Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện cả nước có khoảng 2,7
triệu hộ kinh doanh cá thể. Còn theo thống kê điều tra mức sống hộ gia đình Việt
Nam của Tổng cục Thống kê, giá trị tăng trung bình một năm của một hộ gia
đình Việt Nam là 15,5 triệu đồng. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(VCCI) quy ra giá trị gia tăng của khu vực doanh nghiệp hộ gia đình Việt Nam
tương đương với gần 13% góp vào GDP của cả nước. Hoạt động hiệu quả của
các hộ cá thể không những giúp giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng nguồn
thu cho ngân sách nhà nước... mà còn là mạng lưới rộng lớn nhất, phát triển về
tận những vùng xa, vùng khó khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp
ứng được. Nhờ đó, hộ kinh doanh cá thể là kênh quan trọng trong phân phối và
lưu thông hàng hóa tới vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn. Giúp cân đối thương
mại và phát triển kinh tế địa phương. Vì vậy các hộ cá thể đã trở thành một mắt
xích quan trọng trong hệ thống kinh tế nói chung và kinh tế của huyện Nậm Pồ
nói riêng, đặc biệt là khi huyện Nậm Pồ đang trong giai đoạn phấn đấu để trở
thành Thị xã công nghiệp vào năm 2015.
Trong không khí hội nhập và phát triển, huyện Nậm Pồ đã vươn lên rất
mạnh mẽ về mặt kinh tế xã hội. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong
khoảng 5 năm gần đây đạt gần 20%/năm đưa huyện Nậm Pồ trở thành huyện có
tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh nhất tỉnh Điện Biên và gấp khoảng 3 lần tốc độ
tăng trưởng chung của cả nước, đời sống của nhân dân huyện Nậm Pồ ngày càng
được nâng cao. Có được thành công trên là do có sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng, các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương và sự nỗ
lực không ngừng của các thành phần kinh tế, trong đó không thể phủ nhận vai
trò rất quan trọng của các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện.
Vì vậy, việc tạo điều kiện tốt nhất cho các hộ phát triển là yêu cầu cấp thiết
tỉnh Điện Biên. Từ đó đưa ra một số các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
thẩm định các dự án tại đây.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn thẩm định dự án đầu tư
- Đánh giá khái quát về huyện Nậm Pồ và phòng TC - KH huyện Nậm Pồ.
- Đánh giá thực trạng công tác thẩm định các dự án sản xuất kinh doanh của
các hộ gia đình tại phòng TC – KH huyện Nậm Pồ.
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác thẩm định dự án sản xuất
kinh doanh của các hộ gia đình tại phòng TC – KH huyện Nậm Pồ.
Khóa luận tốt nghiệp
2
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chủ yếu thực trạng công tác thẩm định dự án sản xuất
kinh doanh của các hộ gia đình tại phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nậm Pồ
tỉnh Điện Biên.
3.2 phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về không gian: Đề tài được nghiên cứu chủ yếu tại phòng TC - KH huyện
Nậm Pồ.
3.2.2 Về nội dung: Đề tài nghiên cứu công tác thẩm định dự án đầu tư sản xuất
nhiên, sức lao động hoặc trí tuệ.
Dự án đầu tư: Có nhiều quan điểm về DA đầu tư. Đứng trên các góc độ khác
nhau ta sẽ có những khái niệm về DA đầu tư riêng. Có một số quan điểm sau:
- Theo luật đầu tư 2005: DA là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn
để tiến hành các hoạt động đầu tư, trên địa bàn cụ thể và trong một khoảng thời
gian xác định.
- Về mặt hình thức: DA đầu tư là một tập hồ sơ, tài liệu trình bày một cách
chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch nhằm đạt được các
kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
- Trên góc độ quản lý: DA đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn,
vật tư hay lao động để tạo ra các kết quả tài chính và kinh tế xã hội trong một
thời gian.
- Trên góc độ kế hoạch: DA là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của
một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội làm tiền đề
cho việc ra quyết định về đầu tư và tài trợ cho DA.
- Về nội dung: DA đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết
được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định
để tạo mới, mở rông hoặc cái tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện
những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Khóa luận tốt nghiệp
4
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
Khóa luận tốt nghiệp
5
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
1.1.2 Đặc đểm
- Thẩm định DA đầu tư sẽ được tiến hành trước khi DA đi vào thực hiện.
- Công tác thẩm định là quá trình tạo ra sản phẩm, đó là báo cáo thẩm định.
