MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay các NHTM Việt Nam đang phải đương đầu với rất nhiều loại rủi ro
trong hoạt động kinh doanh, như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi
ro tỷ giá… Để bảo vệ các ngân hang khỏi mất mát, thiệt hại về tài chính mà chính các
ngân hang cũng không thể dự đoán được; chuẩn bị cho những thay đổi bất lợi có thể
xảy ra; đồng thời tăng lợi thế cạnh tranh cho các ngân hang, các ngân hang phải hiểu
và quản lý rủi ro một cách có hiệu quả.
Rủi ro lãi suất (RRLS) là một trong những rủi ro cơ bản của hoạt động ngân
hang. Với cơ chế lãi suất thỏa thuận được chính phủ ban hành trong 10 năm trở lại
đây, đã mở ra cho các ngân hang thương mại (NHTM) cơ hội cũng như thách thức lớn
trong hoạt động kinh doanh. Những năm gần đây chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế nước ta nói chung, các NHTM nói riêng gặp rất
nhiều khó khăn, đặc biệt là sự biến đổi liên tục của lãi suất cũng như tình trạng chạy
đua lãi suất đã khiến cho nhiều NHTM Việt Nam phải chịu thiệt hại và bị suy giảm
khả năng sinh lợi. Mặc dù các NHTM đã nhận thức được vấn đề này nhưng chưa ngân
hang nào có được hệ thống quản lý rủi ro lãi suất một cách hoàn thiện và hiệu quả.
Đây là một vấn đề đáng lo ngại không chỉ đối với mỗi NHTM mà còn đối với cả Ngân
hang Nhà nước Việt Nam (NHNN VN) bởi nếu tiếp tục không kiểm soát được rủi ro
do sự biến động lãi suất gây ra thì các ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất rất lớn, ảnh
hưởng đến sự an toàn trong kinh doanh của ngân hàng, cũng như sự an toàn của cả hệ
thống. Chính vì thế mà em chọn đề tài “Rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh
của ngân hang thương mại và biện pháp phòng ngừa”
1
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1. Lãi suất:
1.1. Khái niệm lãi suất:
Trên thị trường hàng hóa, các loại hàng hóa dịch vụ được mua bán thông qua giá
cả, nhưng trên thị trường tài chính hàng hóa là quyền sử dụng vốn và giá cả ở đây là
phải trả số tiền vay.
Lãi suất Coupon: là lãi suất mà việc trả lãi được thực hiện tại thời điểm cuối
của kỳ hạn. Với các công cụ trả lãi Coupon người đi vay khi nhận nợ nhận dược toàn
bộ số tiền món vay tại thời điểm bát đầu của kì vay. Do vậy tại ngày đáo hạn người đi
vay phải trả số tiền vay cộng với lãi.
Phân loại theo cấp độ của lãi suất: Lãi suất cơ bản và lãi suất liên ngân hàng
Lãi suất cơ bản: là lãi suất cho vay đối với các khách hàng có uy tín trên thị
trường. Các công ty có độ tín nhiệm cao sẽ có khả năng vay từ ngân hàng với lãi suất gần
với lãi sất cơ bản, trong khi các khách hàng có độ tín nhiệm thấp hơn phải trả lãi suất cao
hơn lãi suất cơ bản để phản ánh rủi ro tín dụng cao hơn. Lãi suất cơ bản luôn gần với lãi
suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, do NHTW công bố và quản lý chặt chẽ.
Lãi suất liên ngân hàng: tại các trung tâm tài chính trên thế giới, lãi suất liên
ngân hàng thường niêm yết làm cơ sở cho việc vay và cho vay tiền trên thị trường liên
ngân hàng- thị trường bán buôn. Lãi suất được biết đến nhiều nhất là lãi suất trên thị
trường London LIBOR. Tại Việt Nam có lãi suất VNIBOR (Vietnam Interbank
Offered Rate), được tính toán dựa trên một số ngân hàng tiêu biểu của quốc gia.
