BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ DIỆU THÚY
QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA CÔNG DÂN
VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp
Mã số: 60 38 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Văn Động
HÀ NỘI - 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS. TS. Nguyễn
Văn Động, giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội – người đã dành nhiều
thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Đồng thời, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo tham gia giảng dạy
lớp Cao học Luật khóa XV, Khoa Sau đại học và Ban Giám hiệu trường
Đại học Luật Hà Nội.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp cơ quan Ban Tôn giáo Chính phủ - những người đã tạo mọi
công dân Việt Nam
1.3. Những điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện quyền tự do tín
23
ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam
Chương 2: Thực trạng và những giải pháp bảo đảm quyền tự do tín
29
ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
2.1. Thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân
29
ở Việt Nam
2.2. Những giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công 57
dân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
73
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền dân sự và
chính trị cơ bản của con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về
nhằm bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trên
thực tế.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của công dân Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn" làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình, với mục đích góp phần khắc phục những hạn chế trong
nghiên cứu khoa học về bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của công dân trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi Nhà nước ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,
vấn đề quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo được nhận thức một cách đầy đủ, khách quan hơn, việc quan tâm
nghiên cứu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng được coi trọng và thúc đẩy.
Đã có một số công trình nghiên cứu như:
- Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị, tập thể tác giả, chủ biên:
GS. TS. Hoàng Văn Hảo - TS. Chu Hồng Thanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1997, 288 trang. Sách đề cập đến những vấn đề lý luận về quyền con
người về dân sự và chính trị; phân tích quyền con người về dân sự và chính trị
trong các Hiến pháp Việt Nam và việc thực hiện quyền đó trên thực tế Việt
Nam. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thuộc nhóm quyền dân sự và chính
trị, vì vậy cuốn sách này là nguồn tư liệu quý để tác giả tham khảo trong quá
trình thực hiện luận văn.
- Tuyên ngôn thế giới và hai công ước 1966 về quyền con người, tập thể
tác giả, Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị
4
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002, 240 trang. Nội dung cuốn sách đề cập
đến những vấn đề cơ bản liên quan trực tiếp đến Tuyên ngôn thế giới về nhân
quát, ngắn gọn và dễ hiểu một số vấn đề cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt
Nam, sự lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực
thù địch và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện
nay.
- Ban Tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
(sách trắng), Hà Nội, 2009, 85 trang. Cuốn sách này đã giúp cho tác giả hiểu
rõ, đầy đủ và toàn diện hơn về tình hình tôn giáo và chính sách của Nhà nước
Việt Nam đối với tôn giáo.
- Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn,
PGS.TS Đỗ Quang Hưng, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008, 447 trang.
Sách đã hệ thống lại những nét chủ yếu của vấn đề lý luận và thực tiễn trong
công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước; quá trình Đảng, Nhà nước ta xây
dựng, phát triển và hoàn thiện đường lối, chính sách tôn giáo qua các giai
đoạn lịch sử, chủ yếu sau cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay, giúp tác giả
có cái nhìn toàn diện, hệ thống về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta qua các thời kỳ lịch sử.
3. Nhiệm vụ, mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn có những nhiệm vụ, mục tiêu sau đây:
- Phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận của quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của công dân Việt Nam gồm: khái niệm, đặc điểm và những điều kiện
bảo đảm cho việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân
Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của công dân ở Việt Nam được nêu rõ trong quan điểm, chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà nước và thành tựu bảo đảm quyền này trên thực tế.
6
- Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá, luận văn cũng
công dân Việt Nam; giúp người đọc nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; quá trình hình thành và phát triển
của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam, tiến trình
luật pháp tôn giáo ở Việt Nam đặc biệt từ năm 1990 đến nay. Luận văn cũng
nêu lên những thành tựu bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của công dân Việt Nam trên thực tế; đồng thời nêu ra một số giải pháp cơ bản
tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam
trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
kết cấu gồm 2 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
công dân Việt Nam.
- Chương 2: Thực trạng và những giải pháp bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM
1.1. QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG CÁC VĂN BẢN
CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ QUỐC TẾ
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của
con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong các
văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của
nhiều quốc gia trên thế giới. Liên hợp quốc đề cao và bảo đảm quyền tự do tín
biểu đó không làm tổn thương đến nền trật tự công cộng đã được pháp luật
ấn định phân minh” [24, tr. 114]. Năm 1905, Luật Phân ly nổi tiếng của nước
Pháp thật sự nói về tự do lương tâm và tự do thờ cúng. Như vậy, cho đến đầu
thế kỷ XX, quan niệm về tự do tôn giáo mới chỉ mang tính quốc gia riêng lẻ.
Trên bình diện quốc tế, mãi đến ngày 10-12-1948, khi Liên hợp quốc thông
qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền thì tự do tôn giáo mới trở thành một
quyền mang tính quốc tế.
