Pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THỊ HỒNG NGHĨA

PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

HÀ NỘI - 2012




MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......….......………..……………………. .......….......………..…...

1

CHƯƠNG 1


21

1.2.1. Các nguyên tắc chung trong việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi
suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại .......….......…....

21

1.2.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với lãi suất trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại ….......….......………..……….....…...

23

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ..........

29

2.1.1. Giới hạn điều chỉnh của pháp luật đối với lãi suất trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam ……………............……

29

2.1.2. Đánh giá thực trạng pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thương mại ở Việt Nam ………….....…………......................



62

KẾT LUẬN .......….......………..……………………. .......….......………..…

67

TÀI LIỆU THAM KHẢO ….......….......………..……………………..…….

68

Phụ lục ………….......….......………..……………………….......…..............

71


Đại học luật Hà Nội

1

Luật kinh tế

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử nhân loại, lãi suất ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ, vì xét
về bản chất thì lãi suất chính là “giá cả” của việc sử dụng tiền tệ thông qua giao dịch
cho vay. Tuy nhiên, chỉ đến khi hệ thống ngân hàng hình thành và phát triển, các
giao dịch của ngân hàng được các tổ chức, cá nhân trong xã hội sử dụng thường
xuyên thì lãi suất mới thực sự thể hiện được hết tầm quan trọng của mình. Trong
giai đoạn hiện nay, khi hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đều hướng về mô hình

2

Luật kinh tế

luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM được thể hiện như thế nào?
Giải pháp nào cho việc nâng cao tính hiệu quả của việc điều hành lãi suất trong hoạt
động kinh doanh của NHTM?... Tất cả những câu hỏi này có thể được trả lời thông
qua việc nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thương mại ở Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu về các hoạt động của NHTM ở Việt Nam rất phong
phú, cả tài liệu tiếng Việt lẫn tài liệu tiếng nước ngoài.
Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về lãi suất dưới góc độ kinh tế như:
Cuốn sách Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính của PGS. TS Lê Văn Tư, do Nhà
xuất bản Tài chính xuất bản năm 2004; cuốn sách Lãi suất trong nền kinh tế thị
trường – Phương pháp luật và thực hành của Nguyễn Bá Nha do Nhà xuất bản
thống kê xuất bản năm 1997; các bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí Ngân hàng
ví dụ bài viết: “Tác động của chính sách lãi suất đối với nền kinh tế” của tác giả Lê
Trang đăng trên Số 15(8/2011) - Tạp chí Ngân hàng nhà nước (trang16 – 19); các
bài viết về những diễn biến của lãi suất đăng trên các trang báo mạng, ví dụ Bài viết
Lãi suất tiết kiệm lại vượt trần của tác giả H.Sương đăng trên website
vào năm 2011...
Thứ hai, những công trình nghiên cứu đề cập đến một nội dung nhỏ của lãi
suất dưới góc độ pháp lý như: Bài viết Thoả thuận về lãi suất giữa các ngân hàng và
pháp luật cạnh tranh của Th.S Nguyễn Thanh Tú, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập

pháp số 02/2005 (trang 56-64). Tuy nhiên, bài viết chỉ tập trung vào một nội dung
rất nhỏ trong quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM đó là quy
định về cạnh tranh; Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp biên

- Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về lãi suất trong hoạt động
kinh doanh của NHTM ở nước ta.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện dựa trên nguyên tắc sử dụng kết hợp
các phương pháp chủ yếu trong khoa học xã hội như phương pháp phân tích, so
sánh và tổng hợp, khảo sát và khái quát hóa...
Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá thực trạng pháp luật về lãi
suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam.
Phương pháp so sánh được sử dụng khi đối chiếu quy định của pháp luật Việt
Nam với pháp luật của các nước khác trên thế giới khi sử dụng lãi suất là công cụ
điều hành chính sách tiền tệ.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc đánh giá khái quát, rút ra kết
luận về từng vấn đề trong phạm vi nghiên cứu, cũng như đưa ra các kiến nghị để
hoàn thiện pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Với việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về lãi suất trong hoạt động kinh doanh
Phạm Thị Hồng Nghĩa