Đây là sản phẩm từ trí tuệ và kinh nghiệm của cán bộ thẩm định. Họ không chỉ
có những hiểu biết về môi trường chính trị của đất nước, mà còn đưa ra những
đánh giá chính xác về tính khả thi của DA trên cơ sở các chỉ tiêu đã được xác
định một cách chuyên nghiệp.
- Cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác thẩm định, không nên
quan niệm đây là một thủ tục hợp pháp để được phê duyệt cấp phép đầu tư, cấp
vốn, vay vốn hay nhận tài trợ.
- Nhiệm vụ của công tác thẩm định là tiến hành kiểm tra, phân tích, đánh
giá DA, đưa ra các kết luận, kiến nghị cho phù hợp với DA, cũng như để DA
được thực thi.
- Để việc thẩm định DA đạt kết quả cao cần phải đảm bảo tính hợp pháp,
toàn diện, khách quan, chuẩn xác, kịp thời.
- Mục tiêu của việc thẩm định là đưa ra căn cứ phục vụ cho việc ra quyết
định về đầu tư.
1.1.3 Bản chất
đầu tư
- Thông qua công tác thẩm định, dựa trên các định mức, tiêu chuẩn kinh tế
kỹ thuật mà Nhà nước đã quy định, giúp cho việc tránh thất thoát, lãng phí vốn
đầu tư, tài nguyên và các nguồn lực khác, đặc biệt là các DA sử dụng vốn ngân
sách Nhà nước.
Do vậy công tác thẩm định giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá
chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của DA trên tất cả mọi phương diện: mục
tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả.
1.1.5 Nội dung thẩm định
1.1.5.1 Khía cạnh pháp lý của toàn bộ dư án: bao gồm thẩm định pháp lý của
DA và thẩm định năng lực của CĐT.
Về khía cạnh pháp lý của DA cần:
- Xem xét sự phù hợp của DA với chiến lược, quy hoạch phát triển của đất
nước, ngành và địa phương.
- Kiểm tra sự phù hợp của DA với các văn bản pháp quy, các quy định, chế
độ ưu đãi, khuyến khích đầu tư
Về năng lực của CĐT cần xem xét:
- Năng lực pháp lý, tài chính, quản trị điều hành kinh nghiệm
- Ngoài ra, cần xét đến mối quan hệ tín dụng của CĐT.
Khóa luận tốt nghiệp
7
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
khai thác nhập lượng đầu vào. Về mặt định lượng, xác định chi phí đầu vào đơn
Khóa luận tốt nghiệp
8
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
vị, và các yếu tố có khả năng thay đổi làm ảnh hưởng tới chi phí đầu vào (biến
động của thị trường do quan hệ cung cầu, biến động của tỷ giá đối với đầu vào
phải nhập khẩu,...). Những yếu tố có tính chất định lượng này sẽ được sử dụng
làm thông số đưa vào tính toán hiệu quả DA.
Thị trường yếu tố đầu ra: Nội dung phân tích này giúp đưa đến những kết
luận đánh giá mang tính chất cả về định tính và định lượng. Về mặt định tính,
đánh giá được khả năng cạnh tranh và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Về mặt định
lượng, các yếu tố về giá bán, chính sách bán hàng, chi phí trong bán hàng, và
khả năng phát huy công suất thiết kế hàng năm, ... sẽ là những thông số đầu vào
để phục vụ quá trình tính toán xác định hiệu quả DA. Nội dung này cần phải
xem xét đến:
- Khả năng cạnh tranh sản phẩm cùng loại, sản phẩm thay thế thông qua giá
bán, chất lượng, chính sách bán hàng.
- Khả năng tiêu thụ sản phẩm
1.1.5.4 Khía cạnh công nghệ kĩ thuật của DA. Đối với một cơ quan quản lý
Nhà nước thì đây là nội dung thẩm định rất quan trọng. Cần xem xét đến các yếu
tố sau:
Địa điểm xây dựng
- Làm thay đổi điều kiện sinh thái
- Gây ô nhiễm môi trường
- Gây ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường thiên nhiên, giảm tiềm năng
ngành du lịch hoặc mở rộng khu nghỉ dưỡng…
à Cần phải có các giải pháp đưa ra
1.1.5.5 Phương diện tổ chức quản lý và nhân lực của dự án: cần xem xét các
nội dung sau:
- Hình thức kinh doanh, tổ chức doanh nghiệp
- Kinh nghiệm, năng lực, uy tín của nhà thầu: Thiết kế, thi công, tư vấn,
giám sát, cung cấp thiết bị…
- Kinh nghiệm, trình độ tổ chức vận hành DA của CĐT, khả năng tiếp cận
hay điều hành công nghệ thiết bị mới.