Trên phạm vi quốc tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của con người
được ghi nhận trong một số văn bản chính trị - pháp lý của Liên hợp quốc bao
gồm các văn bản mang tính chất tuyên ngôn như Hiến chương của Liên hợp
quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948; các văn bản
mang tính chất pháp lý như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị năm 1966, trong đó, Hiến chương của Liên hợp quốc và Tuyên ngôn nhân
quyền là những văn bản không có tính ràng buộc pháp lý, nhưng có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định các nguyên tắc và định hướng đạo lý, chính trị
của quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.
Công ước là văn bản có tính ràng buộc pháp lý, bao gồm các nội dung cụ thể
10
về quyền con người và các quốc gia chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với
những văn kiện này.
Nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật quốc tế bao
gồm tự do có, theo hoặc thay đổi một tôn giáo hay tín ngưỡng do mình lựa
chọn; tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng
với những người khác, công khai hoặc không công khai dưới các hình thức
như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng.
- Hiến chương của Liên hợp quốc năm 1945, tại phần mở đầu, đã tuyên
bố: “Khẳng định một lần nữa sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân
Để thực hiện được các quyền con người trong lĩnh vực dân sự, chính
trị, xã hội trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Tuyên ngôn đã xác
định các bảo đảm như tôn trọng và thực thi các nguyên tắc “Tất cả mọi người
sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và về các quyền” (Điều 1); “Mỗi
người đều được hưởng tất cả các quyền và tất cả các tự do đã được tuyên bố
trong bản Tuyên ngôn này, không hề có sự phân biệt nào, nhất là sự phân biệt
về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay mọi ý kiến
khác,…” (Điều 2) [24, tr.146]; “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật và có quyền được pháp luật bảo vệ ngang nhau, không phân biệt. Mọi
người đều có quyền được bảo vệ ngang nhau chống lại mọi sự phân biệt đối
xử vi phạm bản Tuyên ngôn này và chống lại mọi điều gây ra sự phân biệt đối
xử ấy” (Điều 7) [24, tr. 148]. Bên cạnh đó, Tuyên ngôn thế giới về nhân
quyền đã đề cập đến những giới hạn trong việc thực hiện quyền này tại Điều
29 như sau:
“1. Cá nhân phải có những bổn phận đối với cộng đồng, chỉ trong đó
nhân cách của mình mới có thể phát triển tự do và đầy đủ. 2. Trong việc thực
hiện các quyền và hưởng thụ các tự do của mình, mọi người chỉ bị giới hạn
bằng luật pháp nào nhằm bảo đảm thừa nhận và tôn trọng các quyền và các tự
do của người khác và nhằm thoả mãn những yêu cầu đúng đắn của đạo đức,
12
trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ. 3. Không một
trường hợp nào, các quyền và tự do ấy có thể được thực hiện trái với những
mục đích và những nguyên tắc của Liên hợp quốc” [24, tr. 158].
- Tuyên bố của Liên hợp quốc năm 1981 về hạn chế tất cả các hình
thức bạo lực và phân biệt vì tôn giáo hoặc tín ngưỡng ra đời thì vấn đề tự do
tôn giáo mới được trình bày hoàn chỉnh hơn. Gần 30 năm qua, văn bản này có
tầm quan trọng hàng đầu trong các công ước quốc tế về việc bảo vệ quyền tự
bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người
khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện,
thực hành và giảng đạo” [24, tr. 242].
Ngoài ra, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, khái
niệm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được bổ sung thêm ba nội
dung, làm cho quan niệm về quyền này rõ ràng và đầy đủ hơn, đó là: không
một ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn
giáo hoặc tín ngưỡng (Khoản 2, Điều 18); quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc
tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những
giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ
hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền tự do cơ bản của người khác
(Khoản 3, Điều 18); các quốc gia thành viên Công ước này cam kết tôn trọng
quyền tự do của các bậc cha mẹ và trong trường hợp có thể áp dụng được,
quyền tự do của những người đỡ đầu hợp pháp trong việc giáo dục tôn giáo và
luân lý cho con cái họ (Khoản 4, Điều 18) [24, tr. 242 - 244].
Bốn nội dung của khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện
tại Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị gắn kết với
nhau trong mối tương quan mật thiết, vừa nói lên được tính phổ quát của
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa “để ngỏ” cho những quốc gia với
những đặc thù riêng có thể thực hiện được. Vì vậy, tính khả thi trong hiện
thực của nó rất cao.
14
Cho đến nay, nhìn tổng quát, đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
các văn bản quốc tế đã quy định: tuyên bố sự tồn tại quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện công khai một mình
hay trong cộng đồng; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn
giáo. Tuy nhiên, các văn bản pháp lý quốc tế cũng khẳng định quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan.
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động của tôn giáo
nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân
dân; không có nghĩa là lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại cách mạng.
Đây là một quyền cơ bản của con người, cần phải được tôn trọng và bảo vệ
không chỉ trong Hiến pháp, pháp luật mà cả trong thực tiễn cuộc sống.
