Một số vấn đề lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh của việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN PHƯƠNG ANH

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ
THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
CỦA VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ:

603850

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS. BÙI NGỌC CƯỜNG

HÀ NỘI - 2011


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU:……………………………………………………1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ
THỐNG

LĨNH


thống lĩnh thị trường………………………………………………….............. 32
CHƯƠNG 2: HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM…………………………. 36


2.1. BÁN HÀNG HÓA, CUNG ỨNG DỊCH VỤ DƯỚI GIÁ THÀNH TOÀN BỘ
NHẰM LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH………………. .......................36
2.2. ÁP ĐẶT GIÁ MUA, GIÁ BÁN HÀNG HÓA, DỊCH VỤ BẤT HỢP LÝ
HOẶC ẤN ĐỊNH GIÁ BÁN LẠI TỐI THIỂU GÂY THIỆT HẠI CHO KHÁCH
HÀNG…………………………………………………………...................... 41
2.3. HẠN CHẾ SẢN XUẤT, PHÂN PHỐI HÀNG HÓA, DỊCH VỤ, GIỚI HẠN THỊ
TRƯỜNG, CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ GÂY THIỆT
HẠI CHO KHÁCH HÀNG…………………………………... ..........................42
2.4. ÁP ĐẶT ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI KHÁC NHAU TRONG GIAO DỊCH
NHƯ

NHAU

NHẰM

TẠO

BẤT

BÌNH

ĐẲNG

TRONG


trường……………………………………………………………... ...................69
3.2.3. Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường……………………………………………………............ 72

KẾT LUẬN………………………………………………………….. .......76
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………....... 78


1

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng từ năm
1986 đến nay đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên bên cạnh
những thành công bước đầu đó chúng ta cũng phải đối mặt với những hệ quả
tiêu cực của cơ chế thị trường, đó là các hành vi hạn chế cạnh tranh trong đó
có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là hành vi còn mới đối với
Việt Nam mà chúng ta cần phải tìm hiểu thêm.
Mặc dù hạn chế cạnh tranh là một khuyết tật cố hữu của kinh tế thị
trường, nhưng trong điều kiện của Việt Nam, một nền kinh tế vừa thoát ra từ
cơ chế kế hoạch hóa tập trung, sự quản lý và điều tiết của nhà nước còn đang
tiến dần đến sự phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường, sự thống trị
của các doanh nghiệp quốc doanh vẫn còn dai dẳng, sự gia tăng nhanh chóng
và không ngừng lớn mạnh của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư
nhân; sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sự vượt
trội về khả năng tài chính, tư duy kinh tế và kinh nghiệm thương trường...đã
khiến cho các hành vi hạn chế cạnh tranh mà trong đó có hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường đang diễn ra một cách hết sức lộn xộn, gây ra những

tổng thể, toàn diện và chuyên sâu về các khía cạnh của hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu các quy định của pháp luật cạnh
tranh hiện hành và các vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường theo Luật Cạnh tranh của Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là phương
pháp triết học Mác - Lênin mà hạt nhân là phép duy vật biện chứng và phép


3

duy vật lịch sử cũng như các quy luật, phạm trù cơ bản, nhất là quy luật cơ sở
hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, các quan hệ kinh tế quyết định các
quan hệ pháp luật. Trên nền tảng các phương pháp đó, tác giả sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội như phương pháp phân
loại.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn bám sát các chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về chính sách cạnh tranh và các
hành vi độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được thể hiện trong
các văn kiện của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
* Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tiếp cận nghiên cứu các vấn
đề có tính chất lý luận và thực tiễn của các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường ở Việt Nam, từ đó có căn cứ để xác định hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường trong thực tiễn và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định pháp luật về lĩnh vực trên.
* Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về hành vi lạm dụng vị trí


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ
THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH

