Pháp luật thừa kế của việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 28

Ph¸p luËt thõa kÕ cña viÖt nam
nh÷ng vÊn ®Ò lý luËn vµ thùc tiÔn Hµ Néi 2009
2
16/4 Lời giới thiệu
Bộ luật Dân sự nói chung và chế định thừa kế nói riêng điều chỉnh
quan hệ tài sản ảnh hởng trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của
nớc ta trong sự hội nhập với nền kinh tế thế giới.

dân sự việt nam
I. Một số vấn đề Lý luận về thừa kế
1- Bản chất của thừa kế trong các xã hội có giai cấp
1.1. Giá trị nhân văn trong quan hệ thừa kế
Nghiên cứu việc điều chỉnh pháp luật về thừa kế có ý nghĩa quan trọng
trong việc tiếp cận quyền con ngời trong các chế độ xã hội khác nhau. Vấn
đề thừa kế đợc tiếp cận dới nhiều góc độ khác nhau nh xã hội học, triết
học, kinh tế và pháp lý sẽ thấy rõ bản chất của việc điều chỉnh pháp luật về
thừa kế.
Trong gia đình, quan hệ thừa kế gắn với quan hệ hôn nhân, huyết
thống và nuôi dỡng. Khi một thành viên trong gia đình chết, thì tài sản của
ngời chết chuyển cho ngời khác còn sống. Tài sản của ông, bà, cha, mẹ để
lại cho con cháu là công sức, mồ hôi, thậm chí có cả nớc mắt và những kinh
nghiệm quí báu trong lao động sản xuất và chiến thắng thiên nhiên để duy trì
sự sống, bởi vậy thừa kế không chỉ đơn thuần là việc chuyển dịch tài sản của
ngời quá cố cho ngời khác trong gia đình, mà còn chuyển dịch thành quả
lao động thể hiện giá trị vật chất và giá trị tinh thần của thế hệ trớc để lại cho
thế hệ sau thừa hởng để tiếp tục duy trì và phát triển kinh tế của cá nhân, gia
đình và dòng họ.
Quá trình phát triển của thừa kế gắn liền với sự phát triển của lịch sử
loài ngời. Thừa kế tài sản trong xã hội nguyên thuỷ là sự kế thừa mang tính
tự nhiên, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia đình, thị tộc và xã hội.
Trong xã hội nguyên thuỷ, do trình độ lao động thấp kém, cho nên
cuộc sống của ngời nguyên thuỷ hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Hoàn
cảnh đó bắt buộc họ phải liên kết với nhau trong lao động và trong đấu tranh
4
sinh tồn, vì vậy lợi ích của cá nhân đồng thời là của thị tộc, cho nên họ không


Trong thị tộc, quan hệ thừa kế thực hiện theo chế độ mẫu quyền và
đợc lu truyền đến các thế hệ sau theo tập quán của thị tộc. Mặc dù, trong xã
hội thị tộc có sự phát triển kinh tế-xã hội, việc quản lý, điều hành công việc
trong thị tộc, bộ lạc đã tiến bộ, công việc chính do những ngời bô lão, tộc
trởng, tù trởng có uy tín thực hiện. Tuy vậy, không ai đợc hởng nhiều hơn
ngời khác và không đợc vi phạm chế độ sở hữu chung của thị tộc. Trong thị
tộc, cuộc sống hằng ngày ngời ta quan hệ với nhau theo những phong tục, tập
quán đã tồn tại từ đời này qua đời khác, các thành viên của thị tộc cùng làm
cùng hởng, cùng chia sẽ buồn, vui... Vấn đề thừa kế tài sản cũng theo những
tập quán đó mà tồn tại.
Cùng với sự phát triển của lịch sử, tập quán thừa kế của xã hội nguyên
thuỷ đợc Nhà nớc chiếm hữu nô lệ thừa nhận để điều chỉnh quan hệ thừa kế
trong xã hội. Đây là hình thức đầu tiên của pháp luật-luật tục.
Pháp luật chiếm hữu nô lệ là kiểu pháp luật đầu tiên trong lịch sử, nó
đợc hình thành chậm chạp theo từng bớc trong thời gian dài, trên cơ sở thừa
nhận những qui phạm xã hội của xã hội nguyên thuỷ có lợi cho giai cấp chủ
nô để điều chỉnh lợi ích của giai cấp khác (luật tục). Các luật tục điển hình của
Nhà nớc chiếm hữu nô lệ La Mã cổ đại đợc ghi nhận trong Luật XII bảng,
trong đó có những luật tục về thừa kế. Tại điểm 5 Bảng IV qui định: Nếu
ngời chết không có ngời bảo trợ thì nền kinh tế (để lại sau khi ngời đó
chết) do những ngời thân quản lý .{78}. Trong xã hội La Mã, quyền gia
trởng thuộc về ngời đứng đầu gia đình, là ngời bảo trợ cho các thành viên
khác trong gia đình. Nếu một ngời chết mà không có ngời bảo trợ thì nền
kinh tế (ruộng đất, nô lệ...) của ngời đó do những ngời thân thích trong gia
đình quản lý, sử dụng.
Nh vậy, quan hệ thừa kế xuất hiện và phát triển cùng với sự xuất hiện
của chế độ mẫu quyền, ở đó ngời phụ nữ nắm toàn bộ quyền lực trong gia
đình. Toàn bộ tài sản của thị tộc thuộc sở hữu chung của thị tộc, nhng do
6