Luận văn thạc sĩ luật học


Đại học luật Hà Nội

Luật kinh tế

4

của ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, luận văn có một số điểm mới sau:
- Góp phần xây dựng hệ thống lý luận chung về lãi suất trong hoạt động kinh
doanh của NHTM ở Việt Nam ở phương diện các quy định pháp luật.

thương mại
1.1.1.1. Lịch sử hình thành lãi suất
Theo giả định, từ thời cổ đại, cùng với sự xuất hiện của tiền thì con người bắt
đầu tính lãi cho khoản vốn mình đầu tư mặc dù người ta có thể vay mượn nhiều thứ
khác ngoài tiền. Khi trao đổi hàng hóa đã trở lên phổ biến, các khoản tín dụng đầu
tiên được áp dụng đối với lương thực. Ví dụ: một người nông dân cho người khác
vay một lượng ngũ cốc và được trả lại một lượng ngũ cốc lớn hơn.
Hoạt động của những người cho vay (người có một khoản nợ phải đòi) đã làm
cho “lãi suất ngân hàng” trở thành một hiện tượng quan trọng nhất trong thế giới
hiện đại và cũng là vấn đề gây tranh cãi nhất trong quá khứ. Thu lãi đã được các nhà
triết học Hi Lạp cổ đại biết đến và sự phản đối kịch liệt của họ đã ảnh hưởng mạnh
mẽ đến thái độ đối với lãi suất trong thời kỳ Trung cổ ở cả Châu Âu và thế giới Hồi
giáo. Lập luận của những nhà Ngụy biện có một logic rất lạ, theo họ, tiền không có
giá trị nội tại, vì nó không tồn tại trong giai đoạn thế giới được tạo ra. Vì nó không
có giá trị nội tại, nên người sở hữu tiền không mất gì khi cho vay tiền. Do đó, người
cho vay không thể đặt ra yêu cầu là sẽ có doanh thu từ việc đầu tư là cho vay. Vì
vậy, không thể nghĩ đến lãi suất.
Theo quan điểm của Giáo hội, những người cho vay tiền đã phải chịu sự phản
đối kịch liệt không ngừng khi vừa bắt đầu, vì vậy, họ đã phải tạo ra mô hình tín
dụng mới để tránh các khoản vay trực tiếp. Trong đó, thành công nhất là những
người đổi tiền của nước Ý vào thế kỷ 14 được gọi là những chủ ngân hàng (theo
tiếng Ý “banco” – là cái bàn). Thay vì những khoản vay trực tiếp, họ cung cấp hối
phiếu. Giao dịch như vậy là bán một loại tiền để lấy loại tiền khác, được trả vào thời
gian đã thỏa thuận. Cùng lúc đó ở Ý và Pháp có quan hệ kinh tế mạnh mẽ. Điều này
Phạm Thị Hồng Nghĩa

Luận văn thạc sĩ luật học


Đại học luật Hà Nội

đã cho ra đời ngành nghề mới liên quan đến tiền. Cùng với sự phát triển của việc
kinh doanh ngân hàng, đã có sự xuất hiện của những người môi giới, những người
này chuyên mua và bán mọi thứ - từ bất động sản đến cổ phần. Các ngân hàng cần
nhiều tiền hơn nữa, và cùng thời gian đó một hệ thống gửi tiền đã được thiết lập, vì
vậy bất kỳ ai cũng có thể trở thành người gửi tiền và sống bằng tiền lãi [23].
1.1.1.2. Khái niệm lãi suất và lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân
Phạm Thị Hồng Nghĩa

Luận văn thạc sĩ luật học


Đại học luật Hà Nội

Luật kinh tế

7

hàng thương mại
Để hiểu đúng bản chất của lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại, cần bắt đầu từ việc làm rõ khái niệm lãi suất.
Về phương diện lý luận, có thể tiếp cận khái niệm lãi suất từ nhiều góc độ
khác nhau, trong đó chủ yếu là sự tiếp cận từ góc độ kinh tế và góc độ pháp lý.
Dưới góc độ kinh tế: Vấn đề bản chất của lãi suất từng được thể hiện rõ rệt
nhất thông qua sự phân tích của các nhà kinh tế học. Trong khuôn khổ giới hạn của
luận văn này, người viết chỉ tập trung giới thiệu quan điểm về lãi suất của
J.M.Keynes và K. Marx.
Theo J.M.KEYNES (1883-1964), “lãi suất là khoản thù lao cho việc mất khả
năng chuyển hoán trong một thời gian nhất định”, là phần thưởng cho việc từ bỏ
việc giữ tiền mặt. Nếu khoản thù lao cho việc không sử dụng tiền mặt giảm xuống,
thì tổng lượng tiền mặt mà dân chúng muốn giữ lớn hơn mức cung tiền mặt và nếu