Ngoài ra lãi suất có thể phân theo nhiều cách khác như:
Theo phương pháp quản lý lãi suất: Lãi suất cố định – Lãi suất thả nổi
Theo phương pháp tính lãi:Lãi suất đơn- Lãi suất kép
Theo độ dài thời gian: Lãi suất ngắn hạn- trung hạn- dài hạn
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng của ngân hang thương mại:
a. Chính sách điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước:
NHTW có thể tác động tới lãi suất thông qua rất nhiều cơ chế bao gồm:
- Dùng các công cụ ngắn hạn( thay đổi mức dự trữ bắt buộc, thay đổi lãi suất
chiết khấu)
- NHTW thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu: mỗi khi lãi suất tái chiết
khấu thay đổi có xu hướng làm tăng hay giảm chi phí cho vay của NHTW đối với
NHTM và các tổ chức tín dụng do đó cản trở hay khuyến khích nhu cầu vay vốn, làm
thay đổi lượng vay của ngân hang, tức lượng tiền cung ứng của ngân hang cho nền
kinh tế và cuối cùng sẽ làm thay đổi mức lãi suất tín dụng.
100 triệu cho vay được trả và 200 triệu tiền đi vay phải trả: khoản gốc thu được chỉ đủ
trang trải 50% nhu cầu chi trả ( ảnh hưởng của lãi coi như bẳng không). Đối với khoản
cho vay 1 năm ngân hàng thu được : Chênh lệch lãi suất = 10%-6%=4%
Để có tiền trả 100 triệu còn lại, NH cần vay thêm 100 triệu trên thị trường liên
ngân hàng. Như vậy, ngân hàng phải tài trợ như trên được gọi là tái tài trợ: Là tình
trạng trong đó kì hạn của tài sản dài hơn kì hạn của nguồn tiền. Chênh lệch lãi suất mà
ngân hang thu được phụ thuộc vào lãi suất mà ngân hàng phải trả khi tái tài trợ. Nếu
lãi suất trên thị trường liên ngân hang không đổi, chênh lệch lãi suất thu được của
khoản chovay 2 năm là : Chênh lệch lãi suất =11%-6%=5%
Ngân hàng sẽ thu được 5%/năm, trong cả hai năm. Khilãi suất trên thị trường liên
ngân hàng giảm, chênh lệch lãi thu được năm thứ hai sữ lớn hơn 5% và khi lãi suất
tăng, chênh lếch lãi suất thu được sẽ giảm thậm chí có thể ngân hàng còn bị lỗ.
4
Năm1: Chênh lệch lãi suất thu được từ 200 triệu cho vay là:
[(10%-6%)100+(11%-6%)100] =9/200 = 4,5%
Năm 2: Gỉa sử lãi suất trên thị trường giảm 1%. Do khoản cho vay với lãi suất cố
định nên ngân hàng vẫn chỉ thu được lãi suất như năm 1. Kì hạn đi vay trên thị trường
liên ngân hàng chỉ là mọt năm, do vậy vào năm thứ hai, lãi suất được đặt lại, chỉ cọn
5%, vậy chênh lệch lãi suaats thu được năm thứ hai :
Chênh lệch lãi suất = 11% -5% = 6%
Bình quân mỗi năm ngân hàng thu được chênh lệch : (4,5%+1%) =5,25%
Giả sử lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng thêm 4% , chênh lệch lãi suất
năm thứ hai là : 11% -10% =1%
Bình quân môĩ năm ngân hàng thu được chênh lệch là :(4,5%+1%) =2,75%
Tại sao ngân hạng lại dùng nguồn có kì hạn ngắn để cho vay với kị hạn dàihơn ?
Một lí dolà ngân hàng kì vọng sẽ thu được chênh lệch lãi suất cao hơn. Nếu ngân hàng
cho vay với kì hạn như huy động , chênh lệch lãi suấtthu được là : 10%-6% = 4%.
Khi thay đổi kì hạn ngânhàng thất rằng chênh lệch lãi suất năm 1 chắc chắn sẽ
cao hơn, đạt 4,5%, tuy nhien, chênh lệch lãi suất năm 2 lại chưa chắc chắn, tuỳ thuộc
vào mực độ và xu tướng thay đổi của lãi suất thị trường.
b. Sự thay đổi của lãi suất thị trường ngoài dự kiến của ngân hang:
Lãi suất thị trường thường xuyên thay đôỉ. Ngân hàng luôn nghên cứu và dự báo
lãi suất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp ngân hàng không thẻ dự báo chính xác
mức độ thay đổi của lãi suất.