do chế độ sở hữu t nhân quyết định.
7
Khi xã hội phân chia thành giai cấp, giai cấp thống trị chiếm hữu hầu
hết t liệu sản xuất và đợc truyền lại cho con cháu, cho nên địa vị thống trị
đợc củng cố từ đời này sang đời khác, do đó việc thừa kế tài sản là sự chuyển
dịch công cụ, phơng tiện bóc lột của giai cấp thống trị cho cháu con nhằm
tiếp tục xác lập quyền lực chính trị, kinh tế đối với ngời lao động. Ngời lao
động làm thuê không có t liệu sản xuất, tài sản là thu nhập một phần do sức
lao động tạo ra.
Trong xã hội XHCN, chế độ sở hữu t nhân đợc thiệt lập đối với
những tài sản sản không phải là t liệu sản xuất chủ yếu nh đất đai, rừng núi,
hầm mỏ...cho nên thừa kế là việc chuyển dịch quyền sử dụng đất và thành quả
lao động ( vốn, t liệu sản xuất khác do lao động tạo ra, các quyền tài sản) của
ông bà, cha mẹ cho cháu, con.
Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài ngời, quan hệ thừa kế có
tính kế thừa và phát triển các giá trị vật chất và giá trị tinh thần của gia đình và
dòng tộc. Di sản thừa kế của gia đình đợc truyền từ đời này qua đời khác nh
nhà ở và của cải khác. Đây không những là thành quả lao động mà còn là di
sản văn hoá phi vật chất của thế hệ trớc để lại cho thế hệ sau, bởi vì nhà ở và
các công trình xây dựng của gia đình, dòng tộc là tài sản có giá trị lớn, mặt
khác còn là giá trị văn hoá đã tồn tại và phát triển qua các thời kỳ lịch sử. Các
giá trị tinh thần trong xây dựng đã thể hiện bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc
phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và phong tục tập quán của
cộng đồng dân c.
Trong các xã hội khác nhau, thừa kế tài sản là thừa hởng di sản của
ngời chết để lại. Di sản của ngời chết không những là tài sản mà còn các lợi
ích khác mà những ngời thừa kế đợc hởng và phải thực hiện nghĩa vụ của

