ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----- -----
NGÔ THẾ LẬP
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
BẰNG THƯƠNG LƯỢNG
KHãA LUËN TèT NGHIÖP luËt häc
Chuyªn ngµnh: LuËt Kinh tÕ - Lao ®éng
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGÔ HUY CƯƠNG
HÀ NỘI – 2009
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Ngô Huy Cương, người đã tận tình giúp đỡ tôi
hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa luật đại học
quốc gia Hà Nội , đã dạy bảo và đào tạo tôi trong suốt bốn năm học tại khoa luật đại
học quốc gia Hà Nội.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè luôn ủng hộ và giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam với những bước phát triển của nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các
thành phần kinh tế được tự do và bình đẳng trong kinh doanh. Trong điều kiện như
vậy, tranh chấp xảy ra không những là vấn đề khó tránh khỏi mà ngày càng trở nên
phức tạp. Để đảm bảo quyền tự do cho các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau, thì việc tạo dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp thỏa đáng và
hiệu quả góp phần tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn để thúc đẩy kinh tế
phát triển, giữ vững trật tự và ổn định xã hội là đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy
1.2 Tình hình nghiên cứu
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng đang là vấn đề không
chỉ nhận được sự quan tâm của giới kinh doanh mà còn là vấn đề quan tâm của các
nhà khoa học pháp lý nhằm tạo dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp thươg mại
hiệu quả, góp phần tạo ra một môi trường thuận lợi, thúc đẩy cho hoạt động thương
mại phát triển. Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác
nhau về những vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương
lượng.
Đến nay đã có một số công trình và bài viết nghiên cứu sau: “ Thương lượng,
hòa giải – lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp kinh doanh” của PGS. TS Trần
Đình Hảo; “Tranh chấp hợp đồng và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp
đồng” của TS Phan Chí Hiếu; “Các phương thức giải quyết tranh chấp chủ yếu tại
Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư nước ngoài” của TS Hoàng Thế Liên; “
Về vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam” của TS Hoàng Phước Hiệp; “Về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay” của TS Phạm Hữu Nghị…Và nhiều các công trình
nghiên cứu Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ và Khóa luận tốt nghiệp khác nghiên
cứu các đề tài liên quan đến vấn đề này.
Tuy vậy, cho đến nay, chưa có công trình, bài viết nghiên cứu nào đề cập trực
tiếp đến vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng tại Việt Nam.
Vì vậy, đề tài khóa luận tốt nghiệp này về cơ bản là mới, chưa được nghiên cứu tổng
thể, toàn diện.
Đề tài được thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa các kết quả
nghiên cứu của các công trình đã được ra nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện
vấn đề này trong lý luận và thực tiễn.
1.3 Mục tiêu của Luận văn
Việc Nghiên cứu đề tài nhằm đạt được mục tiêu tổng quát là tìm ra được các
luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp
thương mại bằng thương lượng. Để đạt được mục tiêu tổng quát này, khóa luận cần
đạt được những mục tiêu cụ thể sau:
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước.
1.6 Cơ cấu của khóa luận
Cơ cấu của khóa luận bao gồm:
Phần mở đầu
Phần nội dung gồm 03 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận căn bản về giải quyết tranh chấp
thương mại bằng thương lượng.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp
thương mại bằng thương lượng.
- Chương 3: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp thương mại bằng thương lượng.
Phần kết luận
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CĂN BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG THƯƠNG LƯỢNG
1.1 Khái quát chung về tranh chấp kinh doanh thương mại và các phương
thức giải quyết tranh chấp thương mại
1.1.1 Khái quát chung về tranh chấp kinh doanh thương mại
Tranh chấp là một hiện tượng khách quan trong xã hội. Từ khi hàng hóa xuất
hiện thì cũng diễn ra các hoạt động thương mại, con người bắt đầu tiến hành các trao
đổi hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu của mình. Những mâu thuẫn xuất phát từ việc sản
xuất, trao đổi và thông thương hàng hóa cũng bắt đầu xuất hiện, đó là tranh chấp
thương mại. Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế càng phát triển, tranh
chấp chấp càng trở nên đa dạng và phức tạp. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, những bất đồng, xung đột xảy ra giữa các
chủ thể kinh doanh là điều khó tránh khỏi, tranh chấp đã trở thành một hện tượng
bình thường đối với mọi nền kinh tế. Giải quyết được các mâu thuẫn, tranh chấp này
sẽ góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển.
Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ được sử dụng
(ICC) đều sử dụng thuật ngữ tranh chấp kinh doanh. Điều 1 bản Quy tắc hòa giải
không bắt buộc quy định “Tất cả các tranh chấp kinh doanh có đặc điểm quốc tế có
thể được đưa ra hòa giải bởi một hòa giải viên duy nhất do Phòng thương mại quốc
tế chỉ định”. Trong Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế cũng
sử dụng thuật ngữ “thương mại”.
Trên thực tế, khái niệm tranh chấp thương mại được tiếp cận dưới nhiều góc
độ khác nhau và có nhiều tên gọi khác nhau: Tranh chấp kinh tế, tranh chấp thương
mại, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp về kinh doanh, thương mại. Các nhà nghiên
cứu luôn cố gắng phân biệt sự khác nhau giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp kinh
doanh. TS Nguyền Thị Kim Vinh Xác định “Trong các loại hình tranh chấp kinh tế,
tranh chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó một số
trường hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế
được sử dụng với ý nghĩa tương đương với nhau”.
Có ý kiến lại cho rằng: “Tranh chấp trong kinh doanh là một dạng của tranh
chấp kinh tế, biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các
nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lời”.
Ở Việt Nam, Khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được đề cập
trong Luật thương mại ngày 10/5/1997 song, theo điều 238, Luật thương mại 1997
có quy định: Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại.
Ngoài ra, khái niệm “Hoạt động thương mại” theo quy định của Luật thương
mại năm 1997 lại có nội hàm rất hẹp so với quan niệm phổ biến của các nước trên
thế giới về thương mại. Theo Điều 1 của Luật mẫu UNICTRAL về trọng tài thương
mại được Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế thông qua ngày
21/6/1958 có quy định các mối quan hệ mang tính chất thương mại, bao gồm, nhưng
không giới hạn, các giao dịch sau đây: Mọi giao dịch thương mại về việc cung cấp
hay trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận về phân phối; Đại diện thương mại;
hóa đơn chứng từ; bán – cho thuê; Xây dựng nhà máy; Dịch vụ tư vấn; Đề án thiết
kế tổng hợp; Giấy phép; Đầu tư; Cấp chi phí; Giao dịch ngân hàng; Bảo hiểm; Các
tục được thể hiện trong Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004 và Luật thương mại năm 2005.
Ngày 25/2/2003 Pháp lệnh trọng tài thương mại ra đời mặc dù không đưa ra
được khái niệm về tranh chấp thương mại mà đưa ra khái niệm “Hoạt động thương
mại” theo đó Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương
mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ;
phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng;
tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai
thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường
sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật. Khái
niệm này đã tạo ra được sự tương đồng trong quan niệm về “Thương mại” và
“Tranh chấp thương mại” của Pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp
luật và thông lệ quốc tế. Là tiền đề cho việc ra đời các văn bản Pháp luật tiếp theo
trong lĩnh vực thương mại.
Theo Điều 29, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có liệt kê các tranh chấp về
kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, gồm có: Tranh
chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có
đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua bán hàng
hoá; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê
mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường
sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường
hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Đầu
tư, tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác; Tranh chấp về quyền sở hữu
trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận; Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; Các tranh chấp khác về
kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
Tiếp theo là sự ra đời của Luật Thương mại năm 2005. Luật thương mại năm
2005 cũng không đưa ra khái niệm tranh chấp thương mại mà theo khoản 1, điều 3
dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua luật
nội dung và luật tố tụng.
Theo David Foskett “Một tranh chấp tất nhiên không thể xuất hiện, trừ khi
một trái quyền được khẳng định bởi một bên mà lại bị một bên khác chống lại.”