Nếu ngân hàng duy trì Khe hở lãi suất dương:
-Khi lãi suất trên thị trường tăng, chênhlếch lãi suất tăng;
-Khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lếch lãi suất giảm;
Nếu ngân hang duy trì Khe hỏ lãi suất âm:
-Khi lãi suất trên thị trường tăng, chênh lệch lãi suất giảm;
-Khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất tăng;
c. Ngân hang sử dụng lãi suất cố định:
Việc sử dụng lãi suất cố định sẽ làm cho các hoạt động của ngân hang trở nên bị
động và gặp khó khăn khi lãi suất trên thị trường thay đổi. Điều này làm ảnh hưởng rất
lớn đến lợi nhuận của ngân hang. Nếu như lãi suất thị trường tăng lên trong khi ngân
hang vẫn huy động với lãi suất cũ, thấp hơn lãi suất thị trường thì khách hang sẽ nhanh
chóng chuyển sang gửi tiền ở các ngân hang khác có lãi suất cao hơn, trong khi đó, lãi
suất cho vay thấp hơn các ngân hang khác sẽ thu hút các doanh nghiệp cá nhân cần
vốn nhưng ngân hang lại không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu cho vay, dẫn đến bị mất
khách hang. Tình trạng này cũng là cho khả năng thanh khoản của ngân hang bị giảm
sút, rủi ro kinh doanh tăng cao.
2.4. Các hoạt động gây rủi ro lãi suất ở ngân hang thương mại:
a. Hoạt động huy động vốn:
6
Đây là trường hợp rủi ro khi ngân hàng huy động quá nhiều tiền gửi có kì hạn
dài, lãi suất cao nhưng sau đó lãi suất thị trường lại giảm xuống do điều hành của
chính phủ hay do quan hệ cung cầu…. Ví dụ như trường hợp điều tiết lãi suất của
NHNN vào những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 cũng khiến nhiều ngân hàng
gặp phỉ rủi ro lãi suất.
b. Hoạt động cho vay:
Rủi ro trong hoạt đông cho vay là loại rủi ro có ảnh hưởng khá lớn và thường xuyên
Trước hết, kì hạn trên thường là do khách hàng đi vay và gửi tiền quyết định.
Thứ hai, sự thay đổi của các loại lãi suất rất khác nhau và mức độ nhạy cảm của
nguồn và tài sản đối với lãi suất cũng khác nhau.
Thứ ba, sự khác biệt về nguồn và tài sản nhạy cảm có thể tạo thu nhập cao hơn
cho ngân hàng. Khi duy trì khe hở nhạy cảm khác không, nếu lãi suất thay đổi theo
hướng phù hợp, thu nhập của ngân hàng sẽ tăng. Giả sử lãi suất thay đổi với mức độ
nào đó không có lợi cho ngân hàng, mức độ giảm thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ tỷ
lệ thuận với quy mô khe hở lãi suất.
3.2. Sự thay đổi của lãi suất thị trường:
Trong trường hợp ngân hàng đang duy trì khe hở lãi suất dương, tức là ngân
hàng dự đoán lãi suất sẽ tăng. Nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm cùng tăng như
nhau, ngân hàng sẽ có lợi; nếu chúng giảm xuống với cùng mức đội, chênh lệch lãi
suất của ngân hang sẽ giảm, làm giảm thu nhập từ lãi suất.
Trong trường hợp ngân hàng đang duy trì khe hở lãi suất âm tức là ngân hàng dự
đoán lãi suất sẽ giảm. Nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm lại tăng với cùng mức độ,
chênh lệch lãi suất của ngân hàng sẽ giảm, làm giảm thu nhập từ lãi suất. Như vậy, trạng
thái tài sản và nguồn( tạo nên khe hở lãi suất ) không phải là yếu tố duy nhất gây nên ruỉ
ro lãi suất. Trạng thái trên được kết hợp với thay đổi của lãi suất ngoài mong muốn của
nhà quản lí ngân hàng sẽ gây nên rủi ro lãi suất. Do khả năng dự đoán thay đổi lãi suất là
có hạn trước thay đổi của môi trường kinh doanh, khe hở lãi suất trở thành yếu tố đo rủi
ro lãi suất tiềm năng. Nếu khe hở lãi suất càng lớn rủi ro cũng càng lớn.