dụng của di sản để thu hoa lợi, lợi tức, một phần dùng vào việc thờ cúng tổ
tiên, phần còn lại ngời quản lý di sản đó đợc hởng. Con cháu tiếp nhận di
sản của ông bà, là hởng thành quả lao động và tiếp nhận các nghĩa vụ bảo vệ
giữ gìn các truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ và cộng đồng.
Ngày nay, cơ chế thị trờng có ảnh hởng đến phong tục, tập quán của
9
nhân dân ta nhng truyền thống tốt đẹp "nhờng áo, xẻ cơm" vẫn đợc duy trì
và phát huy, các giá trị văn hoá ứng xử, văn hoá thờ cúng tổ tiên ngày càng
phát triển theo hớng tiến bộ, văn minh. Nh vậy, thừa kế không những
chuyển dịch tài sản từ ngời chết cho những ngời khác còn sống làm sở hữu,
mà còn chuyển tiếp và kế thừa các giá trị văn hoá đợc chắt lọc từ cuộc sống
để tạo nên các tài sản đó.
1.2. Bản chất của quyền thừa kế trong các chế độ xã hội khác nhau.
Trong xã hội có giai cấp, nhà nớc dùng pháp luật điều chỉnh quan hệ
thừa kế, vì vậy quan hệ thừa kế là đối tợng điều chỉnh của pháp luật. Nhà
nớc điều chỉnh quan hệ thừa kế để đạt mục tiêu nhất định, điều này phụ
thuộc vào các chế độ xã hội khác nhau. Việc điều chỉnh pháp luật các quan hệ
thừa kế, cho phép cá nhân thực hiện đợc quyền định đoạt tài sản của mình
ngay cả sau khi chết, vì vậy quyền thừa kế vừa mang tính chủ quan và tính
khách quan.
Quyền thừa kế với t cách là quyền chủ quan của cá nhân tức là quyền
của con ngời, quyền để lại tài sản của mình cho ngời khác hởng và quyền
đợc hởng di sản của ngời chết để lại.
Con ngời tham gia lao động sản xuất để làm ra của cải cho gia đình
và xã hội nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau. Tuy nhiên, nền kinh tế của
gia đình, dòng tộc có phát triển hay không phụ thuộc vào khả năng sản xuất,
kinh doanh của ngời thừa kế, vì thế ngời lập di chúc có quyền lựa chọn

từ quyền tự nhiên của con ngời và Bác coi các quyền này không ai có thể phủ
nhận đợc. Trong các quyền của con ngời, quyền bình đẳng giữa các dân tộc
đóng một vai trò quan trọng, vì nó là cơ sở để thực hiện các quyền chính trị,
dân sự, kinh tế. Để thực hiện quan điểm trên, Nhà nớc ta ghi nhận và bảo hộ
quyền con ngời trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980. Đặc biệt trong Hiến
pháp 1992, quyền con ngời đợc ghi nhận một cách đầy đủ tại Điều 50: ở
nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con ngời về chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội đợc tôn trọng, thể hiện ở các quyền công
dân và đợc qui định trong Hiến pháp và luật. [28, tr. 19].
11
Quyền thừa kế là quyền của con ngời trong một chế độ xã hội nhất
định, cho nên trong các xã hội khác nhau, Nhà nớc điều chỉnh quan hệ thừa
kế nhằm đạt những mục đích khác nhau.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, đất đai nằm trong tay giai cấp chủ nô,
những ngời nông dân hầu nh không có tài sản, vì vậy trong xã hội này thừa
kế tài sản nhằm củng cố chế độ t hữu tuyệt đối về đất đai của giai cấp thống
trị, cho nên ngời lao động đấu tranh để thay đổi phơng thức chiếm hữu tài
sản của giai cấp thống trị và khi giành đợc chính quyền, đất đai đợc phân
chia cho ngời lao động, từ đó làm thay đổi các quan hệ thừa kế. Quá trình
phát sinh, thay đổi quan hệ thừa kế có nguồn gốc sâu xa từ sự phát triển của
các quan hệ kinh tế, xã hội và cũng chính quan hệ này làm thay đổi các chế độ
khác nhau trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngời. Chính vì vậy, điều
chỉnh pháp luật các quan hệ thừa kế không ngừng phát triển theo hớng đảm
bảo quyền con ngời ngày một tốt hơn. Ph. Ăng-nghen cho rằng:
C. Mác là ngời đầu tiên đã phát hiện, tìm ra qui luật phát triển của lịch sử
loài ngời, nghĩa là tìm ra sự thật đơn giản...là trớc hết con ngời cần phải
ăn, uống, ở và mặc trớc khi có thể lo đến chuyện làm chính trị, khoa học,