hội vay; hoặc ngược lại các tổ chức, cá nhân trong xã hội cho các TCTD vay) –
chính là lãi suất.
Khi phân tích về nguồn gốc và bản chất của lãi suất, K.Marx cho rằng: Tiền là
tư bản ngay từ khi nó được cho vay nhằm mục đích thu lợi nhuận. Nhưng khi
chuyển từ người cho vay sang người đi vay thì tiền chưa đẻ ra lợi nhuận được. Tiền
đi vay phải trở thành tư bản hoạt động mới tạo ra lợi nhuận. Như vậy, về thực chất,
lợi tức chỉ là một phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bản hoạt động thu được nhờ
sử dụng tư bản cho vay, trả cho chủ sở hữu tư bản cho vay, tức là một phần của lợi
nhuận trung bình mà các nhà tư bản công, thương nghiệp thu được khi sử dụng tư
bản cho vay vào hoạt động sản xuất – kinh doanh thu lợi nhuận, trả cho nhà tư bản
cho vay [15, tr.284, 285].
Theo Từ điển quản lý tài chính, ngân hàng, lãi suất được định nghĩa là “khoản
tiền thù lao trả cho việc sử dụng một số vốn nhất định, đó là giá thuê của đồng tiền”
[20, tr.225].
Trong nền kinh tế thị trường, ngoại trừ những khoản cho vay giữa các cá nhân
với nhau mang tính tương trợ vì mục đích tiêu dùng, hầu hết các khoản cho vay đều
có phát sinh lãi và khoản lãi này được tính theo một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định
trên số vốn đã cho vay (gọi là lãi suất). Về lý thuyết, lãi suất là yếu tố phản ánh “thu
nhập” của người có vốn cho vay, nhưng cũng đồng thời được coi là “chi phí” của
người vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người khác. Vì thế, trong hạch toán kế
toán, bên vay bao giờ cũng đưa các khoản lãi phải trả vào chi phí sản xuất kinh
doanh (gọi là chi phí vốn) để từ đó đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh của
mình. Giống như bất kỳ loại hàng hóa nào khác, lãi suất – với tư cách là giá cả của
dịch vụ thuê vốn hay dịch vụ cho vay, luôn luôn vận động theo các nguyên tắc và
quy luật của thị trường, bao gồm nguyên tắc thỏa thuận, nguyên tắc tối đa hóa lợi
ích và tối thiểu hóa chi phí; các quy luật cơ bản như quy luật cạnh tranh, quy luật
giá trị, quy luật cung cầu…
Có thể nhận thấy, quan điểm của các nhà kinh tế chính trị học về lãi suất chính
là cơ sở để khoa học pháp lý đưa ra định nghĩa về lãi suất.
Dưới góc độ pháp lý: Các luật gia cho rằng lãi suất phản ánh một quan hệ

các bên cùng tự giác thực hiện.
Từ khái niệm về lãi suất như đã phân tích ở trên, có thể rút ra nhận định rằng
lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM là thuật ngữ chỉ các loại lãi suất
phát sinh trong hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng của NHTM. Lãi suất trong
hoạt động kinh doanh của NHTM thường được hiểu bao gồm hai nhóm: Lãi suất
huy động vốn (ví dụ: lãi suất tiền gửi, lãi suất trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền
gửi ngân hàng, lãi suất tái cấp vốn...); lãi suất cấp tín dụng (ví dụ: lãi suất cho vay,
lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu...).
Như vậy, có thể hiểu lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM là khoản
tiền mà NHTM phải trả cho khách hàng khi huy động vốn hoặc được trả bởi khách
hàng khi cấp tín dụng cho khách hàng theo hợp đồng.
1.1.1.3. Vai trò của lãi suất
Phạm Thị Hồng Nghĩa

