa án mới được đánh giá là hiệu quả khi so sánh với các phương
thức giải quyết tranh chấp khác.
Tư pháp hiện đại chỉ ra rằng, hoạt động tư pháp và bổ trợ tư pháp luôn gắn

qua mạng điện tử, sử dụng các chữ ký điện tử, các quá trình thanh toán điện tử..
Càng ngày, những chứng cứ mà các bên cung cấp càng trở lên phong phú, không
chỉ có văn bản viết mà còn là các tài liệu nghe được, nhìn thấy, phần mềm …Tất cả
những chứng cứ và tài liệu ấy đòi hỏi người giải quyết không chỉ có trình độ mà
phải còn được cung cấp những công cụ để có thể thẩm định, xem xét được những
chứng cứ ấy. Mặt khác, có những công cụ lao động hiện đại, được hỗ trợ về thông
tin, tài liệu sẽ có tác dụng như “cánh tay nối dài” giúp cho Thẩm phán có thể thực
hiện công việc một cách dễ dàng hơn.
1.2. Thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại tại tòa án theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
1.2.1. Khởi kiện và thụ lý vụ án.
Khởi kiện vụ án kinh tế
Khởi kiện vụ án kinh tế là yêu cầu Tòa án giải quyết những tranh chấp trong
kinh doanh, thương mại. Quyền khởi kiện vụ án kinh tế thuộc về các chủ thể tham

12


gia quan hệ pháp luật kinh tế. Các chủ thể này hoàn toàn bình đẳng về địa vị pháp
lý, có quyền tự định đoạt. Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa họ thì họ
có quyền khởi kiện vụ án kinh tế.
Khoản 1 Điều 4 BLTTDS năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân
do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc
dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của mình hoặc của người khác ”. Đối với cá nhân, họ chỉ có quyền khởi kiện khi họ
có đủ năng lực chủ thể, trong trường hợp họ bị mất năng lực hành vi, hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi thì quyền khởi kiện của họ được thực hiện thông qua người đại
diện hợp pháp. Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị các chủ thể khác xâm phạm thông qua

- Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá
nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số
điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử(nếu có).
Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối
cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề
cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan;
- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);
- Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015 đã quy
định rõ ràng, cụ thể và chi tiết
Thụ lý vụ án kinh tế và án phí:
Thụ lý vụ án kinh tế là thủ tục pháp lý khẳng định sự chấp nhận của Tòa án
đối với việc giải quyết vụ án. Sau khi nghiên cứu đơn khởi kiện của người khởi
kiện, Tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án nếu vụ án đó thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án và không thuộc các trường hợp phải trả lại đơn. Theo quy định tại khoản 1

14


Điều 192 BLTTDS năm 2015, Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường
hợp sau đây:
- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và
Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Chưa đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều
kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án còn thiếu một trong
những điều kiện đó;

trả lại đơn khởi kiện;
- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.
Như vậy theo quy định của BLTTDS năm 2015 đã không còn quy định trả
đơn khởi kiện trong trường hợp hết thời hiệu khởi kiện. Trường hợp hết thời hiệu
khởi kiện, Tòa án vẫn phải tiến hành thụ lý và chỉ đình chỉ trả đơn trong trường hợp
có một trong các bên đương sự hoặc cả hai đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi
kiện.
Khi khởi kiện, một trong những tiêu chí đối với người khởi kiện là phải nộp
tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn. Tiền tạm ứng án phí là một khoản
tiền mà các đương sự phải nộp cho Nhà nước khi Tòa án giải quyết vụ tranh chấp
trong kinh doanh, thương mại giữa các bên. Số tiền án phí các đương sự phải chịu
do Tòa án xác định tùy theo từng vụ án, căn cứ trên mức độ lỗi, lợi ích của các bên
từ vụ tranh chấp và theo khung án phí do Chính phủ quy định.
Khi giải quyết vụ án, vấn đề người khởi kiện có phải chịu án phí hay không,
tỷ lệ là bao nhiêu do phụ thuộc vào quy định quá trình tố tụng và kết quả giải quyết
vụ án.
Thực hiện các quy định trên, trong thực tiễn có một số vướng mắc sau:
Trong quá trình áp dụng quy định về người đại diện trong BLTTDS thường
có nhiều sai sót. Có những sai sót là do lỗi chủ quan của Thẩm phán như xác định
người đại diện là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ việc dân sự, còn không xác định địa vị tố tụng của người được đại diện trong các
bản án, quyết định hoặc coi cả hai đều là đương sự. Người đại diện theo uỷ quyền sẽ
có quyền và nghĩa vụ tố tụng trong phạm vi uỷ quyền nhưng giấy uỷ quyền ghi
không rõ, hoặc chỉ uỷ quyền cho đến theo dõi, nghe Toà phán quyết thì Toà án lại

16


cho họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện… Tuy nhiên, cũng có những sai
sót là do luật chưa quy định thật rõ ràng gây khó khăn, vướng mắc khi áp dụng. Ví

Trong thời gian chuẩn bị cho công tác xét xử, Tòa án tiến hành các công việc
chủ yếu sau:
Một là, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải
thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án
đã thụ lý vụ án.
Hai là, Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ. Theo đó, Tòa án có quyền yêu
cầu đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ, hoặc cung cấp những vấn đề cần thiết.
Yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp bằng chứng có ý
nghĩa cho việc giải quyết vụ án; yêu cầu người làm chứng trình bày về những vấn
đề cần thiết; xác minh tại chỗ tình hình vụ án; trưng cầu giám định, yêu cầu cơ quan
chuyên môn định giá hoặc lập hội đồng định giá tài sản có tranh chấp.
Ba là, Tòa án tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự nắm bắt nội dung vụ án, tiếp cận
các chứng cứ do các bên cung cấp và từ đó có thể thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết vụ án, cũng như thực hiện quyền tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án tiến hành
hòa giải tất cả các vụ án dân sự; đây là một thủ tục bắt buộc phải tiến hành, trừ
những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được. Khi vụ án ở
trong trường hợp không thể hòa giải được thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử
mà không cần hòa giải. Các vụ án kinh doanh, thương mại sau đây không tiến hành
hòa giải được:
- Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng
mặt.
- Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.
Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phải triệu tập tất cả các đương sự, phổ
biến cho tất cả các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc
giải quyết vụ án để các bên có liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình, phân tích
hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện với nhau về việc giải quyết
vụ án. Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề giải quyết tranh chấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status