Chế định dân sự của Bộ luật này qui định quyền sở hữu của vợ, chồng, các hợp
đồng dân sự nh: cho vay, mua bán, qui định về thừa kế theo di chúc, thừa kế
theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc chỉ đợc thực hiện khi các con trai mang
trọng tội, ngời bố đợc phép truất quyền thừa kế của con trai và di chúc cho
ngời khác hởng. Khi chia di sản các con đợc hởng kỷ phần ngang nhau.
Những qui định về thừa kế của Nhà nớc chiếm hữu nô lệ đợc phát triển và
hoàn thiện hơn trong Luật XII bảng và các đạo luật khác của Nhà nớc La Mã
cổ đại hay đợc gọi là Luật La Mã. Trong Luật La Mã, chế định thừa kế tơng
đối hoàn chỉnh. Mặc dù cấu trúc của chế định thừa kế không chia thành các
phần rõ ràng, tuy nhiên có các qui định chung và các qui định chia di sản theo
pháp luật, chia di sản theo di chúc.
ở các nhà nớc phong kiến và t bản, phần lớn t liệu sản xuất chủ
yếu thuộc về giai cấp thống trị, ngời lao động không có t liệu sản xuất phải
13
làm thuê cho địa chủ và các nhà t bản, vì vậy pháp luật về thừa kế thực chất
là bảo hộ quyền sở hữu t nhân của giai cấp thống trị đối với t liệu sản xuất
chủ yếu của xã hội.
Trong chế độ XHCN, t liệu sản xuất chủ yếu thuộc về nhân dân lao
động, nhà nớc bảo hộ thu nhập hợp pháp của cá nhân, gia đình từ các hệ
thống kinh tế khác nhau. Cá nhân có quyền sở hữu tài sản thì có quyền để lại
thừa kế cho ngời khác hởng. C. Mác và Ph. Ăng-nghen khẳng định trong
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản: "Chủ nghĩa cộng sản không tớc bỏ của ai
cái quyền chiếm hữu những sản phẩm của xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ
tớc bỏ quyền dùng sự chiếm hữu đó để bóc lột lao động của ngời khác".
[38].
Ngày nay, ở mỗi quốc gia, phụ thuộc vào chế độ chính trị, chế độ sở
hữu và phong tục, tập quán của nhân dân trong quốc gia đó, mỗi nhà nớc

chất chế độ xã hội quyết định.
Quyền thừa kế có thể tiếp cận dới góc độ pháp luật là chế định thừa
kế trong luật dân sự. Với ý nghĩa là một chế định pháp luật về thừa kế, quyền
thừa kế là tổng hợp các qui định của nhà nớc, qui định những tài sản nào
đợc chuyển dịch, phạm vi chủ thể để lại di sản và nhận di sản, quyền nghĩa
vụ của các chủ thể. Ngoài ra, pháp luật qui đinh trình tự, phơng thức phân
chia di sản theo di chúc và theo pháp luật...
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, pháp luật quy định cho giai cấp chủ nô
có quyền sở hữu tuyệt đối với tài sản của mình, trong đó nô lệ cũng trở thành
đối tợng của sở hữu. Vào thế kỷ thứ V trớc công nguyên, Nhà nớc La Mã
đã ban cho công dân những quyền lực xã hội tỷ lệ với tài sản của họ. Chủ nô
chiếm hữu toàn bộ đất đai và các t liệu sản xuất khác, giai cấp nô lệ và những
tầng lớp nông dân tự do không có t liệu sản xuất, cho nên phụ thuộc hoàn
toàn vào giai cấp chủ nô. Rõ ràng nhà nớc chiếm hữu nô lệ là nhà nớc của
giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này chống lại giai cấp không có tài
sản. Cho nên thừa kế là một công cụ pháp lý chuyển quyền lực chính trị, kinh
tế từ đời này sang đời khác. Ph. Ăngghen nhận xét:
15
Để duy trì và bảo vệ địa vị xã hội của giai cấp chủ nô, pháp luật điều
chỉnh việc thừa kế di sản của ngời chết, cho phép ngời chủ nô để lại t liệu
sản xuất của mình cho các con của họ theo di chúc. Việc áp dụng chế độ di
chúc khiến cho ngời có của có thể chi phối đợc tài sản của mình ngay cả
sau khi đã chết. [1, tr. 262].
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô không những để lại cho
con cháu t liệu sản xuất mà còn để lại quyền lực xã hội của mình, và quan hệ
thừa kế đợc dịch chuyển từ thế hệ này đến thế hệ kế tiếp, có nghĩa là quyền
lực xã hội đợc lu truyền từ đời này sang đời khác. Quyền lực xã hội này

