BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ THU HÀ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Hành chính Nhà nước
Mã số: 60380102
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Hồng Anh
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực. Những
kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công
trình nào.
XÁC NHẬN CỦA
TÁC GIẢ
trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp .......................... 29
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh
tế, lao động .......................................................................................................... 36
2.2.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực
kinh tế .................................................................................................................. 36
2.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
động, việc làm ..................................................................................................... 42
2.3. Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giới trong
lĩnh vực văn hóa, giáo dục .................................................................................. 46
2.3.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực
Giáo dục – đào tạo............................................................................................... 46
2.3.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực
văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ .................................. 49
2.4. Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giới trong
lĩnh vực xã hội ..................................................................................................... 53
2.4.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực y
tế .......................................................................................................................... 53
2.4.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình ........................................................................................... 56
2.5. Nguyên nhân gây của những bất cập và hạn chế trong việc thực hiện pháp
luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội................. 61
CHƯƠNG 3 QUAN ĐỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ,
VĂN HÓA, XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ................................................................ 65
3.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền đẳng giới trong lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, xã hội ....................................................................................... 65
3.1.1. Thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, văn
hóa, xã hội cần bảo đảm thực hiện đầy đủ nguyên tắc hiến định về quyền con
phụ nữ với nam giới. Cốt lõi của vấn đề quyền con người của phụ nữ chính là sự
bình đẳng về vị thế, cơ hội và các quyền của phụ nữ với nam giới. Đấu tranh cho
bình đẳng giới cũng chính là đấu tranh cho các quyền của con người của phụ
nữa là ngược lại. Trên phương diện pháp lý quốc tế, nhiều công ước quốc tế về
bảo vệ phụ nữ ra đời và ghi nhận, nhưng toàn diện hơn hết là Tuyên bố về xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ của Liên hợp quốc thông
qua vào năm 1976 đã làm nền tảng cho sự ra đời của Công ước về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) vào ngày 18 tháng 12
năm 1979.
Hòa vào xu hướng chung của thế giới, Việt Nam đã và đang cam kết rất
mạnh mẽ trong việc bảo đảm bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới về mọi mặt.
Báo cáo Phát triển con người của Chương trình phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) năm 2006 cho thấy, mức độ bình đẳng giới tại Việt Nam xếp thứ 11
trên thế giới. Chỉ số này thậm chí cao hơn nước có nền kinh tế phát triển hàng
đầu thế giới là Anh một bậc.Theo báo cáo Khoảng cách giới tính toàn cầu năm
2007 mà Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố, xét trong khu vực ASEAN
và Đông Á, Việt Nam đứng ở ngôi vị thứ hai về mức độ bình đẳng giới. Ngay
trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam – Hiến pháp 1946 khẳng định:
“Tất cả quyền lực trong nước của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt
nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”1 và “đàn bà ngang quyền với
đàn ông về mọi phương diện”2. Từ đó, “bình đẳng” trở thành một trong những
nguyên tắc xuyên suốt trong tất cả các Hiến pháp về sau (Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam) và đặc biệt Hiến pháp
1
2
Điều 1 Hiến pháp 1946
Điều 9 Hiến pháp 1946
3
hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nghiên cứu cơ sở lý luận về bình
đẳng giới và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; phân tích thực trạng thực
hiện pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, đánh giá những thành tựu,
những hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới và
những nguyên nhân của những hạn chế đó nhằm đề xuất kiến nghị hoàn thiện
thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã
hội ở nước ta hiện nay.