Ví dụ: Một ngân hàng đang có trạng thái nhạy cảm với lãi suất như sau( số dư
bình quân trong kì , đơn vị tỷ đồng, lãi suất bình quân %/ kì):
Tài sản Số dư Lãi suất Nguồn Số dư Lãi suất
Tài sản nhạy cảm 80 5 Nguồn nhạy cảm 120 4
Tài sản kém nhạy
cảm
120 7 Nguồn kém nhạy cảm 80 6
Chênh lệch lãi suất của ngân hàng trong kì:
(80x5%+ 120x7%-120x4%-80x6%)x100/200 =1,4% (số tuyệt đối là 2,8)
-Cho vay ngắn hạn
80
20
10
50
4
2
6
Nguồn nhạy cảm:
Trong đó:
-Tiền gửi thanh toán
-Tiền gửi có kì hạn ngắn
-Tiết kiệm ngắn hạn
120
30
30
60
3
4
5
Hiện tại, chênh lệch thu chi từ lãi của ngân hàng là :
20x4%+ 10 x2% + 50x6%+ 120x7% - 30x3%- 30x4%- 60x5%- 80 x6% = 2,5
Chênh lệch lãi suất của ngân hàng là : 2,5 x100/200 =1,25%
Khi lãi suất tăng cùng mức độ, do khe hở lãi suất âm, thu nhập từ lãi sẽ giảm.
Song nếu mức lãi suất thay đổi không giống nhau thì tổn thất có thể rất lớn,hoặc ngược
lại ngân hàng có thể được lợi.
Giả sử lãi suất thị trường dự tính thay đổi như sau :
9
+ Chứng khoán ngắn hạn tăng thêm 0.3%;
+ Tiền gửi tại các ngân hàng tăng thêm 0,2%;
10
ngân hàng khác để trả, thoả thuận lại với ngân hang để giảm lãi suất ghi trong hợp
đồng… Khi tình trạng cho vay trở nên khó khăn, các ngân hàng buộc phải chấp nhận
yêu cầu của khách . Thực tế này tạo ra tổn thất cho ngân hàng.
5. Phương pháp xác định rủi ro lãi suất:
5.1. Phân tích khoảng cách:
Phân tích khoảng cách là chênh lệch giữa tổng số tài sản có loại nhạy cảm với lãi
suất và tổng số tài sản nợ loại nhạy cảm với laĩ suất.
Chẳng hạn, nhìn vào bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại như ví dụ
trên ta có khoảng cách là 30-50+-20. Bằng cách nhân khoảng với thay đổi lãi suất,
chúng ta có kết quả đối với lợi nhuận của ngân hàng: khi lãi suất tăng 5%lợi nhuận
ngân hàng thay đổi –5% x(-20)=-1 triệu đồng; khi lãi suất giảm 5% , lợi nhuận ngân
hàng thay đổi -5%x (-20)=+1 triệu đồng.
Thuận lợi của phương pháp này là rất đơn giản, chúng ta dễ dàng thấy được mức
độ rủi ro của ngân hàng trước rủi ro lãi suất.
Tuy nhiên trên thực tế ta thấy không phải tất cả tài sản có và tài sản nợ của ngân
hàng có cùng một kỳ hạn thanh toán. Bởi vì do tính chất hoạt động của ngân hàng là
gặp nhiều rủi ro nên ngân hàng phải đa dạng hoá nhưng khoản mục tài sản có, đồng
thời cũng do việc huy động vốn của ngân hàng thường mang tính bị động nên những
khoản mục tài có và tài sản nợ có cùng kỳ hạn thanh toán. Như vậy để lượng định một
cách chính xác hưon rủi ro lãi suất thì ta sử dụngphương pháp gọi là phân tích khoảng
thời gian tồn tại
5.2. Phân tích khoảng thời gian tồn tại:
Phân tích khoảng thời gian tồn tại dưạ trên khái niệm về khoảng thời gian tồn tại
của Macaulay, nó lượng định khoảng thời gian sống trung bình của đồng tiền thanh
toán của một chứng khoán . Khoảng thời gian tồn tại là một khái niệm rất hữu ích vì
nó mang lại một xấp xỉ tốt tính nhạy cảm của giá trị thị trường của một chứng khoán
đố với một thay đổi về lãi suất của nó. Thay đổi tính bằng phần trăm về giá trị thị
trường của chứng khoán thay đổi phần trăm về lãi suất khoảng thời gian tồn tại trong
năm. Sự phân tích khoảng thời gian tồn tại liên quan đến việc sánh khoảng thời gian
MW
1
.
và ML =
∑
=
n
j
LjLj
MW
1
.