- Đánh giá về nguồn nhân lực của DA: Số lượng, trình độ tay nghề, trình độ
kỹ thuật, kế hoạch đào tạo
- Giải pháp bố trí và đào tạo nhân sự
1.1.5.6 Khía cạnh tài chính DA
Xác định tổng vốn đầu tư và phương án huy động vốn
- Tổng vốn đầu tư: Kiểm tra việc tính toán đã hợp lý chưa, có khả thi
không, lưu ý đến vốn lưu động, chi phí dự phòng, trượt giá ngoại tệ, lãi vay
- Nguồn vốn tham gia: Có những nguồn vốn nào, tỷ lệ là bao nhiêu, tỷ lệ
cung ứng vốn, tính khả thi của từng nguồn
Khóa luận tốt nghiệp
10
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
vị này có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được công tác thẩm định để có hiệu
quả cao nhất. Nhóm nhân tố này bao gồm:
Khóa luận tốt nghiệp
11
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
Con người và công tác tổ chức điều hành
- Nhà quản lý và CBTĐ là những người trực tiếp quyết định đến chất lượng
công tác thẩm định. Những tố chất của mỗi người này cần có để đảm bảo thẩm
định DA có chất lượng là năng lực, trình độ, kinh nghiệm và tư cách đạo đức
nghề nghiệp. Để công tác thẩm định đạt kết quả cao, đòi hỏi CBTĐ phải biết kết
hợp nhuần nhuyễn năng lực sẵn có của bản thân, trình độ chuyên môn và những
kinh nghiệm thực tế, đặc biệt phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp vô tư,
trong sáng, biết đặt lợi ích công việc lên hàng đầu trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ của mình nhằm đưa ra những kết luận khách quan về DA, làm cơ sở
tin cậy cho việc cấp phép đầu tư của UBND huyện.
Quy trình thẩm định, phương pháp thẩm định
- Một quy trình, phương pháp thẩm định DA khoa học và đầy đủ kết hợp
với kinh nghiệm thực tiễn và các nguồn thông tin đáng tin cậy là cơ sở đảm bảo
chất lượng công tác thẩm định.
- CBTĐ dựa trên quy trình thẩm định đã xây dựng và phương pháp thẩm
định hợp lý sẽ giúp phân tích, tính toán hiệu quả của DA một cách nhanh chóng,
những phương tiện cần thiết và hữu hiệu phục vụ công tác thẩm định. CBTĐ có
thể truy cập vào cơ sở dữ kiệu khổng lồ để tìm kiếm và lựa chọn thông tin, cùng
với phần mềm xử lý thông tin tiên tiến giúp giảm bớt thời gian và chi phí, đồng
thời giảm rủi ro phát sinh qua công đoạn xử lý bằng tay. Cơ sở vật chất hiện đại là
một thuận lợi để áp dụng phương pháp thẩm định phân tích độ nhạy và dự báo.
1.1.6.2 Nhân tố bên ngoài
Là những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của đơn vị tiến hành thẩm định.
Nhóm nhân tố này bao gồm:
Thông tin từ phía CĐT
- Căn cứ quan trọng để CBTĐ thẩm định DA là HSDA mà CĐT trình lên.
Do đó, xảy ra tình trạng CBTĐ không có đủ thông tin chính xác nội dung của
DA và các nội dung liên quan đến DA để thẩm định. Do vậy tính trung thực, khả
năng và trình độ lập, thẩm định DA đầu tư của CĐT có ảnh hưởng rất lớn đến
chất lượng thẩm định của Phòng.
Môi trường kinh tế xã hội và cơ chế chính sách pháp luật của Nhà nước
- Cơ chế chính sách rõ ràng, đồng bộ, nhất quán sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho các CBTĐ thực hiện thẩm định DA đầu tư một cách độc lập, khách quan
nhưng trong khuôn khổ quy định của pháp luật.
- Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật vẫn có sửa đổi bổ sung để ngày
càng phù hợp hơn với thực tế. Tuy nhiên, những mặt hạn chế của các văn bản
luật, chính sách và khả năng cập nhật thêm thông tin của CĐT hay CBTĐ cũng là
những nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng công tác thẩm định DA đầu tư.