xã hội, mà cơ cấu đó dựa sự chiếm hữu t nhân về t liệu sản xuất, khi quyền
thừa kế bị tiêu diệt sẽ là hậu quả tất yếu dẫn đến việc thay đổi chế độ xã hội, mà
chế độ đó sẽ thủ tiêu sở hữu t nhân đối với t liệu sản xuất. [74 tr. 336].
Chính từ quan điểm về thừa kế nh trên, cho nên trong Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản C. Mác và Ph. Ăng-nghen đã chỉ cho giai cấp vô sản thấy
rằng cuộc cách mạng của giai cấp vô sản muốn xoá bỏ chế độ t bản chủ
nghĩa, tiêu diệt hoàn toàn giai cấp bóc lột thì phải dùng chuyên chính tớc
đoạt quyền sở hữu và quan hệ sản xuất t bản. Ngoài ra có thể áp dụng một số
biện pháp kinh tế khác là thủ đoạn không thể thiếu để đảm bảo đảo lộn toàn
bộ phơng thức sản xuất.
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã chỉ cho cuộc cách mạng
XHCN ở những nớc có điều kiện kinh tế-xã hội khác nhau thì những biện
pháp, cách thực hiện khác nhau. Nhng đối với những nớc tiên tiến nhất thì
những biện pháp sau đây có thể áp dụng khá phổ biến:
1- Tớc đoạt sở hữu ruộng đất và bỏ địa tô vào quỹ chi tiêu của Nhà nớc;
2- Đánh thuế theo mức độ lũy tiến thật cao;
3- Xóa bỏ quyền thừa kế. [38, tr. 78].
Nh vậy, ở một nớc t bản chủ nghĩa nào đó mà quyền thừa kế của cá
nhân về t liệu sản xuất bị xóa bỏ, thì quyền sở hữu về t liệu sản xuất cũng bị
triệt tiêu và chế độ xã hội sẽ thay đổi từ chế độ xã hội dựa trên t hữu chuyển
sang chế độ xã hội dựa trên công hữu về t liệu sản xuất. Trong chế độ này
17
loại trừ đợc yếu tố ngời này bóc lột sức lao động của ngời khác, đó là xã
hội XHCN mà bản chất của xã hội là đảm bảo quyền lợi cho đa số ngời lao
động không ngừng đợc nâng cao, dần dần đáp ứng đợc đầy đủ các nhu cầu
của ngời lao động.
Cuộc cách mạng XHCN ở Liên Xô và các nớc XHCN khác của giai

Nh vậy, mỗi nhà nớc điều chỉnh quan hệ thừa kế theo phơng pháp
khác nhau phụ thuộc vào lập trờng, quan điểm của giai cấp thống trị và bản
chất của nhà nớc. Để điều chỉnh quan hệ thừa kế đạt hiệu quả, nhà nớc ban
hành hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ điều chỉnh quan hệ tài sản trong đó
có quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế.
Tiếp cận vấn đề thừa kế dới nhiều góc độ khác nhau thấy đợc bản
chất của thừa kế trong các chế độ xã hội khác nhau. Tuy nhiên, trong các xã
hội đều có điểm chung là nhà nớc phải thừa nhận và bảo hộ quyền thừa kế
của cá nhân với t cách là quyền của con ngời.
2. Quá trình phát triển kinh tế-xã hội và nhu cầu, mục tiêu điều
chỉnh pháp luật các quan hệ thừa kế
Trong cuộc sống, pháp luật đóng một vai trò quan trọng, hớng dẫn
các chủ thể thực hiện hành vi xử sự và đảm bảo cho lợi ích cá nhân đợc thực
hiện phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Mặt khác, pháp luật là phơng tiện
điều hành và quản lý xã hội, cho nên nhà nớc dùng pháp luật quản lý xã hội
nhằm đạt đợc mục đích đặt ra.
Trong hệ thống pháp luật, mỗi ngành luật có đối tợng và phơng pháp
điều chỉnh phù hợp nhằm hớng tới mục tiêu nhất định. Đối với ngành luật
dân sự, mục tiêu chính là điều chỉnh các quan hệ tài sản nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế-xã hội và tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của
nhân dân. Để thực hiện mục tiêu đó, chế định thừa kế đóng vai trò quan trọng
trong việc điều chỉnh chuyển dịch t liệu sản xuất, thành quả lao động và các
giá trị văn hoá của thế hệ trớc cho thế hệ sau.
Phát triển kinh tế và xã hội là sự phát triển có tính toàn diện, bền vững.
Quá trình phát triển đó có sự tác động qua lại giữa hai mặt, kinh tế và xã hội.
19
Sự phát triển của kinh tế làm thay đổi các quan hệ xã hội. Kinh tế phát triển