Còn theo như Deluxe Black’s Law Dictionary “Tranh chấp trong lĩnh vực
pháp lý được hiểu là các xung đột hay trái ngược liên quan tới các quyền, sự đòi hỏi
hay yêu cầu của một bên đối với bên kia, hoặc sự khẳng định về quyền, sự đòi hỏi
hay yêu cầu của một bên bị đáp lại bởi yêu cầu hay sự viện dẫn trái ngược của bên
kia.”(1)
Tại Việt Nam ngoài Giáo trình Luật Thương mại, tập 2 của trường Đại học
Luật Hà Nội có đưa ra quan điểm về tranh chấp Thương mại như ở trên thì còn có
một số quan điểm khác theo như trong cuốn Kỹ năng hành nghề luật sư- Tập III-
Hợp đồng và tư vấn hợp đồng của Học viện tư pháp thì “Tranh chấp hợp đồng là sự
mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng liên quan tới
việc thực hiện (hoặc không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng”.(48, Tr
53) Với Tiến sĩ luật học Phan Chí Hiếu có nhận định trong Kỷ yếu hội thảo giải
quyết tranh chấp kinh doanh và phá sản doanh nghiệp thì “Tranh chấp kinh tế được
hiểu là những mâu thuẫn hay xung đột về quyền và nghĩa vụ, lợi ích kinh tế giữa các
chủ thể khi tham gia quan hệ kinh tế” (49, Tr 98) còn Tiến sĩ Luật học Phạm Hữu
Nghị lại cho rằng “Tranh chấp trong kinh doanh là mâu thuẫn hay xung đột về
quyền và nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể
kinh doanh”(50, Tr 73). Có thể nhận thấy quan điểm của các tác giả Việt Nam về
tranh chấp thương mại là tương đối thống nhất và có thể nhận thấy tranh chấp
thương mại là tranh chấp khi có đủ các yếu tố đó là: tranh chấp thương mại trước hết
là những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ thương
mại (theo hợp đồng hay không theo hợp đồng) xảy ra trước, trong hay sau thỏa thuận
của các bên; Những mâu thuẫn phải phát sinh từ hoạt động thương mại; Những mâu
thuẫn phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân (trong trường hợp nhất định, các cá
nhân, tỏ chức khác không phải là thương nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp
thương mại, như: tranh chấp công ty và thành viên công ty; giữa các thành viên của
nhiệm giải thích cho các bên tranh chấp biết về bản chất của thủ tục hòa giải cũng
như những quy ước chủ yếu được áp dụng chủ yếu trong quá trình hòa giải. Kết quả
hòa giải thành được thì cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên
tranh chấp, mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào bảo đảm thi hành những cam kết
của các bên trong quá trình hòa giải.
Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài. là phương
thức tranh chấp được Pháp luật quy định. Theo đó, thông qua hoạt động của trọng tài
viên, việc tranh chấp được giải quyết bằng một phán quyết trọng tài mà hai bên tranh
chấp phải thực hiện. Theo phương thức này, các bên được bảo đảm quyền tự do định
đoạt như: lựa chọn tổ chức trọng tài, lựa chọn trọng tài viên…Đây là phương thức
có tính ràng buộc cao, thủ tục cũng đơn giản, nhanh chóng đảm bảo được bí mật
kinh doanh và uy tín. Tuy nhiên, để áp dụng phương thức trọng tài để giải quyết
tranh chấp thương mại, đòi hỏi điều kiện các bên phải có thỏa thuận trọng tài: Là
môt hình thức pháp lý, thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên về việc đưa tranh
chấp ra giải quyết tại tổ chức trọng tài do các bên lựa chọn. Thỏa thuận trọng tài phải
được các bên tranh chấp lập ra trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp và thỏa thuận
trọng tài chưa bị tuyên vô hiệu. Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức là
trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài thường trực. Trọng tài vụ việc là
phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận để giải quyết vụ tranh chấp
giữa các bên và trọng tài sẽ chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp. Và
trọng tài thường trực (còn gọi là trọng tài quy chế) là hình thức trọng tài được thành
lập có tổ chức, có trụ sở cố định, có danh sách trọng tài viên, hoạt động theo điều lệ
tổ chức và các quy tắc tố tụng riêng.
Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án. Khác với
thương lượng, hòa giải hay trọng tài là các phương thức giải quyết tranh chấp mang
tính thỏa thuận tự nguyện hay trên cơ sở quyền lực trao cho trọng tài thì giải quyết
tranh chấp thương mại bằng Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thương
mại do cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước là Tòa án tiến hành theo trình
tự thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ mà Pháp luật quy định. Theo đó, Tòa án nhân danh
quyền lực nhà nước ra một bản án bắt buộc các bên phải chấp hành và nếu không có
giải quyết tranh chấp của WTO đã có những thay đổi tích cực góp phần nâng cao
hiệu lực và tác dụng của cơ chế này với mục đích giải quyết ổn thỏa các tranh chấp
thương mại quốc tế, duy trì ổn định và phát triển hệ thống thương mại đa phương
theo Hiệp định WTO. Bên cạnh đó, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO còn trên
nền tảng pháp lý là thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết
tranh chấp và thường được gọi là Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp (Gọi tắt là
DSU-Dispute Settlement Understanding).
Chủ thể của cơ chế giải quyết tranh chấp là các quốc gia thành viên của
WTO. Tranh chấp thuộc đối tượng điều chỉnh của DSU là các tranh chấp phát sinh
trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia thành viên WTO với nhau chứ không
phải là tranh chấp giữa các chủ thể là cá nhân công dân hoặc tổ chức mang quốc tịch
của các nước thành viên WTO mặc dù họ chính là đối tượng trực tiếp thực hiện các
giao dịch thương mại quốc tế. Vì thế, đối tượng này muốn tiếp cận được cơ chế giải
quyết WTO ,thì thường pháp luật quốc gia họ có quy định, họ có thể đệ đơn lên
chính phủ của mình đề nghị đưa tranh chấp ra WTO nếu thấy có hành vi cho là vi
phạm Hiệp định WTO.
Tranh chấp thuộc đối tượng điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO xuất hiện, khi một nước thành viên WTO cho rằng một nước thành viên khác
đã vi phạm các quy định khác của WTO, làm ảnh hưởng đến lợi ích của họ hoặc ảnh
hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu của các cam kết WTO. Hành vi vi phạm của
một nước thành viên có thể là việc không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, hoặc việc
áp dụng bất kì biện pháp nào bất kể biện pháp đó có vi phạm quy định của Hiệp định
hay không, hoặc việc tồn tại của bất kì tình huống nào khác gây ra hậu quả nêu trên.
Vì thế, khi một nước thành viên cho rằng nước thành viên khác không thực hiện
nghĩa vụ hoặc cam kết theo Hiệp định thì có thể áp dụng DSU để giải quyết. Nếu cơ
quan giải quyết tranh chấp cho rằng hành vi đó là nghiêm trọng thì cơ quan giải
quyết tranh chấp có thể cho phép thành viên bị vi phạm tạm hoãn thi hành nghĩa vụ
hoặc cam kết đối với bên kia phù hợp với quy định của WTO. Như vậy, một nước
thành viên có thể viện dẫn đến DSU để giải quyết tranh chấp khi cho rằng bên kia
không thực hiện nghĩa vụ hoặc cam kết theo Hiệp định mà không cần xem xét đến
văn bản yêu cầu trao đổi ý kiến. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu
cầu, bên nhận được yêu cầu phải trả lời đề nghị của bên yêu cầu. Việc thương lượng,
trao đổi ý kiến phải được tiến hành trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày
nhận được yêu cầu. Tranh chấp giữa các nước ASEAN có thể thỏa thuận giải quyết
tranh chấp bằng môi giới, hòa giải hoặc trung gian trong bất cứ thời điểm nào nhưng
không làm phương hại, hoặc cản trở quá trình giải quyết tranh chấp bằng thương
lượng hoặc Panel bắt đầu hoạt động tố tụng. Ban thư kí ASEAN sẽ tự nguyện đứng
ra giúp các bên giải quyết tranh chấp thông qua phương thức môi giới theo Điều 11
Nghị định thư DSM 1996. Trong thời hạn 60 ngày nhận được yêu cầu trao đổi ý
kiến bất đồng mà các bên không giải được vấn đề tranh chấp, vấn đề sẽ được chuyển
cho SEOM, trong vòng 30 ngày SEOM sẽ lập Panel (theo Điều 5). Panel xem xét
vấn đề, xác định tình tiết vụ kiện và nghe ý kiến các bên rồi đưa ra báo cáo cuối
cùng trong thời hạn 60 ngày (theo Điều 6) vào gửi Báo cáo cho SEOM, trong thời
hạn 30 ngày (Có thể kéo dài thêm 10 ngày) SEOM sẽ xem xét và quyết định công bố