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bình đằng giới và thực hiện pháp luật về
bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng
giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bình đẳng
giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, đã công bố một số công trình nghiên cứu về
những vấn đề lí luận nền tảng và những khía cạnh riêng lẻ của đề tài này. Trong
số các công trình đó phải kể đến: Hà Thị Hoa Phượng, Pháp luật lao động Việt
Nam với vấn đề bình đẳng giới, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Hà
Nội, 2010; Nguyễn Thị Anh Hoa, Pháp luật lao động Việt Nam về vấn đề bình
đẳng giới và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sĩ luật
học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2012; Lê Thị Dung, Công ước về phân biệt
đối xử trong việc làm và nghề nghiệp và sự nội luật hóa trong pháp luật lao
động Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Hà Nội, 2011; Vũ
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng
giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ở Việt Nam dưới góc độ quyền con
người; nghiên cứu và phân tích những thành tựu và hạn chế trong thực hiện pháp
luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đề
5
xuất quan điểm, giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội dưới hệ quy chiếu chủ yếu là Luật Hiến pháp 2013
và Luật Bình đẳng giới 2006.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu, luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin.
- Một số các phương pháp nghiên cứu khác:
(i) Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp lịch sử,
phương pháp thống kê… được sử dụng khi nghiên cứu những vấn đề lí luận về
bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
(ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh luật học, phương pháp
đối chiếu, phương pháp khảo sát…được sử dụng trong nghiên cứu, đánh giá
thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật bình đẳng giới Việt Nam hiện hành
trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
(iii) Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp tổng
hợp… được sử dụng khi nghiên cứu về các giải pháp hoàn thiện pháp luật bình
đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ở Việt Nam và cơ chế bảo đảm
thực hiện trong thực tiễn đời sống.
Ngoài ra, luận văn cũng dựa trên các quan điểm, định hướng của Đảng và
Nhà nước về chính sách kinh tế - xã hội, bảo vệ và phát triển con người.
bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới
trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
1.1.1.1. Khái niệm
Để có thể định nghĩa thế nào thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới
trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, thì cần phải hiểu khái niệm quyền bình
đẳng giới nói chung, mà trước hết là khái niệm về giới, giới tính, bình đẳng giới,
quyền bình đẳng giới, pháp luật về quyền bình đẳng giới.
Giới tính (SEX) là một khái niệm khoa học ra đời từ môn sinh vật học chỉ
sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan
đến quá trình tái sản xuất con người, di truyền nòi giống. Con người sinh ra đã
có những đặc điểm về giới tính. Ví dụ: chỉ phụ nữ mới có khả năng mang thai và
sinh con, hoặc chỉ nam giới mới có khả năng sản xuất tinh trùng cho quá trình
thụ thai. Giới tính, theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Luật bình đẳng giới 2006
quy định: “chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ”.
Giới (GENDER) là khái niệm ra đời từ môn xã hội học, chỉ sự khác biệt
giữa nam và nữ về mặt xã hội. Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và
quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định chon nam giới và phụ nữ. Ví dụ:
Theo quan niệm và thói quen đã có từ lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thì
phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như chăm sóc, nấu ăn phục vụ
chồng con… Còn nam giới thì có trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình
và làm các công việc xã hội. Khi sinh ra,con người chưa có trong bản thân sự
8
phân biệt giới mà họ dần dần tiếp thu và chấp nhận từ nề nếp của gia đình, quy
ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hóa. Khái niệm giới được quy định tại
Khoản 1 Điều 5 Luật bình đẳng giới: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam
và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”3
tham gia vào đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Do đó, quyền bình
đẳng giới là nền tảng, có tính quyết định việc thực hiện những quyền đó.
Như vậy, quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội là
sự bảo đảm giữa nam và nữ giới, trẻ em trai và trẻ em gái đều có cơ hội ngang
bằng về việc phát huy năng lực bản thân, thụ hưởng như nhau về thành quả của
sự phát triển đó trong tất cả các mặt của lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
Pháp luật về quyền bình đẳng giới
Được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung được
nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của nhà nước, đảm bảo việc nam,
nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực
của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau
về thành quả của sự phát triển đó trên cơ sở giáo dục thiết phục và cưỡng chế.
Thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới
Khi các quy phạm pháp luật về quyền bình đẳng giới được ban hành thì
Nhà nước mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm
bảo đảm quyền và lợi ích cho phụ nữ. Điều đó chỉ có thể đạt được khi các quy
phạm pháp luật về bình đẳng giới do Nhà nước ban hành được các tổ chức và cá
nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ.
Pháp luật về quyền bình đẳng giới được đặt ra là để điều chỉnh hành vi
của con người, nên việc thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới phải thể
hiện ở hành vi pháp luật của con người. Hành vi đó có thể là hành động hoặc
không hành động phù hợp với quy định của pháp luật, nó không trái với pháp
luật, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, luôn phù hợp với các
quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giới được quy định trong Hiến pháp
và một số văn bản pháp luật liên quan.
Thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới là giai đoạn không thể thiếu
và vô cùng quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Khi thực hiện pháp luật
về quyền bình đẳng giới, một mặt nhằm đạt được những mục đích mà Nhà nước
11
Thứ hai, về mục đích: Thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đáp ứng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của phụ nữ trong xã hội. Thực tiễn cho thấy, phụ nữ cùng được bình đẳng
với nam giới tham gia vào mọi hoạt động của đời sống, đồng thời cùng được
thừa hưởng mọi thành quả của tiến bộ xã hội, đó chính là biểu hiện sinh động
năng lực làm chủ xã hội một lực lượng lao động quan trọng, chiếm hơn một nửa
nhân loại toàn cầu. Chỉ trên cơ sở bình đẳng mới đảm bảo cho mục tiêu tiến bộ
và công bằng xã hội được thực hiện.Trên thực tế, thực hiện mục tiêu bình đẳng
giới là một nhiệm vụ khó khăn và phức tạp không chỉ riêng một lĩnh vực nào mà
nó đi liền với nhiều bức xúc của xã hội.
Ngoài ra, thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh
tế, văn hóa xã hội còn có một số đặc điểm cơ bản:
Về chủ thể: thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, xã hội là các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân.
Nhà nước ban hành ra các văn bản pháp luật để bảo vệ quyền lợi của
người phụ nữ trong xã hội, yêu cầu và kiểm soát các cơ quan ban ngành, các tổ
chức có thẩm quyền thực thi sự bảo đảm đó. Mọi người, mọi nhà thực hiện pháp
luật về quyền bình đẳng giới bằng sự am hiểu pháp luật, trên cơ sở sự giám sát
của Nhà nước và ý thức tự nguyện trong mỗi người. Công dân có ý thức tốt
trong việc thực hiện quyền bình đẳng giới thì việc thực hiện quyền bình đẳng
giới trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước, cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn và ngược lại.
Về phạm vi: Thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, xã hội không chỉ có phạm vi ở một địa phương hay cấp đơn vị
cụ thể mà là phạm vi trên toàn mọi miền đất nước, nhất là trong điều kiện hiện
nay, khi mà bình đẳng giới đã là vấn đề được quan tâm lớn của toàn nhân loại.
4
5
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Bình đẳng giới 2006, Điều 12.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩ Việt Nam (2005), Luật Doanh nghiệp, Chương VI.
