BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐẶNG HẢI PHONG
MỞ RỘNG TÍN DỤNG CHO VAY
HỘ SẢN XUẤT, KINH DOANH CÀ PHÊ
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG TMCP
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐẶNG HẢI PHONG
MỞ RỘNG TÍN DỤNG CHO VAY
HỘ SẢN XUẤT, KINH DOANH CÀ PHÊ
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG TMCP
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẮK LẮK
Chuyênngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hiệp
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chi nhánh
Ngân hàng
Khách hàng
Hội sở chính
KHCN
Phòng giao dịch
Sản phẩm
Dịch vụ
Cán bộ nhân viên
Quan hệ Khách hàng
Ngân hàng bán lẻ
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.............................................................4
MỤC LỤC........................................................................................................5
DANH MỤC CÁC BẢNG.............................................................................6
DANH MỤC CÁC HÌNH...............................................................................7
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
CHƯƠNG 1....................................................................................................10
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG...........................................10
TÍN DỤNG CHO VAY..................................................................................10
CHƯƠNG 2....................................................................................................37
THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNGCHO VAY HỘ SẢN XUẤT,
KINH DOANHCÀ PHÊ TẠI BIDV ĐẮK LẮK.........................................37
CHƯƠNG 3....................................................................................................58
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT, KINH
DOANH CÀ PHÊ TẠI BIDV ĐẮK LẮK....................................................58
40
43
45
2010 – 2013
Tỷ trọng dư nợ cho vay các hộ sản xuất kinh doanh cà phê
so với tổng dư nợ bán lẻ của ngân hàng qua các năm
Mạng lưới của BIDV Đắk Lắk
Dung lượng thị trường và khả năng phát triển cho vay
Tình hình huy động vốn và dư nợ tín dụng của một số
Ngân hàng trên địa bàn
Thị phần hoạt động của một số Ngân hàng trên địa bàn
Tỷ trọng, quy mô của các hộ sản xuất kinh doanh cà phê tại
tỉnh Đắk Lắk
Nghiên cứu và đánh giá thị trường
Hiện trạng cho vay đáp ứng nhu cầu hộ dân
Chấm điểm các lợi thế của BIDV Đắk Lắk theo từng tiêu
chí
45
47
51
60
64
64
67
69
69
71
45
46
47
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá, ngay từ khi ra đời đã
có vai trò hết sức to lớn thúc đẩy phát triển kinh tế, là huyết mạch của nền
kinh tế. Ngân hàng chính là nơi tích tụ, tập trung và thu hút mọi tiềm năng
phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, có tác dụng khuyến khích, hỗ trợ sự
ra đời và phát triển của các khu vực kinh tế trong xã hội. Hoạt động tín dụng
của ngân hàng hỗ trợ cho các khu vực kinh tế có điều kiện mở rộng sản xuất,
cải tiến máy móc thiết bị công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu
quả kinh tế, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho mọi tầng lớp trong xã
hội. Hoạt động tín dụng đối với tất cả các thành phần kinh tế, trong đó đặc
biệt việc cung cấp tín dụng cho các cá nhân, hộ gia đình phục vụ cho việc sản
xuất kinh doanh (đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn) đóng góp
quan trọng vào sự phát triển kinh tế chung của xã hội. Song trên thực tế, các
đối tượng KH này vẫn còn khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng
ngân hàng. Quy mô tín dụng cá nhân, hộ gia đình mới chiếm một phần rất nhỏ
bé trong tổng dư nợ của ngân hàng chưa tương xứng với thị trường tín dụng
bán lẻ tiềm năng hiện nay tại Việt Nam. Trong khi đây là đối tượng KH mà rủi
ro tín dụng thấp, ổn định và bền vững hơn so với các lĩnh vực kinh tế khác.
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Đắk Lắk là CN trực
thuộc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, CN hoạt động kinh
doanh chủ yếu trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột và các xã, huyện lân
cận trong phạm vi bán kính 40 km đối với cho vay hộ sản xuất, kinh doanh cà
- Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tín dụng bán lẻ nói chung và cụ thể
là hoạt động cho vay hộ sản xuất, kinh doanh cà phê tại BIDV Đắk Lắk.