Báo cáo theo nguyên tắc quá bán. Trong thời gian 30 ngày công bố Báo cáo của
SEOM mà không có kháng nghị của các bên tranh chấp thì Hội nghị các Bộ trưởng
kinh tế ASEAN (AEM) sẽ thông qua theo nguyên tắc quá bán, đây là quyết định
cuối cùng và có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp và có báo cáo về
tiến độ thực hiện các quy đinh cho SEOM và AEM. Còn nếu có kháng nghị thì AEM
sẽ xem xét lại vấn tranh chấp và có quyết định trong thời hạn 30 ngày (trường hợp
đặc biệt được kéo dài thêm 10 ngày). Theo Điều 10 tranh chấp được giải quyết với
tổng thời gian không quá 290 ngày.
Cơ chế giải quyết thương mại của ASEAN mang tính chính trị, thương thuyết
nên số vụ tranh chấp đưa ra giải quyết theo cơ chế DSM của ASEAN là rất ít. Do
vậy, cơ chế này còn cần được hoàn thiện nhiều trong quá trình áp dụng phù hợp với
xu hướng phát triển kinh tế của khu vực.
Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư ICSID. ICSID là trung tâm quốc tế về
giải quyết tranh chấp đầu tư được thành lập trên cơ sơ Công ước về giải quyết tranh
chấp đầu tư giữa các quốc gia và công dân của các quốc gia khác năm 1965.
Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư ICSID thuộc Nhóm Ngân hàng thế
quyết mọi tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, nhất là trong hoạt động thương
mại. Phương thức này thường được giới thương nhân lựa chọn mỗi khi có tranh chấp
phát sinh. Ở Việt Nam Thương lượng cũng xuất hiện sớm và được sử dụng rộng rãi
trong đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động thương mại nói riêng. Như vậy,
cũng như các phương thức giải quyêt tranh chấp khác thì Thương lượng cũng được
hình thành trên cơ sở của kinh tế - xã hội và chịu sự tác động sâu sắc của các yếu tố
chính trị, văn hoá, lịch sử của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. Trước tiên,
phương thức này ra đời trên cơ sở nhu cầu đoàn kết dân tộc trong đấu tranh để tồn
tại và phát triển. Với truyền thống đoàn kết và cố kết cộng đồng được hình thành và
gìn giữ trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam luôn
coi trọng và đề cao tinh thần tương thân, tương ái với quan niệm trọng tình nghĩa
“chín bỏ làm mười”, chính vì vậy, khi có tranh chấp với nhau thì biện pháp trước
tiên có thể áp dụng là thương lượng vì thông qua biện pháp này mà mọi người có
thể hiểu nhau hơn và mâu thuẫn có thể được giải quyết mà vẫn giữ được tình làng,
nghĩa xóm. Một yếu tố nữa cũng phải kể đến đó yếu tố văn hóa trong cách ứng xử
của người Việt. Giống như nhiều nước phương Đông khác, người Việt Nam có quan
niệm “lấy hòa làm trọng” trong cách đối nhân xử thế, người Việt có tâm lý ngại kiện
cáo, phải đến pháp đình là một điều bất hạnh (Vô phúc mà đáo tụng đình). Vì lẽ đó,
khi có mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra trong cuộc sống thì việc cần làm ngay không
phải là kiện cáo mà giải quyết bằng thương lượng bởi đây là biện pháp mang tính xã
hội và nhân văn sâu sắc.(51)
Hình thành và phát triển cùng quá trình lịch sử dân tộc, giải quyết tranh chấp
bằng thương lượng đã dần trở nên phổ biến, thương lượng luôn hiện hữu trong mọi
khía cạnh của cuộc sống và được pháp luật ghi nhận, đó chính là cơ sở pháp lý vững
chắc biện pháp này tiếp tục phát huy vai trò của mình là phương thức giải quyết
tranh chấp trong đời sống xã hội, vợ chồng thương lượng với nhau khi thỏa thuận
làm các công việc trong gia đình, bố mẹ và con thương lượng khi bàn về cách cải
thiện điểm số ở truờng…,trong hoạt động thương mại các tranh chấp xảy ra là rất
nhiều và thương lượng đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Về khái niệm thương lượng: Thương lượng theo cách hiểu thông thường là
Theo như khái niệm về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng
thương lượng ở trên thì có thể nhận thấy phương thức thương lượng có những đặc
trưng cơ bản đó là:
Thứ nhất, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng được thực
hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc,
thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện
của bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán quyết.