13
các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới - nhóm biện pháp bảo đảm bình đẳng giới
mang tính khẩn cấp. Theo khoản 6 điều 5 Luật bình đẳng giới: “Biện pháp thúc
đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn
giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ
hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa
nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình
đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục
đích bình đẳng giới đã đạt được”. Những biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
thường được thể hiện thông qua các quy phạm ưu tiên. Sở dĩ pháp luật quy định
những biện pháp này là do mỗi giới có những đặc điểm khác nhau về giới tính
và vai trò xã hội nên phải có sự ưu tiên để mỗi giới tiếp cận, kiểm soát các
nguồn lực. Nhưng cũng không thể duy trì sự ưu tiên này mãi được vì nó sẽ lại
tạo ra khoảng cách giới. Chính vì thế những biện pháp này sẽ chấm dứt ngay khi
mục đích bình đẳng giới đạt được, nó chỉ mang tính tạm thời. Những biện pháp
này phải được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước để trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội và gia đình phụ nữ và nam giới được nhìn nhận và đánh
giá như nhau. Các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình rất đa dạng, chính vì
thế các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong mỗi lĩnh vực cũng rất khác
nhau. Theo đó, những biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế
ngang nhau thông qua việc quy định các vấn đề việc làm, học nghề, hợp đồng
lao động, thỏa ước tập thể…tại các chương tương ứng có giá trị áp dụng đối với
mọi lao động làm công ăn lương nói chung. Điều này góp phần xóa bỏ định kiến
coi phụ nữ là người phụ thuộc, là con người của gia đình, bếp núc. Quan trọng
hơn cả, Bộ luật Lao động còn thiết kế một chương riêng – Chương X (từ Điều
109 – Điều 118) gồm những quy định dành riêng cho lao động nữ. Các quy định
này được hình thành dựa trên cách nhìn nhận toàn diện, khách quan về lao động
hai giới. Xuất phát từ kết quả nghiên cứu về sức khỏe và khả năng chịu đựng của
lao động nữ có nhiều điểm hạn chế hơn so với lao động nam, hơn nữa họ còn
15
phải đảm nhiệm thiên chức cao cả là làm mẹ; bên cạnh đó người lao động nữ
cũng phải làm việc trong các điều kiện khắc nghiệt của cơ chế thị trường… đã
làm yếu đi vị thế và cơ hội việc làm của người lao động nữ trong điều kiện hiện
nay. Những quy định tại Chương X Bộ luật Lao động đã góp phần làm cân bằng
hơn vị thế, cơ hội của người lao động nam, nữ nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới
một cách hiệu quả và bền vững.
Bộ luật Lao động đã tạo điểm nhấn về sự thừa nhận quyền bình đẳng giới
một cách cụ thể và trực tiếp tại Điều 109: “Nhà nước bảo đảm quyền làm việc
của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới…”. Cùng với cụm từ “bình
đẳng” còn có các cụm từ “nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử”, “ưu đãi”, “ưu
tiên”… Bộ luật Lao động đã thể hiện rõ hơn quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực
lao động và chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước.
Để giúp các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ giải quyết những
khó khăn về tài chính, Nhà nước đã quy định một số chính sách ưu đãi như: xét
giảm thuế, ưu tiên sử dụng một phần trong tổng số vốn đầu tư hàng năm của
doanh nghiệp để chi cho việc cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nữ
(Khoản 4, Điều 153 Bộ luật Lao động, được hướng dẫn thi hành tại Khoản 1,
vào các hoạt động kinh tế, lao động với vai trò làm vợ, làm mẹ; đồng thời cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của người phụ nữ trong gia đình và xã hội,
tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới
trong lĩnh vực kinh tế.
1.1.2.2. Trong lĩnh vực văn hóa
* Giáo dục – đào tạo
Giáo dục – đào tạo từ lâu đã được toàn Đảng, toàn dân quan tâm. Điều
này được minh chứng rất rõ thông qua việc Đảng và Nhà nước đã thực hiện
trong thời gian qua. “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” được ghi nhận tại
Điều 39, Luật Hiến pháp. Đó như một lời khẳng định hùng hồn về quyền và
nghĩa vụ được học tập của công dân, không phân biệt người lớn hay trẻ nhỏ, phụ
nữ hay đàn ông, trẻ em trai hay trẻ em gái, tất cả mọi người sinh ra trên lãnh thổ
Việt Nam đều có quyền được đến trường và nâng cao trình độ trí lực.
Và để thực hiện quyền bình đẳng giới đó thì pháp luật có quy định cụ thể
các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo như:
quy định tỉ lệ nam nữ tham gia học tập, đào tạo; những lao động nữ ở khu vực
nông thôn được hỗ trợ dạy nghề (nhà ở, chế độ phụ cấp…) (tại Khoản 5, Điều
7
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2014), Luật Bảo hiểm xã hội 2014.