1.1. KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG
LĨNH THỊ TRƯỜNG
1.1.1. Khái niệm
Khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trường thì ngay lập tức cũng xuất hiện sự cạnh tranh. Cạnh tranh là
một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, là năng lực phát
triển của nền kinh tế thị trường. Đồng thời, cạnh tranh cũng dẫn đến việc triệt
tiêu lẫn nhau giữa các đối thủ cạnh tranh, quá trình cạnh tranh diễn ra đến một
mức độ nào đấy sẽ xuất hiện tình trạng thống lĩnh thị trường.
Vị trí thống lĩnh được hiểu là khả năng kiểm soát thực tế hoặc tiềm
năng đối với thị trường liên quan của một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch
vụ của một hoặc một số doanh nghiệp. Với cách hiểu như vậy thì vị trí thống
lĩnh không chỉ được xem xét dưới góc độ vị trí của một doanh nghiệp mà còn
có thể là vị trí của một nhóm doanh nghiệp cùng hành động. Tức là giữa
nhóm doanh nghiệp này không có sự thỏa thuận trước nhưng đã cùng hành
động, cùng nhau thực hiện các hành vi như bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ.
Khi đã xác lập được vị trí thống lĩnh, các doanh nghiệp thống lĩnh tìm
mọi cách để duy trì vị trí thống lĩnh thị trường của mình với các cách thức
như: thôn tính, tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh, ngăn cản không cho các đối
thủ tiềm năng gia nhập thị trường, tiếp tục củng cố ưu thế và sức mạnh thị
trường bằng việc lôi kéo các đối thủ liên kết tạo sức mạnh, phân chia thị
trường, định giá cả.
Các nhà kinh tế học đều thống nhất rằng thống lĩnh thị trường là hiện


lạm dụng vị trí thống lĩnh là: (i) một hoặc một nhóm doanh nghiệp kiểm soát


7

thị trường liên quan; (ii) thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định
trong luật cạnh tranh; (iii) hành vi đó đã, đang hoặc có thể làm cản trở, làm
giảm cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể [8]. Bên cạnh đó, còn có
một xu hướng khác trong pháp luật cạnh tranh trên thế giới khi định nghĩa về
hành vi lạm dụng. Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc được thông
qua ngày 22 tháng 4 năm 1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của tổ chức hợp tác
và phát triển Liên hợp quốc định nghĩa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị
trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường
vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường
hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh [19, tr52]. Ở đây có sự khác nhau giữa
Luật Cạnh tranh của Canada và Bộ Quy tắc mẫu ở dấu hiệu chủ quan của
hành vi. Nếu như Luật Cạnh tranh của Canada mô tả hành vi lạm dụng luôn
mang trong mình nó khả năng (hậu quả) làm sai lệch, cản trở hoặc làm giảm
cạnh tranh, thì Bộ Quy tắc và luật mẫu về cạnh tranh lại nhấn mạnh đến mục
đích duy trì, củng cố vị trí của doanh nghiệp vi phạm bằng cách ngăn cản
người khác gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh.
Nếu so sánh từ góc độ lý luận, cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh
Canada có vẻ trừu tượng hơn so với khái niệm của Luật mẫu về cạnh tranh,
bởi lẽ việc xác định mức độ sai lệch, giảm hoặc cản trở cạnh tranh không phải
là việc đơn giản, do cạnh tranh là khái niệm phản ánh mối quan hệ ganh đua
trên thương trường nên khó có đại lượng khách quan nào có thể cân đong
được mức độ của quan hệ cạnh tranh một cách chính xác. Trong khi đó, xác
định khả năng duy trì và củng cố vị trí của doanh nghiệp sẽ là đơn giản hơn,
người ta có thể dựa vào những thông số kinh tế, kỹ thuật trên thị trường liên

có quyền lực thị trường, cơ quan có thẩm quyền cần phải phân biệt được hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Bởi trong
pháp luật hạn chế cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi lạm
dụng có một số điểm giống nhau, ví dụ (i) đều có thể do một nhóm doanh


9

nghiệp thực hiện; (ii) nội dung của chúng giống nhau, như: phân chia thị
trường, hạn chế sản xuất, phân phối sản phẩm, hạn chế phát triển khoa học kỹ
`thuật... Tuy nhiên, khi một nhóm doanh nghiệp (với tổng thị phần kết hợp đủ
để thống lĩnh thị trường) thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường để hạn chế cạnh tranh thì giữa họ không có sự thỏa thuận trước.
Ngược lại, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền có đủ chứng cứ chứng minh
rằng đã tồn tại một thỏa thuận trong nhóm doanh nghiệp đó để thực hiện
những hành vi nói trên thì hành vi của họ sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật
chống thoả thuận hạn chế cạnh tranh.
Dấu hiệu thứ hai: Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là những hành vi
được Luật Cạnh tranh liệt kê. Ngoài những khái niệm căn bản mang tính học
thuật về hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung, cần phải gọi tên được từng
hành vi lạm dụng. Dựa vào đó, người ta có thể phân tích bản chất của hành vi
dưới góc độ của lý thuyết, đồng thời trong công tác thực thi pháp luật, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền có thể dễ dàng xác định sự vi phạm bằng cách
đối chiếu các hành vi thực tế với các quy định của pháp luật. Một hành vi của
doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường chỉ bị quy kết là lạm dụng để hạn chế
cạnh tranh khi nó mang đầy đủ các dấu hiệu của một hành vi nào đó đã được
luật quy định là lạm dụng. Khi chưa thể hoặc chưa có đủ chứng cứ cần thiết
để kết luận về việc doanh nghiệp đã thực hiện một trong số các dạng vi phạm
được quy định thì cũng không thể quy kết trách nhiệm về sự lạm dụng [15].
Dấu hiệu thứ ba: Hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là