Khóa luận tốt nghiệp
13
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
cụ thể đối với từng dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thể mời các tổ chức và
chuyên gia tư vấn thuộc các Bộ khác có liên quan để tham gia thẩm định dự án.
Khóa luận tốt nghiệp
14
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
+ Đối với các dự án sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước,
tổ chức cho vay vốn thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ trước
khi trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư.
- Đối với các dự án nhóm B, C sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn tín
dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:
Người có thẩm quyền quyết định đầu tư sử dụng cơ quan chuyên môn trực thuộc
đủ năng lực tổ chức thẩm định, có thể mời cơ quan chuyên môn của các Bộ,
ngành khác có liên quan để thẩm định dự án:
+ Ủy ban Nhân dân tỉnh quyết định đầu tư nhóm B
+ Ủy ban Nhân dân các huyện, thị, thành quyết định các dự án đầu tư có
mức vốn từ 5 tỷ đồng trở xuống, sử dụng nguồn vốn Ngân sách thành phố phân
cấp cho Quận huyện quản lý.
+ Giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư phê duyệt các dự án đầu tư nhóm C sử
dụng vốn ngân sách nhà nước
+ Giám đốc Sở Tài nguyên - Môi trường phê duyệt các dự án nhóm C sử
dụng nguồn vốn cho thuê nhà sở hữu nhà nước
+ Phòng, chống cháy nổ, an toàn lao động và các vấn đề xã hội của dự án;
+ Các vấn đề rủi ro của dự án có thể xảy ra trong quá trình thực hiện làm
ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư;
+ Đánh giá một cách tổng thể về tính khả thi của dự án.
- Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư của Nhà
nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh còn phải thẩm định các điều kiện tài
chính, giá cả, hiệu quả đầu tư và phương án hoàn trả vốn đầu tư của dự án
Thông thường các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thẩm định các DA
theo cả 3 quan điểm: ngân sách, kinh tế và xã hội
- Mối quan tâm của cơ quan quản lý về ngân sách là tác động của DA đến
ngân sách địa phương. Đối với cơ quan ngân sách, các DA có thể cần chi dưới
dạng trợ giá hay các khoản trợ cấp khác, và cũng có thể tạo thu nhập từ thu phí
sử dụng và thuế trực thu hay gián thu. Do đó, đối với cơ quan quản lý ngân sách
địa phương, thu nhập tài chính ròng (C) do một DA tạo ra có thể được diễn tả
qua công thức sau:
C
=
Thuế và phí sử dụng
−
Trợ giá, trợ cấp trực
trực thu hoặc gián thu
tiếp và gián tiếp
- Quan điểm kinh tế gộp chung lợi ích và chi phí trên tất cả dân cư quốc gia
để xác định xem DA có cải thiện được mức phúc lợi kinh tế quốc gia như là một
tổng thể hay không. Xác định ai là người được, ai là người chịu thiệt từ DA và
này là bao nhiêu?
Phương thức thẩm định đối với một DA có thể là:
- Phương thương thức chuyên viên tự thẩm định: cấp có thẩm quyền chủ trì
tổ chức thẩm định sử dụng chuyên viên thuộc cơ quan mình có đủ năng lực để
thực hiện các công việc trong công tác thẩm định
- Phương thức lấy ý kiến chuyên gia: Là phương thức mà cơ quan có thẩm
quyền chủ trì tổ chức thẩm định ký kết hợp đồng thẩm định với các tổ chức tư
vấn hoặc các chuyên gia trong và ngoài nước để thực hiện công tác thẩm định.
- Phương thức lập hội đồng thẩm định: Hội đồng thẩm định là một nhóm
các thành viên có chuyên môn ở các lĩnh vực có liên quan đến dự án. Tuỳ theo
tính chất, quy mô dự án mà có tiến hành lập hội đồng thẩm định hay không. Đây
là phương thức thường được áp dụng tại các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư
từ Trung ương đến địa phương.
1.2.1.2 Bài học thực tiễn rút ra từ kinh nghiệm thẩm định dự án tại Việt Nam
- Cần phân cấp thẩm định các loại DA để giúp các cấp chủ động thẩm định
DA trong thẩm quyền của mình, tránh tình trạng chồng chéo trong công việc.
Khóa luận tốt nghiệp
17
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
- Quy định các nội dung cần thẩm định đối với mội loại hình DA cụ thể để
các CBTĐ các cấp có căn cứ để thẩm định. Ngoài ra cũng quy định rõ quy trình
thẩm định, lựa chọn ra các phương thức phù hợp cho quá trình thẩm định.