17
14, Luật bình đẳng giới). Với mục tiêu : “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”
8
quy định tại Khoản 1, Điều 61 Hiến pháp, chúng ta hiểu được tầm quan trọng
18
nghệ thuật của đất nước, điều này vô cùng cần thiết cho sự phát triển của phụ nữ
trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngày nay.
Ngoài ra, Đảng và Nhà nước còn ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị trong
đó có Nghị quyết 153 về công tác cán bộ nữ năm 1967, Nghị quyết 04 năm
1993, Nghị quyết 11 năm 2007 trong đó khẳng định việc tạo điều kiện, bồi
dưỡng, đào tạo và sử dụng cán bộ nữ, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật.
Chỉ thị 37/1994 nêu rõ: “Đặc biệt chú ý chính sách khuyến khích tài năng phụ
nữ trong các trường học, trong mọi lĩnh vực hoạt động. Những nữ khoa học có
tài, những cán bộ nữ quản lý giỏi cần được khuyến khích sử dụng, khi cần thiết
có thể nghỉ hưu ở tuổi 60 như nam giới” 9.
1.1.2.3. Trong lĩnh vực xã hội
* Y tế
Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong
việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng
bệnh, khám bệnh, chữa bệnh. Và nếu có bị xâm hại tới quyền lợi đó thì sẽ bị
pháp luật xử phạt.
Điều 17 Luật Bình đẳng giới đã khẳng định mọi công dân không phân biệt
phụ nữ hay nam giới đều bình đẳng về quyền được chăm sóc sức khỏe, sử dụng
các dịch vụ y tế. Bên cạnh đó, nam, nữ còn bình đẳng trong việc lựa chọn và
quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục... Đặc biệt,
phụ nữ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số
được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.10
Ngoài các quy định trên, Nhà nước đã ban hành và sửa đổi bổ sung nhiều
văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giới
9
Ban Bí thư Trung ương Đảng (1994), Chỉ thị số 37/CT-TƯ ngày 16/5/1994 về một số vấn đề công tác cán bộ
nâng cao.
Tháng 8/2002, Quốc hội ra quyết định thành lập Uỷ ban dân số, gia đình
và trẻ em. Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết thi
hành Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định rõ trách nhiệm của nhà nước và các
cơ quan, các tổ chức xã hội trong việc hỗ trợ các gia đình phát triển kinh tế, xây
dựng gia đình hạnh phúc, nuôi con tốt; Giải quyết các bất hoà trong gia đình và
cộng đồng, ngăn chặn hành vi bạo lực, thiếu văn hoá, nhất là vời người già, phụ
20
nữ và trẻ em; Trang bị các kỹ năng ứng xử tiến bộ, lành mạnh cho các thành
viên trong gia đình; Phát hiện và động viên các gia đình kiểu mẫu và phê phán
các gia đình thiếu trách nhiệm đối với các thành viên trong gia đình và xã hội.
Nghị Định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số quy định nghiêm cấm các hành vi lựa
chọn giới tính thai nhi (Điều 10). Tháng 5/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ký
quyết định lấy ngày 28/6 làm “Ngày gia đình Việt Nam”.
1.2. Vai trò của thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
Nói đến bình đẳng giới về cơ bản là nói đến sự bình đẳng về quyền của
phụ nữ với nam giới, do đó thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội không ngoài mục tiêu tạo ra sự bình đẳng về
điều kiện, cơ hội và thụ hưởng như nhau về các quyền của phụ nữ với nam giới
trong các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội (kinh doanh sản xuất,
lao động, giáo dục đào tạo, y tế, khoa học công nghệ, văn hóa nghệ thuật...).
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội là tiền đề bảo đảm quyền con người cơ bản. Đây là cách để
thực hiện quyền tham gia vào hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước,
đồng thời là đảm bảo về cơ hội thụ hưởng những quyền này của con người,