Trong đó: W
Ai
: tỷ trọng của TSC i trong tổng TSC (giá trị tính theo giá thị
trường)
W
Lj
: tỷ trọng của TSN j trong tổng TSN (giá trị tính theo giá thị trường)
M
Ai
: kì hạn đến hạn của TSC i
M
Lj
: Kì hạn đến hạn của TSN j
Mức chênh lệch kì hạn = M
A
- M
L
Công thức trên nói lên kì hạn đến hạn của một danh mục TSC hoặc TSN bằng tỷ
giảm kết quả kinh doanh của ngân hàng, thậm chí nếu lãi suất biến động mạnh thì
ngân hàng có thẻ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Hạn chế của mô hình kỳ hạn đến hạn:
Bởi vì mô hình kỳ hạn đến hạn không đề cập đến yếu tố thời lượng của các luồn
tài sản có và tài sản nợ, cho nên mô hình này còn có khiếm khuyết nhất định. Tuy
nhiên, do có ưu điểm là trực quan, nên đã được các ngân hàng sử dụng khá phổ biến,
điều này cũng phù hợp với ngân hàng Việt Nam hiện nay đang trong quá trình chuyển
đổi tiến tới hiện đại hoá.
6.2. Mô hình thời lượng:
Mô hình thời lượng là phương pháp đo lường sự nhạy cảm của giá (giá trị của
vốn) của khoản đầu tư có thu nhập cố định tới sự thay đổi của lãi suất thị trường.
Thời lượng của một tài sản là thước đo kỳ hạn thực tế của một tài sản sinh lời,
được xác định trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó. Thời lượng TSC thực chất là thời
gian trung bình cần thiết để thu hồi khoản vốn đã đầu tư. Thời lượng TSN xác định
thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả khoản vốn đã huy động
D =
∑
∑
=
=
N
t
N
t
PVt
tPVt
1
1
.
Trong đó: D: Thời lượng của tài sản
A
=
∑
DAiXAi.
Trong đó: DAi: thời lượng của tài sản có thứ i
XAi: tỷ trọng của tài sản có thứ i
D
L
=
∑
DLiXLi.
Trong đó: DLi: thời lượng của tài sản có thứ i
X Li: tỷ trọng của tài sản có thứ i
Áp dụng các công thức trên ta có công thức đo lường thiệt hại của NH trước sự
biến động của lãi suất như sau:
Trong đó: k =
A
L
là tỷ lệ vốn huy động trên tổng tài sản có của NH, gọi là tỷ lệ
đòn bẩy k
Các tình huống xảy ra:
(D
A
– kD
L
) > 0 i tăng => E giảm
(D
A
– kD
L
của NH sẽ thay đổi và đây chính là lý do khiến NH phải tính toán và điều chỉnh lại
thời lượng TSC và TSN để đảm bảo chính xác trong việc đo lường RRLS.
6.3. Mô hình định giá lại:
Mục đích: Đo lường mức độ biến động thu nhập lãi ròng của NH trước sự thay
đổi của lãi suất thị trường.
Nội dung: Phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị kế toán nhằm xác
định chênh lệch giữa tiền lãi thu được từ TSC và lãi phải thanh toán cho vốn huy động
sau một khoảng thời gian nhất định.
Cách thức: Phân loại TSC và TSN của NH thành hai nhóm: nhóm nhạy cảm với
lãi suất và nhóm không nhạy cảm với lãi suất dựa trên tiêu chí mức độ biến động của
thu nhập (chi phí) lãi khi lãi suất thị trường thay đổi.
TSC nhạy cảm lãi suất (RSA) là những tài sản có thể định giá lại khi lãi suất thị
trường thay đổi: các khoản cho vay và chứng khoán sắp đáo hạn, chuẩn bị gia hạn
hoặc đến kỳ điều chỉnh lãi, các khoản cho vay với lãi suất thả nổi…
TSN nhạy cảm lãi suất (RSL) là những nguồn vốn được định giá lại khi lãi suất
thị trường thay đổi: những khoản tiền gửi sắp đến hạn phải trả, đến kỳ điều chỉnh lãi,
những khoản tiền gửi với lãi suất thả nổi…
15
Sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất (Δ net interest income)
ΔNII = GAP x Δi
Với: Chênh lệch TSC và TSN nhạy cảm với lãi suất
GAP = RSA - RSL
Trong đó: ΔNII: Mức độ thay đổi thu nhập lãi ròng từ lãi suất
GAP: Chênh lệch tài sản có và tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất
Δi: Mức độ thay đổi lãi suất
RSA: Tài sản có nhạy cảm lãi suất
RSL: Tài sản nợ nhạy cảm lãi suất
Trong mỗi giai đoạn (ngày, tuần, tháng …) khi giá trị TSC nhạy cảm lãi suất lớn
hơn giá trị TSN nhạy cảm lãi suất tạo nên khe hở lãi suất dương, khi giá trị TSC nhạy
cảm lãi suất nhỏ hơn giá trị TSN nhạy cảm lãi suất tạo nên khe hở lãi suất âm.