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
họp hội đồng thẩm định. Sở Kế hoạch và đầu tư trực tiếp thẩm định dự án và lập
tờ trình trình UBND tỉnh phê duyệt;
- Bước 4 - Sau khi đã có quyết định chủ đầu tư trực tiếp đến nhận kết quả
tại 1 cửa của Sở Kế hoạch và đâu tư.
Kinh nghiệm về tổ chức, điều hành công tác thẩm định
- CBTĐ phải bố trí sao cho hợp lý, tránh sự chồng chéo, đảm bảo sắp xếp
cán bộ có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, trách nhiệm làm công tác này.
Phân chia cán bộ cũng cần phải căn cứ vào năng lực, kinh nghiệm và thế m ạnh
của từng người.
- Nên phân CBTĐ phụ trách khối doanh nghiệp trong và ngoài nước và
phân công theo ngành nghề. Mỗi CBTĐ phụ trách một ngành nghề khác nhau và
cho cán bộ đi tìm hiểu về ngành nghề đó.
Bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho CBTĐ
Phải đảm bảo cho các CBTĐ:
- Nắm vững mọi chủ trưng, đường lối của Đảng và Nhà nước về các lĩnh
vực đặc biệt là về thẩm định DA đầu tư.
- Có kiến thức tổng quan về kinh tế thị trường, nhanh nhạy nắm bắt thông
tin, am hiểu về pháp luật, hiểu biết nhất định trong lĩnh vực quản lý nhà nước.
- Hàng năm UBND tỉnh cần tổ chức các đợt thi nghiệp vụ nhằm khuyến
khích các CBTĐ trau dồi kiến thức, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ
chuyên môn
- Các cấp cần coi trọng tới công tác bồi dưỡng nhân phẩm đạo đức, nêu cao
tinh thần trách nhiệm và thường xuyên bám sát cơ sở và thực tiễn yêu cầu về
- Hoạt động thẩm định DA đầu tư nói chung và DA đầu tư sản xuất kinh
doanh nói riêng muốn đạt hiệu quả cao cần có sự phối kết hợp của nhiều đơn vị
chuyên môn có liên quan và sự kết hợp này phải chặt chẽ, hợp lý. Cần có một
đơn vị hoặc cá nhân đóng vai trò chủ chốt trong tiến trình thẩm định. Người này
sẽ chủ trì, điều phối các hoạt động của của các đơn vị phục vụ cho thẩm định.
- Các đơn vị thẩm định phải thực hiện tốt khâu tổ chức, điều hành trong quá
trình thẩm định. Không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng thu thập
thông tin và thường xuyên củng cố, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ
nghiệp vụ và tư chất đạo đức nghề nghiệp cho CBTĐ.
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
- Hoạt động thẩm định cần được tiến hành với tất cả các dự án đầu tư xây
dựng, thuộc mọi nguồn vốn, của mọi thành phần kinh tế: Vốn trong nước, vốn
ngoài nước, vốn ngân sách Nhà nước, vốn của dân…
- Tuỳ theo quy mô, tính chất của dự án, nguồn vốn được huy động và chủ
thể có thẩm quyền thẩm định sẽ có những yêu cầu về nội dung thẩm định dự án
là khác nhau.
Khóa luận tốt nghiệp
20
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
- Trong hoạt động thẩm định chính con người là chủ thể trực tiếp xây dựng
quy trình thẩm định với những chỉ tiêu, phương pháp, trình tự nhất định, đồng
21
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
chỉ được thẩm định một cách chung chung rồi cho phép đầu tư. Khi nền kinh tế
nước ta chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, công tác thẩm định DA đầu tư trước
khi cấp phép đầu tư đã có bước chuyển biến đáng kể. Tất cả các loại DA đều được
thẩm định và phân tích kĩ càng và ngày càng có chất lượng hơn
CHƯƠNG 2
ĐĂC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN PHỔ YÊN VÀ PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ
HOẠCH HUYỆN PHỔ YÊN
2.1.1 Đăc điểm huyên Nậm Pồ
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý
Nậm Pồ là huyện đồi núi và đồng bằng của tỉnh Điện Biên. Trung tâm
huyện cách thành phố Điện Biên 26km về phía Nam và cách Hà Nội 55 km về
phía Bắc. Là một trong cửa ngõ của thủ đô Hà Nội đi các tỉnh phía Bắc, phía
Nam huyện giáp thủ đô Hà Nội và tỉnh Bắc Giang, phía Bắc giáp thành phố
Điện Biên, phía Đông giáp huyện Phú Bình và phía Tây giáp huyện Đại Từ và
tỉnh Vĩnh Phúc. Với thuận lợi về vị trí địa lý như vậy cùng với giao thông đường
bộ, đường sắt, đường thủy và gần sân bay Nội Bài, huyện là nơi giao lưu và
trung chuyển giữa Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, huyện Nậm Pồ có thế mạnh để
mở rộng thị trường, phát triển giao lưu và hội nhập dễ dàng với thị trường trong
đất nâu vàng trên phù sa cổ. Diên tích đất tự nhiên của huyện ổn định qua các
năm. Tốc độ đô thị hoá của huyện thể hiện là chậm. Diện tích đất nông nghiệp
không có sự biến động lớn. Diện tích đất ở tăng từ 990 ha năm 2008 lên
1086,74ha năm 2011. Đất chuyên dùng tăng 1142,8ha từ năm 2008 đến năm
2010 và có sự biến động lớn từ năm 2009 đến năm 2010.