năng và mức gây thiệt hại của nó đối với thị trường. Theo đó, từng hành vi có
thể làm cản trở, giảm và sai lệch cạnh tranh ở mức độ khác nhau.
Dấu hiệu hậu quả của hành vi là căn cứ để phân biệt hành vi lạm dụng
với hiện tượng tập trung kinh tế (cũng là một loại hành vi hạn chế cạnh tranh).
Tập trung kinh tế được Luật cạnh tranh mô tả thông qua bốn biểu hiện cụ thể
là sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh, là những chiến lược do doanh
nghiệp thực hiện có khả năng hình thành nên các thế lực độc quyền không
thông qua sự tích tụ dần từ hiệu quả kinh tế. Như vậy, nếu mức giảm, sai lệch


11

hoặc hạn chế cạnh tranh mà hành vi lạm dụng gây ra được chứng minh bằng
những lợi ích mà các doanh nghiệp khác, hoặc khách hàng phải gánh chịu, thì
đối với tập trung kinh tế, điều đó được chứng minh bằng những suy đoán là
việc các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh có thể làm
thay đổi cấu trúc và tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị
trường do chúng đã tạo ra doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có quyền lực thị
trường. Nói cách khác, pháp luật chống lạm dụng hướng đến việc cấm đoán
hành vi, còn pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế có nhiệm vụ ngăn chặn khả
năng hình thành các thế lực có quyền lực trên thị trường bằng việc tiến hành
tập trung kinh tế.
1.1.3. Tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh tới cạnh
tranh nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Giống như các hiện tượng khác, thống lĩnh có tác động rất lớn đối với
cạnh tranh nói riêng và nền kinh tế nói chung của mỗi quốc gia, theo cả chiều
hướng tích cực và tiêu cực.
Về mặt tích cực, thống lĩnh góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập
trung các nguồn lực để phát triển, nhất là trong những ngành kinh tế mũi
nhọn. Sau khi đã xác lập được vị trí thống lĩnh, các công ty thống lĩnh thường

trạng thống lĩnh gây ra sẽ là nguyên nhân đưa đến sự lạm phát và gây mất ổn
định nền kinh tế, làm tăng số người thất nghiệp.
Thứ ba, thống lĩnh tạo ra cho các công ty thống lĩnh những khoản thu
nhập bất chính từ lợi nhuận siêu ngạch, góp phần làm gia tăng khoảng cách
giàu nghèo, bất công trong xã hội. Lợi nhuận của các công ty thống lĩnh có
được thực chất là nhờ vào việc hưởng mức chênh lệch quá đáng của giá cả áp
đặt so với giá tự nhiên của hàng hóa, tức là đã bòn rút thu nhập của đại bộ
phận người tiêu dùng bỏ vào túi của một số ít các công ty thống lĩnh, đẩy
những người nghèo đi đến chỗ ngày càng nghèo thêm, còn các công ty thống
lĩnh thì phất lên nhanh chóng.