cảm với lãi suất lại biến động với cùng giá trị khi lãi suất thị trường biến động => mức
độ nhạy cảm của khoản mục TSC và TSN là khác nhau.
Thứ hai, hiệu ứng giá của thị trường. Sự thay đổi của lãi suất thị trường không
chỉ ảnh hưởng đến thu nhập mà còn tác động đến giá trị tài sản của NH. Mô hình định
giá lại chỉ dựa trên giá trị ghi sổ của tài sản, không tính đến giá trị thị trường của
chúng, do đó, mô hình này chỉ phản ánh một phần RRLS đối với NH.
Thứ ba, vấn đề kỳ định giá tích lũy. Giả sử TSC và TSN trong cùng một nhóm kỳ
hạn đến hạn có thể có giá trị bằng nhau nhưng TSC được định giá lại tại thời điểm đầu
của kỳ định giá lại trong khi TSN được định giá lại tại thời điểm cuối của kỳ định giá
lại. Rõ ràng trong trường hợp này kỳ hạn đến hạn của tài sản và nợ là không cân xứng.
Tuy nhiên theo mô hình định giá lại thì coi như không có vần đề gì với thu nhập lãi
ròng. Nếu như kỳ định giá lại càng mau thì hạn chế của kỳ định giá tích lũy càng giảm.
Thứ tư, vấn đề tài sản đến hạn. Một trong các giả định của mô hình định giá lại
là toàn bộ các khoản cho vay sẽ được hoàn trả khi đến hạn. Trên thực tế, NH thường
quy định các khoản cho vay được hoàn trả theo định kỳ và KH có thể trả nợ trước hạn.
Do đó, mô hình này không thể phản ánh chính xác những tác động của lãi suất đến thu
nhập lãi ròng của NH.
Với những hạn chế trên đây có thể nói mô hình định giá lại chỉ đánh giá được một
cách cơ bản nhất sự thay đổi của thu nhập lãi ròng khi lãi suất thị trường thay đổi.
7. Biện pháp hạn chế rủi ro lãi suất:
7.1. Phòng ngừa lãi suất bằng các mô hình đo độ rủi ro lãi suất:
Ứng dụng mô hình kỳ hạn đến hạn.
Giả sử trạng thái ban đầu của bảng cân đối tài sản của ngân hàng như sau:
Tài sản có Tài sản nợ
17
Tài sản 100 -vốn huy động 90
-vốn tự có 10
Tổng tài sản 100 Tổng nguồn vốn 100
Tài sản có có thời hạn trung bình là 2 năm mức sinh lời là 10%/ năm, tài sản nợ
có thời hạn trung bình là 1năm với mức lãi suất huy động là 9%/ năm.
= -20.
18
Giả sử lãi suất kỳ hạn 3 tháng tăng 1%/năm, mức thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất của
nhóm 1 sẽ là: -20 x 0.01= -0.2 tỷ đồng.
Qua ví dụ này ta thấy khi lãi suất thay đổi sẽ làm ảnh hưởng đến thu nhập và chi
phí từ lãi suất, tức là mức thay đổi ròng của thu nhập từ lãi suất.
Ứng dụng mô hình thời lượng
Mô hình thời lượng có thể được dùng để đánh giá rủi ro lãi suất một cách tổng
thể thông qua đo lường mức chênh lệch về thời lượng của tài sản có và tài sản nợ và từ
đó xác định ảnh hưởng sự biến động lãi suất đến sự thay đổi giá trị của tài sản.