Luận văn thạc sĩ luật học


Đại học luật Hà Nội

Luật kinh tế

10

Vai trò của lãi suất được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản như sau:
Thứ nhất, đối với NHNN, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông
qua công cụ lãi suất, NHNN thực hiện chức năng điều chỉnh kinh tế vĩ mô nhằm đạt
được các mục tiêu chiến lược phát triển của đất nước, đó là:
- Kiểm soát giá cả trên thị trường: Bằng cách tăng lãi suất, NHNN có thể làm
yếu đi khả năng cho vay của các NHTM, và khối lượng tiền cần thiết cho việc mở
rộng sản xuất kinh doanh và chi tiêu của người tiêu dùng giảm bớt. Do đó, số lượng


11

Luật kinh tế

có hiệu quả của các doanh nghiệp, bù đắp chi phí và đem lại lợi nhuận cho NHTM.
Vai trò này thể hiện ở chỗ:
- Doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng phải hoàn trả đúng kì hạn cả vốn lẫn
lãi, để có nguồn vốn trả nợ, doanh nghiệp phải quan tâm thực sự đến kết quả sản
xuất kinh doanh của mình. Trong trường hợp, hoàn trả nợ không đúng kì hạn, lãi
suất quá hạn cao hơn lãi suất đúng hạn nên các doanh nghiệp phải cố gắng kinh
doanh tốt để trả nợ đúng hạn. Hoạt động của NHTM là huy động vốn để cho vay, do
đó, ngân hàng phải tính toán mức lãi suất cho vay và đi vay hợp lý để bù đắp các
khoản chi phí nghiệp vụ và có lợi nhuận cho mình.
- Lãi suất chính là công cụ để cạnh tranh giữa các NHTM: Chính sách lãi suất
hiện hành là trần lãi suất huy động và lãi suất cho vay là lãi suất thỏa thuận. Tuy
nhiên, nền kinh tế hiện tại của Việt Nam đang phát triển theo hướng thị trường nên
do yêu cầu của quy luật cạnh tranh, mọi thành phần kinh tế đều có sự cạnh tranh
quyết liệt vì sản phẩm tiêu thụ, giá bán, phương thức phục vụ, dịch vụ bán hàng…
Đứng vững được trong quá trình cạnh tranh đó là điều không đơn giản. Với phương
châm “đi vay để cho vay”, hoạt động huy động và sử dụng vốn của ngân hàng có
liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, các NHTM đều phải đổi mới phương thức phục
vụ và huy động vốn để huy động được vốn tối đa đồng thời cũng phải đẩy mạnh cho
vay. Ngoài ra, các NHTM cũng cần phấn đấu hạ thấp chi phí, tạo cơ sở hạ thấp lãi
suất”đầu ra” để thu hút được nhiều khách hàng đến mở tài khoản và vay.
Tóm lại, vai trò của lãi suất đối với đời sống kinh tế, xã hội là điều không thể
phủ nhận. Tuy nhiên, để hiểu được rõ hơn về bản chất của lãi suất, thiết nghĩ cần có
những nghiên cứu, phân tích thỏa đáng về từng loại lãi suất trong hoạt động kinh
doanh của NHTM.
1.1.2. Các loại lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Trên nguyên tắc, để đảm bảo có lãi trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của
NHTM thì lãi suất huy động vốn phải luôn thấp hơn lãi suất cho vay. Về vấn đề
này, PGS.TS Lê Văn Tư có nêu quan điểm như sau: “lãi suất cho vay phải bao gồm
tất cả các chi phí huy động vốn, bù đắp cả chi phí quản lý và thực hiện khoản cho
vay, trang trải được các loại rủi ro, lãi suất cho vay phải chứa đựng phần lợi nhuận
hợp lý” [16, Tr. 441].
Thứ hai, nếu căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn, lãi suất được phân chia thành
lãi suất ngắn hạn, lãi suất trung hạn và lãi suất dài hạn.
- Lãi suất ngắn hạn áp dụng cho những khoản tín dụng có thời hạn sử dụng
vốn dưới 12 tháng.
- Lãi suất trung hạn áp dụng cho những khoản tín dụng có thời hạn sử dụng
vốn từ 12 tháng đến 60 tháng.
- Lãi suất dài hạn áp dụng cho những khoản tín dụng có thời hạn sử dụng vốn
trên 60 tháng.
Trên nguyên tắc, do mức lãi suất luôn tỷ lệ thuận với thời hạn sử dụng vốn nên
lãi suất ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất trung hạn và lãi suất trung hạn lại thấp
hơn lãi suất dài hạn. Mức chênh lệch của các loại lãi suất này thường phụ thuộc vào
Phạm Thị Hồng Nghĩa