13

Thứ tư, thống lĩnh còn dẫn đến tình trạng “cửa quyền” hay “đặc quyền”
cho một nhóm người có lợi ích. Thống lĩnh tất yếu sẽ sản sinh ra cơ chế “xin cho”, “ban phát” và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt và sản xuất.
Ngoài ra thống lĩnh còn là bạn đồng hành với tiêu cực và tham nhũng.
Các doanh nghiệp thống lĩnh luôn có xu hướng liên hệ và tranh thủ của các cơ
quan quản lý Nhà nước để bảo vệ vị thế thống lĩnh của mình. Điều này làm
xuất hiện nguy cơ tham nhũng, tha hóa trong bộ máy công quyền. Kinh
nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, khi các Cheabol vượt ra ngoài tầm kiểm soát,
chúng quay trở lại mua chuộc, lôi kéo các quan chức nhà nước, gây nên nạn
tham nhũng trầm trọng [21, tr 84]. Ở Việt Nam hiện nay cũng vậy, trong bối
cảnh dư luận xã hội đang lên tiếng mạnh mẽ phản đối tình trạng thống lĩnh,
độc quyền nhà nước, để duy trì vị trí thống lĩnh, các doanh nghiệp thống lĩnh
phải tìm cách “nuôi” bộ máy công quyền, mua chuộc những nhà chức trách có
thẩm quyền để họ lên tiếng bảo vệ sự thống lĩnh của mình. Một số vụ án kinh
tế lớn được đưa ra xét xử trong thời gian qua có liên quan đến các quan chức
cao cấp trong bộ máy Nhà nước đã phần nào chứng minh cho điều này.


trong khu vực thị trường nhất định. Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định thị
trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý
liên quan. Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những
hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và
giá cả; thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó, có
những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh
tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận. Kinh nghiệm
thực thi pháp luật của các nước trên thế giới đã cho thấy, việc điều tra và xác
định thị trường liên quan có rất nhiều nội dung cần làm rõ. Trong đó tập trung
vào những vấn đề sau:
+ Thị trường địa lý liên quan.
Việc xác định khu vực không gian liên quan được thực hiện dựa trên
quan điểm của người sử dụng về khả năng thay thế cho nhau của những sản


15

phẩm được sản xuất hoặc được mua bán tại những địa điểm khác nhau. Nếu
người đang sử dụng sản phẩm được bán hoặc được sản xuất tại một địa điểm
nhất định chuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác để phản ứng
lại việc tăng giá đáng kể trong một thời gian đủ dài, khi đó hai địa điểm được
xem xét nằm trong khu vực địa lý mà các sản phẩm có thể thay thế cho nhau,
nói cách khác là chúng có cùng thị trường địa lý liên quan và ngược lại.
Theo quy định của Luật cạnh tranh, thị trường địa lý liên quan là: (i)
khu vực địa lý cụ thể có sự hiện diện của những sản phẩm có khả năng thay
thế cho nhau; (ii) có sự tồn tại của các điều kiện cạnh tranh tương tự trong
khu vực đó; (iii) giữa khu vực đó với các khu vực lân cận tồn tại những sự
khác biệt về điều kiện cạnh tranh. Khu vực địa lý là những vùng thị trường
được đo bằng khoảng cách không gian, bao gồm địa điểm mà tại đó những
sản phẩm có thể thay thế cho nhau được phân phối cho khách hàng, có thể là

thể xảy ra.
+ Thị trường sản phẩm liên quan.
Khả năng thay thế cho nhau phản ánh mức độ cạnh tranh giữa các sản
phẩm khác nhau. Bởi lẽ, khi các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, tức là
chúng cùng phục vụ cho một nhu cầu của thị trường. Trong thị trường hiện
đại, sự đa dạng của nhu cầu thị trường đã kéo theo sự phân hóa, dị biệt hóa
các sản phẩm, các dòng sản phẩm. Thậm chí các doanh nghiệp sản xuất cùng
loại sản phẩm cũng đã và đang cố gắng tạo ra cho sản phẩm của mình sự khác
biệt nhất định so với sản phẩm của người khác. Do đó, sẽ có nhiều khó khăn
cho việc tìm kiếm khả năng thay thế cho nhau giữa các sản phẩm. Thông
thường, Luật Cạnh tranh của các nước không quy định thế nào là khả năng
thay thế cho nhau của sản phẩm mà chỉ đưa ra ba tiêu chí để xác định, đó là
đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả của sản phẩm. Kế thừa những kinh
nghiệm đó, Luật Cạnh tranh và chủ ý lập pháp của nhà làm luật Việt Nam khi
chi tiết hóa Luật Cạnh tranh đã đưa ra hai căn cứ để xác định khả năng thay
thế của sản phẩm là (i) tính chất của sản phẩm thể hiện thông qua hai tiêu chí
đầu tiên nói trên và (ii) phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi giá