- Phạm vi nghiên cứu :
3
+ Về không gian: Nghiên cứu trong địa bàn hoạt động của BIDV Đắk
Lắk.
+ Về thời gian : Nghiên cứu thực trạng kết quả hoạt động từ năm 2010
đến năm 2013, môi trường kinh doanh trong thời gian tới, nhằm đề xuất các
giải pháp ngắn và trung hạn.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Các nguồn thông tin: Sử dụng các số liệu theo thời gian (2010 - 2013)
và theo không gian (các ngân hàng trên địa bàn), số liệu từ các báo cáo quyết
toán năm, báo cáo kết quả kinh doanh của CN, các số liệu trên dữ liệu thô của
BIDV Đắk Lắk, số liệu tổng hợp từ báo cáo thống kê của Ngân hàng Nhà
nước tỉnh Đắk Lắk; Website, tài liệu liên quan.
- Các phương pháp thu thập dữ liệu: phương pháp chọn mẫu, điều tra
phỏng vấn và khảo sát (phỏng vấn ban lãnh đạo BIDV Đắk Lắk, phỏng vấn
KH) …
- Phương pháp phân tích số liệu: Phương pháp phân tích số liệu áp
dụng trong đề tài này bao gồm việc xác định các chỉ tiêu chủ yếu để so sánh,
phân tích và xác định các phương pháp phân tích như:
+ Phương pháp so sánh: so sánh số liệu theo thời gian.
+ Phương pháp thống kê tổng hợp số liệu theo thời gian, phân tích các
nguyên nhân .
+ Phương pháp phân tích tỷ trọng, số tuyệt đối, số tương đối.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận cơ bản về hoạt động tín
Chính phủ về Giao dịch bảo đảm có các hình thức sau:
+ Bảo đảm tiền vay bằng tài sản: có ba hình thức
Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của KH vay
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
5
+ Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
- Theo khảo sát về ngành ngân hàng của công ty KPMG:
+ Dư nợ cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm gần một nửa
tổng dư nợ cho vay KH của 33 ngân hàng Việt Nam.
+ Gần 25% tổng dư nợ cho vay được dành cho ngành sản xuất và kinh
doanh.
+ Hơn 60% tổng dư nợ cho vay là khoản vay có kỳ hạn dưới 1 năm.
+ KHCN chiếm gần 30% dư nợ cho vay và các doanh nghiệp quốc dân
chiếm 16%.
- Trung tâm Thương mại Quốc tế UNCTAD/WTO (ITC) và Cục Xúc
tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) đánh giá cà phê nằm trong nhóm
ngành hàng xuất khẩu có tiềm năng cao, và là một trong những ngành hàng
xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đánh giá tiềm năng xuất khẩu này chỉ
dựa trên tình hình xuất khẩu hiện tại của Việt Nam và môi trường quốc tế. Cà
phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng nhất của Việt
Nam. Ngành cà phê Việt Nam chủ yếu hướng tới xuất khẩu, với lượng xuất
khẩu chiếm 95% sản lượng sản xuất. Sản xuất cà phê - chủ yếu bao gồm
chủng loại cà phê Robusta – đã tăng lên nhanh chóng kể từ cuối những năm
1980, và sau một thời gian ngắn, Việt Nam đã trở thành một trong những
nước xuất khẩu chính mặt hàng này trên thế giới. Việt Nam có khả năng cạnh
tranh cao nhờ điều kiện môi trường và khí hậu ưu đãi, chi phí sản xuất thấp,
với mức sống còn thấp.
+ Tây Nguyên là một trong những Tỉnh có điều kiện tự nhiên có nhiều
biến đổi nhất.
+ Tây Nguyên có dân số khoảng 5.282.000 người, dân số đô thị chiếm
khoảng 23%, địa bàn Tây Nguyên có hơn 44 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh
chiếm khoảng 70%.
7
+ Tây Nguyên là nơi chứa đựng nhiều nét văn hoá truyền thống, những
phong tục, tập quán, lễ hội...
- Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ, định
nghĩa: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm
người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm,
sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh (Điều 36, khoản
1).
- Theo quy định tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của
Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày
8/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập
cá nhân thì từ ngày 1/1/2009 sẽ bãi bỏ thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng
đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh và chỉ thu thuế thu nhập cá nhân.