Bảng 1: Tình hình sử dụng đất đai năm 2011 của huyện Nậm Pồ
Chỉ tiêu
Diện tích (ha)
Tỷ trọng (%)
Tổng diện tích tự nhiên
25667,63
100,00
1. Đất nông nghiệp
17625,96
68,67
2. Đất phi nông nghiệp
7836,33
30,53
3. Đất chưa sử dụng
205,34
0,80
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Nậm Pồ)
Trong cơ cấu đất tự nhiên, đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng 68,67%, sau đó là đất
phi nông nghiệp chiếm 30,53%, còn lại là đất chưa sử dụng chiếm khoảng 0,8%.
Với địa hình đồi núi thấp - đồng bằng và vùng đối núi, đất của huyện được
chia thành 10 loại chính là đất đỏ vàng trên phiến thạch sét; đất phù sa được bồi,
đất phù sa không được bồi; đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, đất phù sa ngòi
suối; đất bạc màu; đất vàng nhạt trên đất cát; đất nâu vàng phù sa cổ; đất đỏ
vàng biến đổi và đất dốc tụ. Trên 50% diện tích đất Nậm Pồ là đất bạc màu, tầng
đất mỏng, đất vàng nhạt trên đất cát, độ phì kém. Loại đất này không tốt cho
thuỷ cho cả Tỉnh nói chung và huyện Nậm Pồ nói riêng. Sông chảy dọc địa giới
phía Đông, giáp huyện Phú Bình và tỉnh Bắc Giang. Sông Cầu có lưu lượng nước
lớn, trung bình trong năm là 136m3/giây. Chế độ nước phù hợp với chế độ mưa.
Ngoài hai con sông chính chảy qua địa phận huyện, còn có hệ thống suối,
ngòi chảy qua từng vùng. Tổng diện tích mặt nước sông suối của huyện là
704.1ha. Nhìn chung, chất lượng nước tốt nên có thể khai thác mặt nước để nuôi
trồng thuỷ sản. Tuy nhiên, các nhà máy là nhà máy giấy chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
và Hoàng Văn Thụ tỉnh Điện Biên, các xí nghiệp thuộc khu công nghiệp Gang
Thép Điện Biên làm cho nước sông chảy qua địa phận huyện Nậm Pồ bị ô
nhiễm nặng. Hệ thống sông này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu
trong nông nghiệp, đánh bắt thủy sản và vận chuyển hàng hóa đường thủy. Tuy
nhiên đến mùa mưa, nước lớn cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và
Khóa luận tốt nghiệp
24
Nguyễn Văn Tình_K9KTĐT B
Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Khoa Kinh tế
đời sống của nhân dân. Nước sông bị ô nhiễm tạo ra áp lực lớn đối với môi
trường của huyện. Vì vậy hàng năm huyện lại phải chi một khoản kinh phí để
sửa chữa đê, khắc phục ô nhiễm nguồn nước.
- Tài nguyên rừng: Nậm Pồ là huyện chuyển tiếp giữa vùng đồi núi và đồng
bằng nên diện tích đất lâm nghiệp không lớn và tập trung ở các xã phía Tây
huyện. Diện tích rừng của Huyện là 6,743.9 ha, chiếm 23.29% diện tích tự
nhiên. Trong đó rừng tự nhiên có 2,635.2ha, chiếm 39.2% diện tích đất lâm