Trạng thái của bảng cân đối tài sản khi lãi suất hiện hành là 10%/năm như sau
(giả sử lãi suất ngân hàng cho vay bằng lãi suất huy động):
Bảng cân đối tài sản của ngân hang
Đơn vị: 1000 tỷ đồng
Tài sản có Tài sản nợ
Tài sản 100 - Vốn huy động 90
- Vốn tự có 10
Tổng tài sản 100 Tổng nguồn vốn 100
Ngân hàng tính toán được DA = 4 năm và DL = 2 năm.
Khi lãi suất tăng 1% thì các cổ đông phải chịu một khoản lỗ:
∆E=-(4-0,9.2).100.0,01/1,10= -2
Như vậy, nếu lãi suất thị trường tăng 1% thì ngân hàng dự tính một khoản lỗ là
2.000 tỷ đồng.
Để có thể giảm được thiệt hại về tài sản nhà quản trị phải điều chỉnh chênh lệch
thời lượng giảm xuống.
7.2. Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm hạn chế rủi ro lãi suất:
7.2.1. Sử dụng các hợp đồng phái sinh
Việc sử dụng các biện pháp truyền thống như trên để phòng ngừa RRLS đôi khi
gây ra tốn kém không nhỏ cho NH. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài
chính, xuất hiện các giải pháp tiện lợi hơn cho NH sử dụng để phòng ngừa RRLS: các
), theo đó bên mua cam kết nhận và bên bán cam kết gửi một số tiền nhất
định và bằng một loại tiền nhất định trong khoảng thời gian từ t
1
đến t
2
nằm trong
tương lai với một lãi suất ấn định.
Giả sử NH dự đoán lãi suất sẽ tăng trong thời gian tới, NH thực hiện mua hợp
đồng kỳ hạn tiền gửi. Khi hợp đồng kỳ hạn đến hạn và lãi suất thị trường tăng như dự
báo NH được lợi vì huy động được vốn với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường. Tuy
nhiên tiền gốc thường được bù trừ và không có sự giao nhận khoản tiền này trên thực
tế, giá trị khoản tiền gốc chỉ có ý nghĩa khi tính toán các khoản lãi.
•Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (FRA): Là một hợp đồng trong đó thỏa thuận rằng
20
một lãi suất nhất định sẽ áp dụng cho một khoản vốn trong một khoản thời gian nhất
định trong tương lai.
Đây là thỏa thuận giữa hai bên tại thời điểm t
0
trong đó bên mua cam kết nhận và
bên bán cam kết gửi một số tiền hư cấu nhất định bằng một loại tiền nhất định theo
một lãi suất nhất định tại một thời gian trong tương lai.
Nguyên tắc phòng ngừa rủi ro lãi suất của hợp đồng kỳ hạn lãi suất cũng giống
như hợp đồng kỳ hạn.
7.2.2. Nghiệp vụ phòng chống thế đoản
Giả sử lãi suất trên thị trường được dự tính sẽ tăng lên, làm tăng chi phí huy động
tiên gửi hay chi phí vay vốn trên thị trường tiền tệ của một ngân hang và đồng thời sẽ
làm giảm giá tri các trái phiếu hay các khoản cho vay lãi suất cố định mà ngân hàng
hiên có hay dự định mua. Trong trường hợp nay, nghiệp vụ phòng chống thế đoản có
thể được sử dụng. Nhà quản lý ngân hàng sẽ tham gia hợp đồng tương lại bán chứng
khoán (tức là cho phép ngân hàng bán chứng khoán )vào khoảng thời gian khi những
bảo vệ nhằm chống lại tổn thấ do lai suất thị trường giảm, đặc biệt khi ngân hàng đang
dự tính có một dòng tiên vào sắp xuất hiện. Ví dụ, nhà quản lý ngân hàngdự tính rằng
quy mô tiền gửi sẽ tăng đáng kể trong vài tuân hay vài tháng tới nhưng lãi suất thị
trướng sẽ có thể giám xuống. Động thái này sẽ mang lại lợi thế cho ngân hàng xét trên
quan điểm chi phí vốn, nhưng ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự sụt giảm trong khả
năng sinh lợi và trong thu nhập ròng. Nết nhà quản lý ngân hàng không tiến hanh các
biên pháp phòng chống rủi ro và nếu dự đoán nói trển trở thành hiẹn thực thì ngân
hàng sẽ phải chịu tổn thất lớn bởi vì lượng tiền gửi dự tính tăng them sẽ đượcđầu tư
vào các khoản tín dụng và các chứng khoán có tỷ suất gửi dự tính tăng thêm sẽ được
đầu tư bào các khoản tín dụng và các chứng khoán có tỷ suất sinh lời thấp. Để bù đắp
tổn thất tiềm năng này, nhà quản lý có thể sử dụng nghiệp vụ phòng chống thế trường
có nghĩa răng ngân hàng sẽ mua hợp đồng tương lai ngay hôm nay (cho phép ngân
hàngmua chứng khoán ) và sau đó được bán vào thời điễm xuất hiện dòng tiền gửi
(nhằm triệt tiêu vị thế). Kết quả , hơp đồng tương lai mang lại khoản lợi nhuậnnếu lãi
suất giảm, bởi vì giá trị hợp đồng đã tăng lên.