Thứ hai, quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc
của bất kì nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của
Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp. Pháp luật Việt Nam mới chỉ dừng lại ở
việc ghi nhận thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mà
không có bất kì quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết chanh chấp thương mại
bằng thương lượng.
Thứ ba, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự
nguyện của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc
thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng.
Có thể nhận thấy giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng thực
chất được thực hiện bởi cơ chế giải quyết nội bộ (cơ chế tự giải quyết) và hoàn toàn
xuất phát từ sự tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có sự can thiệp của bất
kì cơ quan nhà nước hoặc người thứ ba nào. Với nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa
thuận trong hoạt động thương mại thì giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương
lượng cũng trên nguyên tắc tự do thỏa thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp.
các bên tự đề xuất các giải pháp và thỏa thuận với nhau trình tự, thủ tục phù hợp giải
quyết các bất đồng, mâu thuẫn phát sinh mà không bắt buộc phải theo một thủ tục
pháp lý nào.
Nguyên tắc tự định đoạt của các bên trong giải quyết tranh chấp thương mại
bằng thương lượng có vai trò rất quan trọng. Trong pháp luật tố tụng dân sự nguyên
tắc này được xem là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo pháp luật tố tụng dân sự ghi
nhận và bảo đảm cho các đương sự quyền tự mình lựa và thực hiện các quyền năng
tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ
có mối quan hệ biện chứng.Vậy quyền tự định đoạt của đương sự là tổng thể các
quyền của đương sự được quy phạm pháp luật ghi nhận và bảo vệ trong việc lựa
chọn và tự mình quyết định các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Trong hoạt động thương mại các bên được tự do xác lập giao dịch thương
mại thì khi có vi phạm hoặc phát sinh tranh chấp, các chủ thể cũng hoàn toàn có thể
tự mình thương lượng giải quyết tranh chấp, quyết định những nội dung đã được xác
lập trước đó. Việc pháp luật tố tụng dân sự, luật thương mại đã ghi nhận quyền tự
định đoạt của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp thương mại chính là phản
ánh bản chất, tính chất của quan hệ pháp luật dân sự đó. Việc quy định này có ý
nghĩa pháp lý vô cùng to lớn. Khi mà các giao lưu thương mại trở nên phổ biến và
đa dạng trong đời sống xã hội thì các tranh chấp thương mại phát sinh cũng ngày
càng phức tạp. trên cơ sở pháp luật quy định như vậy dẫn tới việc khi có tranh chấp
các chủ thể có quyền tự do lựa chọn nhiều phương thức, hình thức khác nhau giải
quyết tranh chấp mà trong đó có thương lượng là phương tức giải quyết tranh chấp
thương mại. Quyền tự định đoạt trong thương lượng đã phản ánh được bản chất của
quan hệ thương mại, thiết lập cho các bên tranh chấp một hệ thống, phương tiện
pháp lý để giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, hiệu quả mà nếu việc giải
quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng mà diễn ra tự phát, không tuân theo
trình tự, thủ tục nào đó sẽ làm cho việc giải quyết tranh chấp gặp nhiều khó khăn,
thậm chí là không đạt được kết quả, vì vậy quyền và lợi ích hợp pháp của các bên sẽ
không được bảo vệ.