toàn dân. Nhà nớc khuyến khích cá nhân đầu t trí tuệ, công sức, tài sản và
vốn để sản xuất kinh doanh dới các hình thức pháp luật cho phép. Tài sản của
cá nhân đợc pháp luật bảo hộ, cá nhân có quyền để lại thừa kế tài sản của
mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.
ở Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp, hình thức sở hữu t nhân không
đợc phát triển. Trong trờng hợp đợc phép lao động riêng lẻ (hộ cá thể), thì
cá nhân có quyền sở hữu t liệu sản xuất nhỏ phục vụ kinh tế gia đình, pháp
luật cho phép cá nhân để lại thừa kế những t liệu sản xuất đó (Điều 27 Hiến
pháp 1980). T liệu sản xuất chủ yếu là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, cá nhân
không có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất. Khi kinh tế thị trờng hình
thành, để khuyến khích cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp an tâm đầu
t phát triển sản xuất, nhà nớc cho phép cá nhân, các chủ thể khác có quyền
sử dụng đất và đợc phép chuyển quyền sử dụng đất, trong đó có quyền để lại
thừa kế và nhận thừa kế là quyền sử dụng đất để các thế hệ con cháu tiếp tục
sản xuất kinh doanh, làm giầu cho mình, cho gia đình và cho xã hội.
Quá trình phát triển kinh tế-xã hội gắn liền với sự phát triển của các
quan hệ sở hữu. Trong các chế độ xã hội khác nhau thì nhu cầu điều chỉnh các
quan hệ sở hữu khác nhau. Tuy nhiên, quan hệ sở hữu là tiền đề của quan hệ
thừa kế, do vậy pháp luật phải điều chỉnh quan hệ thừa kế và quan hệ sở hữu
phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc.
Quan hệ dân sự chủ yếu là các quan hệ tài sản, mỗi chế định dân sự
điều một nhóm quan hệ tài sản với những đặc trng riêng, vì thế mỗi chế định
dân sự có vai trò khác nhau trong việc điều chỉnh các quan hệ tài sản đó.
Chế định thừa kế điều chỉnh quan hệ tài sản liên quan đến quá trình
phát triển kinh tế-xã hội và thoả mãn các nhu cầu của cá nhân và đóng vai trò
quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sở hữu t nhân tồn tại và phát triển.
Trong các xã hội, sở hữu t nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản
của họ. Tuy nhiên, tuỳ từng chế độ xã hội khác nhau dẫn đến cơ cấu tài sản
21