Nhà quản lý dự đoán răng trong vong 6 tháng tơi lãi suất sẽ giảm xuống và đe doạ
lợi nhuận của ngân hàng do lãi suất của các khoản tín dụng giảm tương đối so với lãi suất
tiền gửi và các chi phí hoạt động khác . Hon nữa, nguồn vón của ngân hàng có thể sẽ phải
chiu những tỏn thất lớn hon . nhà quản lý quyết định sử dụng phương án sau:
22
- Thời điểm hiện tại: Mua hợp đồng trên thị trường tương lai, ngân hàng cam két
mua một số chứng khoán nhất định(chăng hạn tín phiếu kho bạc) tại mức giá định
trước cho 6 tháng sau.
- Sau 6 tháng : Ngân hàng sẽ bán một hợp đồng với quy mô tương tự.
Kết quả: Hai hợp đồng sẽ triệt tiêu nhau trên tài khoản của ngân hàng tại trung
tâm thanh toán bù trừ của Sở giao dịch và do vậy ngân hang không phải thực hiên
trách nhiệm giao hay nhân chứng khoán .Tuy nhiên, nếu lãi suất giam trong suốt thoi
gian tồn tại 6 tháng , ngân hàng sẽ nhận được một mức giá cao hơn so với mức giá
mua chứng khoán cùng loại tại thời điểm 6 tháng trước. Do vậy, lợi nhuận được tao ra
trên thị trường tương lai và sẽ bù đắp một phân hay toàn bộ tổn thất về thu nhập do lãi
nguồn trung hạn).
- Kết qủa:
Bảng cân đối của hai ngân hàng không thay đổi , song : B sẽ trả lãi suất thì
trường + 1% để huy động vốn trên thị trường công them (+)10% tra choA để có nguồn
trung hạn; A sẽ trả 10% để huy động vốn trên thị trường và cộng thêm ( lãi suất thị
trường –0,75% )cho B để có nguồn ngắn hạn; B sẽ tiết kiệm : 12% -10% - ( lãi suất thị
trường +1%) +(lãi suất thị trường –0,75% ) =0,25%
A tiết kiệm được : 10% -10% +lãi suất thị trường –(lãi suất thị trường – 0,75%) =
0,755
Nếu lãi suất thay đổi, rủi ro của bên này sẽ được bù đắp bởi thu nhập của bên kia.
Hoán đổi lãi suất là kĩ thuật tương đối phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải nghiên
cứu kĩ lưỡng xu hướng và mức độ thay đổi có thể của lãi suất. Trong nhiều trường
hợp, hai ngân hàng hoán đổi phải nhờ ngân hàngtrung giánắp xếp . Chi phí hoán đổi
cao hay thấp phu thuộcvao dự tính của mỗi bênvà làm tăng chiphícủangân hang . Nếu
dự đoán của ngân hàng sai, hoán đổi lãi suất có thể gây tổnthất cho ngân hàng.
7.2.5. Lãi suất trần, sàn và sự kết hợp:
Phương pháp phòng chống rủi ro quen thuộc nhất được các ngân hàng và khách
hàng sử dụng rộng rãi đó là lãi suất trần, lãi suất sàn và sự kết hợp trần –sàn.
7.2.5.1. Trần lãi suất:
Lãi suất trần được sử dụng để chống lại những tổnt thất do lãi suất thị trường
tăng. Người vay được đảm vảo ràng tổ chức cho vay sẽ không tăng lãi suất của khoản
tín dụngvượt quá mưcs trần. Còn có một cách lựa chọn khác đó là : Người vay có thể
mua mộthợp đồng về trần. Ví dụ, nếu ngân hàng mua một hợp đồng lãi suất trần là
24