Luận văn thạc sĩ luật học


Đại học luật Hà Nội

Luật kinh tế

13

mức độ rủi ro mà bên cung ứng vốn phải chịu trong thời gian sử dụng vốn, bởi lẽ
thời hạn cho vay càng dài thì rủi ro càng cao và do đó lãi suất phải cao tương ứng.


Luận văn thạc sĩ luật học


Đại học luật Hà Nội

Luật kinh tế

14

dụng lớn hơn cầu tín dụng thì lãi suất sẽ hạ xuống. Ngược lại, nếu cung tín dụng
nhỏ hơn cầu tín dụng thì lãi suất sẽ tăng lên. Chính vì cung cầu tiền tệ tác động trực
tiếp đến lãi suất nên nhà nước có thể sự dụng yếu tố này để điều chỉnh lãi suất cho
phù hợp với chính sách tiền tệ nhà nước đang thi hành.
Thứ hai: Tỷ lệ lạm phát tiền tệ trong nền kinh tế.
Lãi suất chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhân tố này vì sự biến động của tỷ lệ lạm
phát sẽ kéo theo sự biến động của giá trị tiền tệ. Do đó, lạm phát có thể tác động tới
lãi suất do những hiệu ứng của nó lên lượng tiền có thể huy động và lượng tiền có
thể cho vay. Theo M.Friedman, trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước
là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng
tiền tệ là cực kỳ cao. Ngược lại, nếu lạm phát thấp thì các tổ chức, cá nhân trong xã
hội sẽ giữ tiền thay vì tích trữ hàng hóa, vàng, ngoại tệ, và có thể họ sẽ dụng tiền đó
để cho vay thu lãi. Đồng thời, sẽ có nhiều nguồn vì đã giữ tiền trong tay nên sẽ
không có nhu cầu vay tiền có nghĩa là cầu tiền tệ giảm còn cung tiền tệ tăng, do đó
lãi suất giảm. Do đó, nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm
phát nhất định sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất.
Thứ ba: Tác động của tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế cũng có tác động rất lớn đến lãi suất. Cụ thể là, nếu kinh
tế được dự báo sẽ tăng cao thì các tổ chức, cá nhân trong xã hội sẽ chỉ bớt một phần
tiền nhất định để sử dụng, còn phần lớn tiền sẽ dùng để đầu tư, thậm chí dùng toàn

cung, do đó lãi suất giảm.
- Chính sách tiền tệ, với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng
trung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của một
quốc gia. Với công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt động của
nền kinh tế vĩ mô bằng các phương pháp: Quy định lãi suất cho thị trường; hoặc sử
dụng các công cụ của chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt
buộc, tỷ giá hối đoái...
- Chính sách thu nhập, đó là chính sách về giá cả và tiền lương. Nếu mức giá
cả giảm và cung tiền tệ không thay đổi, giá trị của đơn vị tiền tệ theo giá trị thực tế
tăng, bởi vì nó có thể dùng để mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn. Do vậy cũng
như ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung tiền tệ khi mức giá được giữ cố định,
làm lãi suất giảm. Ngược lại một mức giá cao hơn làm giảm cung tiền tệ theo giá trị
thực tế, làm tăng lãi suất. Bên cạnh đó, yếu tố cấu thành quan trọng nhất của cho phí
sản xuất là chi phí tiền lương tăng sẽ làm chi phí sản xuất tăng, làm giảm lợi nhuận
theo đơn vị sản phẩm tại một mức giá cả, giảm nhu cầu đầu tư, cầu tiền tệ giảm, lãi
suất giảm.
- Chính sách tỷ giá, bao gồm các biện pháp liên quan đến việc hình thành quan
hệ về sức mua giữa tiền của nước này so với một ngoại tệ khác, nhất là đối với các
ngoại tệ có khả năng chuyển đổi. Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh
doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa của một nước. Cụ thể, khi nhà nước tăng tỷ giá
ngoại tệ sẽ làm tăng giá của hàng hóa nhập khẩu, dẫn đến tăng chi phí đầu vào của
các xí nghiệp, giá hàng hóa trong nước tăng lên, lợi nhuận giảm, nhu cầu đầu tư
giảm, cầu tiền tệ giảm nên lãi suất giảm. Mặt khác khi tỷ giá ngoại tệ tăng, lượng
Phạm Thị Hồng Nghĩa