Hai là, người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng,
tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Không ai có quyền bắt người khác phải từ bỏ
tín ngưỡng, tôn giáo mà họ đang theo, hoặc bắt người khác phải theo một tôn
giáo nào đó. Tín đồ và chức sắc các tôn giáo không tuyên truyền lôi kéo, công
kích, chống đối lẫn nhau. Mọi người đều phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của người khác, tôn trọng quyền theo tôn giáo và quyền không theo một
tôn giáo nào của người khác; nghiêm cấm mọi biểu hiện lôi kéo áp đặt, vi
phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Khoản 2, Điều 9 Pháp
lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định: “Trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo,
người có tín ngưỡng, tín đồ có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; thực hiện
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ công dân; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng quy định của pháp
luật” [2, tr. 12].
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt
đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không
có tín ngưỡng tôn giáo đều bình đẳng như nhau trước pháp luật, đều có nghĩa
17
vụ, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi
mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
và phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế về kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội,... trong xã hội. Vì vậy, nó luôn phản ánh bản chất của chế độ
chính trị xã hội và trình độ phát triển của xã hội, thường xuyên biến đổi, phát
triển về nội dung và hình thức cùng với sự biến đổi, phát triển không ngừng
của chế độ chính trị - xã hội chủ nghĩa, chế độ nhân dân lao động làm chủ nhà
nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình và của xã hội nói chung trong
xu thế đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Từ nhận thức nêu trên,
có thể nêu lên một số đặc điểm cơ bản của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của công dân Việt Nam như sau:
Thứ nhất, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam gắn
với các quyền dân tộc cơ bản là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn
lãnh thổ, trong đó giành được độc lập, tự do cho đất nước chính là điều kiện
để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Đặc điểm này
phản ánh tư tưởng cách mạng triệt để của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng
ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân
dân chỉ có thể thực sự được đảm bảo khi cả dân tộc ta đã dành được quyền tự
do và độc lập. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không tách rời với vận mệnh
dân tộc, vận mệnh đất nước. Vì vậy, ngay sau khi nước nhà độc lập, trong
phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 03-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ
đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta
tuyên bố tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” [21, tr. 9] .
19
Trong thời kỳ dân tộc ta bị thực dân Pháp thống trị, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định rằng, nếu đất nước không được độc lập, đồng bào các tôn
giáo cũng không có tự do, vì thế, đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc là
liền với nền tự do, độc lập của Tổ quốc là một tất yếu khách quan, vừa phản
ánh thực tế lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam và nhân dân
yêu chuộng độc lập, tự do trên thế giới, vừa phù hợp với các văn bản chính trị
- pháp lý quốc tế. Điều đó cũng nói lên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
là: công dân thực sự được hưởng các quyền cơ bản của mình khi họ được
sống trong một nước độc lập, tự do, có chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh
thổ. Ngày nay, khi đất nước ta đã được tự do độc lập thì quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm hơn bao giờ hết. Đã có rất nhiều người có và
không có tôn giáo cho rằng, có lẽ chưa có thời kỳ nào mà hoạt động tôn giáo
ở nước ta lại được phát triển như ngày nay. Đó là việc tín đồ các tôn giáo gia
tăng, cơ sở thờ tự của các tôn giáo được sửa chữa, xây dựng mới rất khang
trang trên khắp mọi miền của Tổ quốc.
Thứ hai, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam luôn
được mở rộng, phát triển qua bốn bản Hiến pháp. Từ sau cách mạng Tháng
Tám năm 1945 đến nay, nước ta đã có bốn Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980
và 1992). Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, quyền tự do tín ngưỡng
của công dân đã được xác lập: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín
ngưỡng” (Điều 10) [20, tr. 8]. Đến Hiến pháp năm 1959, quyền tự do tín
ngưỡng đã được tách thành một điều riêng với nội dung được quy định rõ hơn
so với Hiến pháp năm 1946:“Công dân nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà có
các quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” (Điều
26) [20, tr. 35]. Hiến pháp năm 1980, tại Điều 68, ngoài quy định: “Công dân
có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” còn có
21
thêm nội dung “Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước” [20, tr. 90]. Hiến pháp năm 1992 bổ sung thêm 3
quy định mới là: “Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật”, “Những nơi
dân và có chủ trương, chính sách đúng đắn nhằm bảo đảm quyền đó; Nhà
nước ban hành pháp luật, chính sách cụ thể để thể chế hoá quan điểm, chủ
trương của Đảng, có thái độ kiên quyết xử lý những phần tử xấu lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo chống pháp cách mạng; đồng thời có những giải pháp khả
thi để giải quyết phù hợp những nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân
dân, như tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá IX và Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã xác định. Theo tinh
thần đó, bên cạnh việc xem xét giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp
của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi lợi
dụng tôn giáo làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức lối sống,
văn hoá của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc tôn giáo thực hiện nghĩa vụ
công dân, phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn kết toàn
dân, chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội
liên hiệp fhụ nữ, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam,… là
một bộ phận của hệ thống chính trị ở nước ta. Đây là tổ chức có vai trò quan
trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cho các tầng lớp nhân dân. Đây cũng là
lực lượng trực tiếp giáo dục tín đồ các tôn giáo chấp hành tốt các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều 7 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã
nêu rõ trách nhiệm của Mặt trận trong công tác tôn giáo đó là:
“1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: a. Tập hợp đồng bào có tín