tộc.
22
ở nớc ta, Nhà nớc luôn tôn trọng và tạo điều kiện để nhân dân giữ
gìn bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc. Các
đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc đợc ghi nhận trong các văn kiện
của Đảng và trong Hiến pháp và pháp luật. Điều 8 BLDS qui định: Việc xác
lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc,
tôn trọng và phát huy phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp....
Trong quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thừa kế nói riêng, các giá
trị văn hoá và truyền thống uống nớc nhớ nguồn của nhân dân ta nh phong
tục thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên gắn liền với việc thừa kế tài sản. Việc thờ
cúng đợc thực hiện theo ý chí của ngời để lại thừa kế hoặc do những ngời
thừa kế thoả thuận. Đây không những là phong tục, tập quán còn là bản sắc
văn hoá của dân tộc cần đợc giữ gìn và lu truyền cho thế hệ sau. Trong
BLDS, Điều 670 BLDS qui định: Trong trờng hợp ngời lập di chúc để lại
một phần di sản dùng vào việc thờ cúng, phần di sản đó không đợc chia thừa
kế và giao cho ngời đợc chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện nghĩa
vụ thờ cúng.... Trờng hợp, ngời lập di chúc dành một phần di sản là nhà ở,
quyền sử dụng đất làm thờ cúng, thì ngời quản lý di sản khai thác tài sản,
hởng hoa lợi, lợi tức, một phần dùng làm thờ cúng, phần khác chi dùng cho
bản thân. Nếu ngời thực hiện nghĩa vụ thờ cúng không có điều kiện quản lý
di sản thì giao cho ngời thừa kế khác tiếp tục quản lý và thực hiện việc thờ
cúng.
Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế thế giới có tính toàn cầu hoá, thì
sự hình thành và phát triển của các quan hệ tài sản, sự giao thoa giữa các nền
văn hoá mang tính tất nhiên, vì vậy pháp luật về thừa kế có vai trò tạo ra môi
trờng ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ kinh tế của các nhà đầu t

Quyền thừa kế của ngời nớc ngoài đợc qui định tại Điều 767 BLDS
-Thừa kế theo pháp luật có yếu tố nớc ngoài:
1.Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nớc mà ngời
để lại thừa kế có quốc tịch trớc khi chết.
2. Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của
24
nớc nơi có bất động sản.
Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân,
quan hệ tài sản gồm: quan hệ sở hữu, hợp đồng, bồi thờng thiệt hại, thừa kế.
Các quan hệ tài sản đợc hình thành trong quá trình sản xuất lu thông hàng
hoá và trong giao lu dân sự. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ này nhằm đạt
đợc hai mục tiêu chính: thứ nhất, là phát triển kinh tế-xã hội. Sản xuất kinh
doanh là một quá trình tạo ra và tiêu thụ hàng hoá với mục đích phục vụ các
nhu cầu của con ngời, cho nên nhu cầu của cá nhân tăng thì sản xuất phát
triển. Thứ hai, điều chỉnh các quan hệ tài sản để thoả mãn các nhu cầu vật chất
và tinh thần của cá nhân. Thông qua các giao lu dân sự, cá nhân đáp ứng
đợc các nhu cầu đó phù hợp với điều kiện, khả năng thực tế của mỗi ngời.
Để làm rõ đợc các mục tiêu trên, cần phải xem xét mối quan hệ tơng
tác của chế định thừa kế và các chế định dân sự khác trong việc điều chỉnh các
quan hệ tài sản thuộc đối tợng điều chỉnh của luật dân sự.
Trong giao lu dân sự, các quan hệ tài sản có mối liên hệ và ảnh hởng
lẫn nhau, cho nên hệ thống qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ đó có
sự tác động qua lại. Trong hệ thống pháp luật dân sự, các chế định có vai trò vị
trí khác nhau nhng có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Đối với các chế định dân sự, chế định sở hũ và chế định thừa kế có
ảnh hởng trực tiếp đến các chế định khác. Chế định thừa kế điều chỉnh các
quan hệ đợc phát sinh từ các quan hệ dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của

quyền sử dụng đất 20 năm, họ đã đầu t vào xây dựng nhà máy và hạ tầng cơ
sở, nhà máy hoạt động đựợc 3 năm thì ngời thuê chết. Trờng hợp này, quyền
tiếp tục sản xuất kinh doanh đợc chuyển cho ngời thừa kế đến hết thời hạn
thuê đất...
Đối với bên có nghĩa vụ trong hợp đồng, đang thực hiện hợp đồng mà
chết, thì ngời thừa kế nhận di sản, phải thực hiện nghĩa vụ tơng ứng với
phần di sản đợc hởng.
Trong trách nhiệm ngoài hợp đồng, hành vi gây thiệt hại xâm phạm
đến tài sản, sức khoẻ, tính mạng của ngời bị thiệt hại thì buộc ngời gây thiệt

Trích đoạn Hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng Di sản dùng vào việc thờ cúng Thừa kế thế vị Đối với các qui định chung về thừa kế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status