Luận văn thạc sĩ luật học


Đại học luật Hà Nội


hàng quá cao nên mục tiêu cơ bản vẫn là huy động từ dân cư thông qua lãi suất huy
động. Để đơn giản cho việc khảo sát, giả sử chỉ có hai NHTM là A và B và khách
hàng chỉ có thể gửi tiền vào hai ngân hàng này. Diễn biến của “trò chơi” như sau:
Do ai cũng nghĩ rằng NHNN sẽ không bao giờ làm ngơ khi có một NHTM nào
đó mất khả năng thanh toán và trên thực tế chưa có NHTM nào phải rơi vào tình
Phạm Thị Hồng Nghĩa

Luận văn thạc sĩ luật học


Đại học luật Hà Nội

17

Luật kinh tế

trạng như thế thật, vì vậy khách hàng sẽ gửi tiền vào NHTM nào có lãi suất cao
hơn. Như thế NHTM A và B phải đứng trước lựa chọn, có tăng lãi suất hay không?
Có thể dễ dàng thấy rằng nếu A và B cùng tăng lãi suất thì hai ngân hàng sẽ chịu
thiệt, tức là sẽ huy động được với giá cao. Nhưng nếu một trong hai quyết định tăng
và ngân hàng kia giữ nguyên thì ngân hàng tăng sẽ thu hút được vốn với giá cao,
còn ngân hàng giữ nguyên sẽ không huy động được vốn. Nhưng nếu cả hai cùng giữ
nguyên lãi suất thì lợi ích chia đều cho cả hai, tức huy động được với giá rẻ nhưng
chậm. Rõ ràng với A hay B thì lựa chọn tăng lãi suất là “chiến lược áp đảo” của trò
chơi này, là chiến lược tối ưu bất kể bên kia quyết định thế nào. Vì vậy, cả A và B
đều chọn chiến lược áp đảo này và cùng nhau tăng lãi suất là điều hợp lý và điểm (1,-1) là điểm “cân bằng” của trò chơi. Điều đó nói lên rằng nếu để cho hai NHTM
này tự do đưa ra quyết định thì điểm (-1,-1) là kết cục cuối cùng của trò chơi mặc
dù ở đó lợi ích của cả hai không phải là tối ưu. Nếu hai NHTM này cùng “bắt tay”
không tăng lãi suất để cùng nhau có lợi ích = 1, tức là huy động được vốn với giá rẻ
nhưng chậm. Đây là kết cục tối ưu nhưng do đây là trò chơi có kết thúc (khi các