Trường hợp trong một hộ gia đình có nhiều người cùng tham gia kinh doanh
nhưng chỉ có một người đứng tên trong đăng ký kinh doanh thì người đứng
tên trong đăng ký kinh doanh là đối tượng nộp thuế.
- Tác giả Nguyễn Minh Kiều (2008), Hướng dẫn thực hành tín dụng và
thẩm định tín dụng NHTM, Nhà xuất bản thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội, đã trình bày những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của NHTM,
nghiệp vụ cho vay KH chuyên nghiệp, phân tích tín dụng và quyết định cho
kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và
quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế
hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường –
thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài
chính không thể thiếu được.
Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện
toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy
định khác của pháp luật. (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ
chức và hoạt động của NHTM)
Theo luật Ngân hàng nhà nước:
Hoạt động NH là hoạt động kinh doanh tiền tệ và DV NH với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung
ứng DV thanh toán.
Như vậy NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc
nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn
tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có
thể cho vay phát triển kinh tế.
Từ đó có thể nói bản chất của NHTM được thể hiện qua các điểm sau:
11
– NHTM là một tổ chức kinh tế
– NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và DV
NH.
NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và DV tài
chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, DV thanh toán – và thực hiện nhiều
chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức trung gian tài chính nào
trong nền kinh tế. Bao gồm NH bán lẻ và NH bán buôn.
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và
phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù
của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của
NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng
trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số
tiền cho vay ra lại được KH sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán DV trong
khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của KH vẫn được coi là một bộ
phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán DV…
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán
trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. NHTM tạo
tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng
đối với NHTM, do vậy ngân hàng Trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng
cung tiền vào nền kinh tế lớn.
1.1.3. Khái niệm tín dụng NHTM
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín
dụng với các chủ thể trong nền kinh tế. Đối tượng của tín dụng ngân hàng là
vốn tiền tệ.
Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng với bên đi vay
(là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế trong đó Ngân hàng chuyển
13
giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả
thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi
cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh trong lĩnh
vực tiền tệ nên tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng chủ yếu là dưới
- Theo Từ điển Ngân hàng và Tin học (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia –
1996) thì “Retail banking – hoạt động NH bán lẻ/nghiệp vụ NH bán lẻ/DV
NH bán lẻ - là DV NH dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm
các DV tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán,
nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân”.
Tại Hội thảo khoa học: “Phát triển DV NH bán lẻ của các NHTM Việt
Nam” đã đưa ra một số khái niệm như DV NH bán lẻ là những DV cung ứng
tiện ích cũng như tín dụng ngân hàng đến tận tay người tiêu dùng (chủ yếu là
tiêu dùng cho sinh hoạt). Đối tượng KH của DV NHBL vô cùng lớn gồm
công dân, cùng những DV NH phi tín dụng. DV NHBL là thước đo nền văn
minh NH của mỗi quốc gia - trực tiếp làm biến đổi từ một nền kinh tế tiền mặt
sang một nền kinh tế phi tiền mặt. Vấn đề của DV NHBL là quy mô và chất
lượng của hệ thống kênh phân phối. Vì vậy phát triển DV NHBL thực chất là
phát triển các tiện ích NH trên nền công nghệ hiện đại và mạng lưới kênh
phân phối đến tận tay người tiêu dùng, làm cho NHTM trở thành NH của mọi
nhà và mọi nhu cầu thanh toán, chuyển tiền qua hệ thống kênh phân phối của
NH.
- Theo các chuyên gia kinh tế của BIDV thì : “Hoạt động NH bán lẻ là
những hoạt động giao dịch của NH với KH là những cá nhân và hộ cá thể ”.
Kết hợp những quan điểm trên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài này,
khái niệm “tín dụng bán lẻ” được hiểu là “Việc cấp tín dụng (bằng các nghiệp
vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác) đối với các đối tượng
15
KH là cá nhân (Việt Nam và cá nhân nước ngoài), hộ gia đình vay vốn nhằm
đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, DV, đầu tư và đời sống.