17

cả của các sản phẩm có liên quan. Tính chất của sản phẩm được thể hiện bằng
việc phân tích các đặc tính lý hóa và mục đích sử dụng.
Theo đó, các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho nhau về mục
đích sử dụng, về đặc tính nếu như chúng có mục đích sử dụng, có nhiều tính
chất vật lý, tính chất hóa học, tác động phụ với người sử dụng giống nhau. Nói
cách khác, các sản phẩm được coi là cạnh tranh với nhau khi tính chất của nó
giống nhau. Dưới góc độ khoa học, có hai nội dung cần phải xem xét là: Thứ
nhất, mục đích sử dụng là những yếu tố cơ bản được nhìn nhận dưới con mắt
của người sử dụng. Các sản phẩm cho dù có khác nhau nhưng nếu có chung

Hàng hóa dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về giá cả
nếu trên 50% của lượng ngẫu nhiên trong tổng số 1000 người tiêu dùng sinh
sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng
hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa dịch vụ
họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa,
dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong sáu tháng liên tiếp.
Trường hợp số người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan quy
định tại điểm này không đủ 1000 người thì lượng mẫu ngẫu nhiên được xác
định tối thiểu bằng 50% tổng số người tiêu dùng. Trong đó trường hợp cần
thiết, cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có thể
xác định thêm nhóm người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan
không thể chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính sử dụng, mục
đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định
sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa dịch vụ đó tăng lên quá 10% và
đươc duy trì trong sáu tháng liên tiếp.
Có thể thấy hướng giải quyết hai vấn đề đã nói trên mà các nhà làm luật
Việt Nam đưa ra là, mức độ tăng giá thể hiện ở mức tăng lên quá 10% (không
khống chế tối đa) so với giá bán lẻ hiện tại và thời hạn tăng giá là 6 tháng liên
tiếp (không phải là tăng giá quá độ); đồng thời, số lượng khách hàng có thể
thay đổi nhu cầu tiêu dùng là trên 50% của 1000 số mẫu thống kê ngẫu nhiên
từ người tiêu dùng trên thị trường thực tế.


19

1.2.2 Xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
Điều 11 Luật cạnh tranh năm 2004 quy định:
- Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị
phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế
cạnh tranh một cách đáng kể;

doanh số của tất cả các doanh nghiệp cùng trên một thị trường liên quan; (ii)
doanh thu hoặc doanh số của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp bị điều tra
theo Điều 9 Nghị định 116/2006/NDD-CP Doanh thu, doanh số mua vào đối
với một loại hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp được xác định theo quy định
của pháp luật về thuế, chuẩn mực kế toán Việt Nam. Ngoài ra Nghị định còn
quy định một số trường hợp xác định doanh thu, doanh số mua vào đối với
nhóm doanh nghiệp liên kết trực tiếp về tổ chức và tài chính; doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm; tổ chức tín dụng tại các Điều 10, 11 và 12.
Dưới góc độ lý thuyết, thị phần là một tiêu chí quan trọng để xác định
sự thành công của nhà kinh doanh trên thị trường, là tỷ lệ chiếm hữu thị
trường liên quan của doanh nghiệp. Vì thế, pháp luật của nhiều quốc gia coi
thị phần như một căn cứ cơ bản và quan trọng để xác định vị trí thống lĩnh. Sự
khác nhau trong pháp luật của các nước chủ yếu là ấn định mức thị phần mà
doanh nghiệp chiếm giữ để được coi là có quyền lực thị trường. Ví dụ, ở
Vương quốc Anh, một doanh nghiệp được xem là có vị trí thống lĩnh khi mua
hoặc bán 25% trở lên của một loại hàng hóa, trong nước hoặc trên một khu
vực nhất định. Trong khi đó, luật của Mông cổ và Ucraina cho rằng vị trí
thống lĩnh của một hoặc một nhóm công ty chỉ xuất hiện khi chúng chiếm trên
50% mức cung ứng của một loại sản phẩm nào đó; mức Liên bang Nga đưa
ra là 65% [18, tr 52, 53]
Luật cạnh tranh của Việt Nam đưa ra bốn mức thị phần tương ứng với
số lượng doanh nghiệp là 30% (nếu là một doanh nghiệp); 50% (2 doanh
nghiệp); 65% (3 doanh nghiệp); 75% (4 doanh nghiệp). Cơ sở để đề xuất mức
thị phần như trên là dựa vào thực tiễn thị trường Việt Nam, trong đó, có đến
96% doanh nghiệp tham gia kinh doanh là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó,


21

số doanh nghiệp có được thị phần từ 30% trở lên không phải là nhiều. Hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status