Từ những phân tích ở trên, việc các NHTM tăng lãi suất là hoàn toàn dễ hiểu
và có thể dự đoán được. Nhưng kết quả của việc này là gây ra những bất ổn tạm
thời trong hệ thống ngân hàng, nên việc hạn chế các cuộc đua như thế là hoàn toàn
cần thiết, đây cũng chính là cơ sở để xây để xây dựng các giải pháp để hoàn thiện
quy định về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam [9].
1.1.4.2. Vấn đề hiệu quả của việc tăng, giảm lãi suất dưới góc độ lý thuyết về
chi phí giao dịch
Mục đích của lý thuyết về chi phí giao dịch là để nghiên cứu lý do khiến các
thành viên trong xã hội phải phối hợp với nhau trong khi trên thị trường, giá cả
quyết định việc mua bán giữa các nguồn lực, cạnh tranh quyết định mọi thứ. Và đó
là vì việc trao đổi bằng giá tốn một số chi phí gọi là chi phí giao dịch. Điều này
khiến mọi người muốn tiếp tục kết hợp với nhau hơn là để giá cả chi phối.
Tìm hiểu về chi phí giao dịch trước tiên ta cần tìm hiểu định lý Coase, Coase
phát biểu định lý: việc bảo vệ quyền sở hữu sẽ không cần thiết nếu chi phí giao dịch
bằng không hay nhỏ. Nếu chi phí giao dịch quá lớn, các bên không thể thỏa thuận
được với nhau, mỗi bên sẽ phải dùng quyền sở hữu để bảo vệ quyền lợi của mình.
Từ định lý trên, Coase phát biểu định lý tiếp theo: quyền sở hữu chỉ là một trong
những biện pháp nhằm kiểm soát quyền lợi của một chủ thể kinh doanh chứ không
phải là một quyền tự nhiên. Các biện pháp khác có thể là thỏa thuận hay bồi thường
thiệt hại. Như vậy, thực thi quyền sở hữu không phải lúc nào cũng là phương pháp
bảo vệ quyền tối ưu. Muốn biết một phương pháp bảo vệ quyền có phải là tối ưu
hay không, cần phải xem xét đến chi phí giao dịch. Quyền sở hữu có thể là giải
pháp bảo vệ quyền lợi tối ưu khi chi phí giao dịch để hòa giải hay thỏa thuận với
người xâm phạm là lớn. Chi phí giao dịch là chi phí xác lập và bảo vệ quyền sở
hữu, như chi phí thông tin tìm kiếm tài sản, chi phí thực thi quyền sở hữu, chi phí
thảo luận để trao đổi tài liệu... (Allen 1971). Nếu không có cạnh tranh, lấn chiếm,
trao đổi, thì chi phí giao dịch bằng không. Marx cũng cho rằng khi quyền sở hữu
được xóa bỏ (loài người tiến lên chủ nghĩa cộng sản – hay nói theo Coase – chi phí
giao dịch bằng không), thì nguồn lực trong xã hội được phân bổ có hiệu quả nhất.
Phạm Thị Hồng Nghĩa

quyết định hành chính thay vì dùng các công cụ khác như tác động vào thị trường
mở thì có vẻ đơn giản hơn rất nhiều. Tuy nhiên, xét ở góc độ lý thuyết về chi phí
giao dịch thì thấy chi phí giao dịch bị đẩy lên. Bởi vì, khi thay đổi chính sách lãi
suất bằng công cụ hành chính, thì Nhà nước đã ở vị thế nắm thông tin và có những
ưu thế mà các TCTD cũng như các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội không thể có
được. Điều này cũng có nghĩa chi phí giao dịch sẽ là lớn và đồng thời Nhà nước và
các TCTD cũng như các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội không thể thỏa thuận
được với nhau và mỗi bên sẽ phải dùng quyền sở hữu để bảo vệ quyền lợi của mình
thay. Trong quá trình các bên bảo vệ quyền lợi của mình, trong khi Nhà nước sử
dụng biện pháp hành chính cứng nhắc để tăng hoặc giảm lãi suất, thì thu hút khách
hàng NHTM sẽ tìm cách “lách luật” do NHTM này rơi vào tình trạng nếu không
“lách luật” sẽ không thể có đủ vốn để hoặc động hoặc không thể cấp tín dụng được.
Phạm Thị Hồng Nghĩa

Luận văn thạc sĩ luật học


Đại học luật Hà Nội

20

Luật kinh tế

Tuy nhiên, rất có thể hành động “lách luật” của NHTM sẽ bị Nhà nước phát hiện và
xử phạt. Nếu như thiệt hại từ hành vi “lách luật” của NHTM là rất lớn thì hoạt động
của NHTM này sẽ bị ảnh hưởng, và sau đó, sự suy yếu của NHTM tác động tiêu
cực đến thị trường tiền tệ và nền kinh tế. Như vậy, xét ở phạm vi trong cả xã hội thì
việc sử dụng công cụ hành chính sẽ có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
1.1.4.3. Vấn đề hiệu quả của việc tăng, giảm lãi suất dưới góc độ lý thuyết
cân bằng lợi ích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status