“SP tín dụng bán lẻ” là các quy định, hướng dẫn cụ thể về cho vay đối
với từng loại SP tín dụng, đối với từng đối tượng KHCN, hộ gia đình và từng
Cho vay kinh doanh chứng khoán: là SP cho nhà đầu tư vay bằng đồng
Việt Nam để kinh doanh chứng khoán và ứng trước tiền bán chứng khoán đã
được khớp lệnh công ty chứng khoán.
Cho vay tiêu dung cá nhân: là SP nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của
người tiêu dùng, đây là nguồn tài chính quan trọng để trang trải các nhu cầu
sinh hoạt gia đình, mua sắm đồ dùng, chi tiêu cho y tế, giáo dục, du lịch,…
Cho vay du học: là SP nhằm cung cấp tài chính để hỗ trợ các du học
sinh tham dự các khoá đại học, sau đại học ở nước ngoài.
Cho vay học phí: thông thường là SP cho vay tín chấp dưới hình thức trả
định kỳ nhằm hỗ trợ người vay có đủ khả năng chi trả học phí khi bản thân
người vay hoặc thân nhân của người vay theo học các khóa học tại Việt Nam.
Cho vay mua nhà/ đất để ở: là SP dành cho các KHCN vay vốn để thực
hiện việc xây, mua, sửa nhà, chuyển quyền thuê lại nhà của Nhà nước, chuyển
quyền sử dụng đất…
Cho vay mua ô tô: KH vay vốn để có thể sở hữu và sử dụng một chiếc
ôtô mới, đẹp, hiện đại phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc kinh doanh.
Ngoài ra, còn có các SP mang lại rất nhiều lợi ích cho KH như: Cầm cố
giấy tờ có giá, chiết khấu giấy tờ có giá, thấu chi tài khoản tiền gửi…
1.2.2. Mở rộng tín dụng cho vay
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, bất cứ một doanh
nghiệp nào muốn đứng vững và phát triển trong hoạt động sản xuất - kinh
doanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng và cải thiện chất
lượng SP, DV của mình nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu đặt ra của nền kinh tế.
17
Các doanh nghiệp luôn tự đổi mới về mọi mặt như thay đổi mẫu mã SP, công
nghệ, đảm bảo chất lượng để tạo lòng tin cho KH.
Đối với ngân hàng cũng vậy, muốn giành được thị phần lớn, giữ vững và
cho vay hiện đại sẽ tạo điều kiện tìm hiểu chính xác các nguyên nhân, vướng
mắc về tín dụng cho vay. Từ đó giúp ngân hàng lựa chọn được các phương
pháp thích hợp để thực hiện mở rộng tín dụng cho vay phù hợp nhu cầu của
các đối tượng khách hàng.
1.2.3. Các phương thức mở rộng tín dụng cho vay
a. Mở rộng theo SP DV tín dụng
- Phát triển nhiều SP tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu đa dạng của
KHCN:
Vì nhu cầu của KH ngày càng đa dạng và khắt khe hơn nên các ngân
hàng cũng phải không ngừng cải tiến, phát triển SP của mình cũng như không
ngừng tăng cường khả năng cung cấp cho KH những DV tốt nhất, đặc biệt là
xu hướng liên kết những SP thành những “gói hàng” đa dạng và tiện lợi.
Từ những năm 1990, hệ thống ngân hàng hiện đại của các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển đã hoạt động với các DV ngân hàng đa năng, đáp
ứng nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. Có những ngân hàng lớn với
hàng trăm SP cho vay khác nhau. Vậy xu thế tất yếu về đa dạng hóa SP, DV
của NHTM là phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế xã hội từng quốc gia
cũng như trên phạm vi toàn cầu. Mặt khác, bản thân các NHTM với mục tiêu
kinh doanh xuyên suốt là thu được nhiều lợi nhuận thì lẽ đương nhiên là phải
phát triển mở rộng các SP, tiện ích để vừa có thu nhập, vừa tránh rủi ro trong
kinh doanh.
- Mở rộng tín dụng cho vay kết hợp linh hoạt giữa thời gian cho vay,
phương thức hoàn trả, mức độ đảm bảo theo đặc trưng của từng SP tín dụng
cho vay :